Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Nhuệ có tổng diện tích tự nhiên 1.070 km² và chiều dài toàn tuyến 76 km, trong đó đoạn chảy qua địa phận thành phố Hà Nội dài 59,2 km với hệ số uốn khúc 1,53. Đây là trục tiêu thoát nước mặt trọng yếu tiếp nhận trung bình hơn 467.656 m³ nước thải sinh hoạt mỗi ngày đêm cùng hàng chục nghìn mét khối nước thải công nghiệp và làng nghề. Sự gia tăng dân số đô thị nhanh chóng với quy mô dân số lưu vực vượt 7,2 triệu người đã tạo ra áp lực tải lượng chất thải khổng lồ, khiến nguồn nước sông Nhuệ suy thoái nghiêm trọng và làm giảm tới 71% chất lượng nước mặt tự nhiên. Nồng độ các chất ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng như nhu cầu oxy sinh hóa, amôni và vi khuẩn coliform liên tục vượt nhiều lần Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là ứng dụng mô hình toán thủy lực và chất lượng nước một chiều MIKE 11 để đánh giá định lượng hiện trạng diễn biến ô nhiễm, mô phỏng quá trình lan truyền và chuyển hóa các chất ô nhiễm chính theo không gian và thời gian trên đoạn sông Nhuệ chảy qua Hà Nội. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát tuyến sông từ cống lấy nước Liên Mạc đến điểm giáp ranh tỉnh Hà Nam, dựa trên chuỗi số liệu thủy văn và chất lượng nước thực đo giai đoạn 2010 – 2012 kết hợp xây dựng kịch bản dự báo tải lượng xả thải đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong công tác quản lý tài nguyên nước và bảo vệ môi trường lưu vực. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học chính xác để kiểm soát các nguồn xả thải trọng điểm, hỗ trợ các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng kế hoạch hành động giảm thiểu từ 30% đến 50% tải lượng ô nhiễm vượt chuẩn, hướng tới mục tiêu phục hồi hệ sinh thái thủy vực sông Nhuệ – Đáy.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa cơ học chất lỏng thủy lực và động học chất lượng nước sông ngòi, bao gồm hai lý thuyết nền tảng chính:

Thứ nhất, hệ phương trình Saint-Venant một chiều mô tả dòng chảy không ổn định biến đổi chậm trong lòng dẫn hở, bao gồm phương trình liên tục bảo toàn khối lượng và phương trình động lượng bảo toàn động năng có tính đến lực ma sát lòng dẫn thông qua hệ số nhám Manning và công thức Chezy.

Thứ hai, phương trình lan truyền và khuếch tán một chiều dựa trên định luật khuếch tán Fick, tích hợp động học các quá trình phản ứng sinh hóa vi sinh vật bậc một. Khung lý thuyết này mô phỏng chi tiết chu trình chuyển hóa oxy hòa tan thông qua mô hình suy giảm oxy Streeter-Phelps, chu trình biến đổi hợp chất nitơ gồm các pha amôn hóa, nitrat hóa, phản nitrat hóa và hàm ảnh hưởng nhiệt độ Arrhenius đối với tốc độ phân hủy chất hữu cơ.

Các khái niệm chuyên ngành cốt lõi được định lượng trong mô hình gồm: Nhu cầu oxy sinh hóa năm ngày (BOD5), Oxy hòa tan (DO), nồng độ Amôni (NH4+), Nitrat (NO3-), hệ số tiêu thụ oxy K1 (khoảng 0,1 đến 0,3 ngày⁻¹) và hệ số tái hòa tan oxy khí quyển K2.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu đa ngành phong phú được thu thập từ Tổng cục Môi trường và Viện Quy hoạch Thủy lợi, bao gồm tài liệu trắc dọc, trắc ngang của 6 hệ thống sông chính (sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tích, sông Châu Giang, sông Hoàng Long, sông Đào) với hơn 60 mặt cắt địa hình thực tế. Nguồn dữ liệu thủy văn bao gồm chuỗi đo lưu lượng và mực nước theo giờ tại 4 trạm thủy văn chủ lực gồm Ba Thá, Phủ Lý, Bến Đế và Gián Khẩu trong các năm 2010 và 2012.

Cỡ mẫu khảo sát chất lượng nước mặt bao trùm toàn bộ 9 tiểu vùng tiêu thoát nước chính của lưu vực sông Nhuệ (từ LV1 đến LV9) với hàng trăm mẫu phân tích định kỳ trong các tháng mùa khô (tháng 3 và tháng 5 năm 2012). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng không gian dọc theo trục sông chính kết hợp lấy mẫu đại diện tại các điểm nhập lưu xả thải lớn như cống Liên Mạc, cống Thanh Liệt và cống Hòa Bình.

Phương pháp phân tích trọng tâm là mô hình hóa mô phỏng số thông qua phần mềm chuyên dụng MIKE 11 (tích hợp các mô đun HD, AD và WQ cấp độ 3 - 4) phát triển bởi Viện Thủy lực Đan Mạch. Phương pháp giải số sử dụng sơ đồ sai phân ẩn 6 điểm Abbott-Ionescu kết hợp thuật toán quét kép Double-Sweep và phương pháp Runge-Kutta bậc 5 có kiểm soát sai số (RKQC). Lý do lựa chọn phương pháp này là khả năng mô phỏng ổn định hệ thống mạng sông phức tạp có nhiều công trình điều tiết, cho phép giải bài toán thủy lực phi tuyến và biến đổi chất lượng nước với hệ số ổn định Courant từ 10 đến 20, hạn chế tối đa hiện tượng khuếch tán số.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã định lượng và chỉ ra bốn phát hiện quan trọng về hiện trạng chất lượng nước và cơ chế lan truyền ô nhiễm trên dòng sông:

Thứ nhất, nước thải sinh hoạt đô thị chiếm tỷ trọng áp đảo với 60% tổng lượng nước thải trên toàn lưu vực, phát sinh lưu lượng lên tới 467.656 m³/ngày. Trong đó, tiểu vùng nội thành Hà Nội (LV2) là tâm điểm ô nhiễm lớn nhất khi đóng góp tới 118.340 kg BOD5/ngày (chiếm hơn 53,2% tổng tải lượng BOD5 sinh hoạt toàn lưu vực), 14.200,8 kg NH4+/ngày và 1.183,4 kg NO3-/ngày.

Thứ hai, nước thải công nghiệp và làng nghề tạo nên các điểm nóng ô nhiễm cục bộ với mức độ tập trung rất cao. Tổng diện tích 7 khu công nghiệp tập trung trên lưu vực đạt 1.275,3 ha (tiêu biểu như Bắc Thường Tín 470 ha, Phụng Hiệp 170 ha, An Khánh 155 ha, Đồng Văn 210 ha), kết hợp với hơn 267 làng nghề truyền thống và 322 cơ sở sản xuất kinh doanh chưa qua xử lý đồng bộ, xả thẳng hàng chục nghìn mét khối nước thải chứa chất hữu cơ và hóa chất độc hại vào sông.

Thứ ba, sự phân hóa chất lượng nước theo không gian diễn ra vô cùng gay gắt. Đoạn đầu nguồn sau cống Liên Mạc có chất lượng nước đạt mức khá (đáp ứng QCVN 08:2008/BTNMT cột A1/A2). Tuy nhiên, ngay tại đập Thanh Liệt khi sông Nhuệ tiếp nhận toàn bộ nước thải từ sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu, nồng độ BOD5 và NH4+ tăng vọt gấp 5 đến 15 lần ngưỡng cho phép loại B1, trong khi nồng độ DO suy giảm nghiêm trọng xuống mức dưới 1,5 mg/L vào mùa kiệt.

Thứ tư, quá trình hiệu chỉnh và kiểm định mô hình thủy lực đạt độ tin cậy xuất sắc. Sai số biên độ mực nước giữa kết quả tính toán và số liệu thực đo tại các trạm Ba Thá và Phủ Lý năm 2010 và 2012 chỉ dao động trong khoảng từ 3% đến 7%, khẳng định bộ thông số nhám Manning n (từ 0,025 đến 0,035) hoàn toàn phù hợp với thực tế dòng dẫn.

Thảo luận kết quả

Diễn biến suy giảm chất lượng nước sông Nhuệ xuất phát từ sự mất cân bằng nghiêm trọng giữa lưu lượng dòng chảy tự nhiên và tải lượng xả thải quá mức. Vào mùa kiệt (đặc biệt là tháng 2), khi lượng mưa thấp dưới 50 mm/tháng và cống Liên Mạc đóng, dòng chảy sông gần như cạn kiệt, khiến khả năng tự làm sạch của dòng sông bị triệt tiêu hoàn toàn.

Dữ liệu mô phỏng được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị đường cong suy giảm oxy Streeter-Phelps dọc trắc dọc 59,2 km sông và bản đồ GIS phân vùng tải lượng ô nhiễm 9 tiểu lưu vực. Kết quả so sánh giữa các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 chỉ ra rằng nếu không kiểm soát nguồn thải, sự gia tăng dân số và mở rộng các cụm công nghiệp sẽ đẩy nồng độ NH4+ và BOD5 tại các điểm đo hạ lưu vượt ngưỡng an toàn từ 250% đến 400%, đe dọa trực tiếp đến an ninh nguồn nước tưới tiêu nông nghiệp của các huyện phía Nam Hà Nội và tỉnh Hà Nam.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường nước sông Nhuệ, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tập trung quy mô lớn (điển hình như Nhà máy xử lý nước thải Yên Xá và Phú Đô), đặt mục tiêu thu gom và xử lý đạt quy chuẩn 100% nước thải sinh hoạt khu vực nội đô trước năm 2025; cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện là Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Sở Xây dựng.

Thứ hai, bắt buộc 100% các khu công nghiệp tập trung (tổng diện tích trên 1.275 ha) và các cụm làng nghề chế biến nông sản, dệt nhuộm phải xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung đạt QCVN 40:2011/BTNMT trước khi xả ra môi trường, giảm thiểu ít nhất 60% tải lượng COD và BOD phát sinh trong giai đoạn 2021 – 2024; cơ quan chủ trì là Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Chế xuất cùng Sở Tài nguyên và Môi trường.

Thứ ba, thiết lập quy trình vận hành điều tiết thủy lực thông minh liên hồ chứa, định kỳ mở cống Liên Mạc để lấy nước từ sông Hồng thau rửa dòng chảy sông Nhuệ vào mùa khô, duy trì lưu lượng dòng chảy môi trường tối thiểu nhằm nâng cao nồng độ oxy hòa tan DO lên trên 4 mg/L; đơn vị phụ trách là Công ty TNHH MTV Đầu tư phát triển Thủy lợi Sông Nhuệ.

Thứ tư, hoàn thiện thể chế quản lý lưu vực sông thống nhất, tăng cường mức phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xả thải trái phép lên gấp 2 đến 3 lần và áp dụng công cụ kinh tế thuế tài nguyên nước đối với các cơ sở sản xuất có lưu lượng phát thải trên 500 m³/ngày; cơ quan chủ trì là Tổng cục Môi trường và Ủy ban Bảo vệ Môi trường Lưu vực sông Nhuệ – Đáy.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và phương pháp nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

Cán bộ quản lý môi trường và cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở dữ liệu số hóa về tải lượng ô nhiễm phân theo 9 tiểu vùng tiêu thoát nước, hỗ trợ đắc lực trong việc cấp phép xả thải, đánh giá sức chịu tải của nguồn nước và xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông liên tỉnh.

Kỹ sư tài nguyên nước và chuyên gia mô hình hóa: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về quy trình thiết lập, gán điều kiện biên, hiệu chỉnh và kiểm định bộ thông số mô hình MIKE 11 (HD, AD, WQ) trên hệ thống sông ngòi phức tạp chịu tác động của thủy triều và công trình điều tiết.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Môi trường: Cung cấp khung phương pháp luận chuẩn mực về tích hợp công nghệ GIS và mô hình toán để giải quyết các bài toán ô nhiễm nước mặt đô thị và nông thôn.

Ban quản lý các khu công nghiệp và doanh nghiệp phát thải: Giúp nắm bắt ngưỡng giới hạn tiếp nhận tải lượng ô nhiễm của sông Nhuệ, từ đó chủ động cải tiến công nghệ sản xuất sạch hơn và thiết kế hệ thống xử lý nước thải nội bộ đạt chuẩn.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình MIKE 11 có ưu thế vượt trội nào so với các mô hình đánh giá chất lượng nước khác như QUAL2K hay SWAT? MIKE 11 sở hữu mô đun thủy động lực một chiều vượt trội, giải trọn vẹn hệ phương trình Saint-Venant bằng sơ đồ sai phân ẩn Abbott-Ionescu. Khác với QUAL2K chỉ áp dụng cho mạng sông thẳng đơn giản hay SWAT chuyên về lưu vực nông nghiệp, MIKE 11 xử lý chính xác hệ thống sông phân lưu uốn khúc dài 59,2 km và mô phỏng động học chất lượng nước theo thời gian thực.

Nguồn phát thải nào gây ô nhiễm nghiêm trọng nhất đối với dòng sông Nhuệ? Nước thải sinh hoạt là nguồn ô nhiễm lớn nhất, chiếm 60% tổng lượng thải trên toàn lưu vực. Trong đó, tiểu vùng nội thành Hà Nội xả thải lượng kỷ lục qua sông Tô Lịch với 118.340 kg BOD5/ngày và hơn 14.200 kg NH4+/ngày vào đập Thanh Liệt, gây suy giảm đột ngột chất lượng nước toàn tuyến hạ lưu.

Độ tin cậy của mô hình thủy lực và chất lượng nước trong luận văn được kiểm chứng ra sao? Mô hình được hiệu chỉnh và kiểm định độc lập bằng chuỗi dữ liệu thực đo 2 năm (2010 và 2012) tại 4 trạm thủy văn trọng yếu gồm Ba Thá, Phủ Lý, Bến Đế, Gián Khẩu và các đợt quan trắc nước mặt tháng 3, tháng 5 năm 2012. Sai số mực nước giữa mô phỏng và thực đo chỉ từ 3% đến 7%, chứng minh độ tin cậy kỹ thuật rất cao.

Đặc điểm chất lượng nước sông Nhuệ biến đổi như thế nào sau khi qua đập Thanh Liệt? Tại đoạn thượng lưu trước đập Thanh Liệt, chất lượng nước sông đạt mức tương đối sạch theo cột A1. Ngay sau khi tiếp nhận nước thải nội đô tại đập Thanh Liệt, nồng độ BOD5 và NH4+ tăng vọt gấp hàng chục lần giới hạn cột B1, nồng độ oxy hòa tan tụt giảm sâu, khiến dòng sông bị ô nhiễm hữu cơ kỵ khí nặng nề.

Các kịch bản quy hoạch đến năm 2020 trong nghiên cứu dự báo xu hướng gì? Dựa trên dự báo gia tăng dân số và mở rộng 1.275,3 ha khu công nghiệp, mô hình dự báo nếu không có biện pháp xử lý nước thải tập trung, nồng độ các chất ô nhiễm chính sẽ tăng từ 25% đến 40% trên toàn tuyến sông, làm tê liệt hoàn toàn chức năng cấp nước nông nghiệp của lưu vực.

Kết luận

  • Ứng dụng thành công hệ thống mô hình MIKE 11 mô phỏng chính xác chế độ thủy lực và lan truyền chất ô nhiễm trên 59,2 km sông Nhuệ chảy qua Hà Nội với sai số kiểm định thấp dưới 7%.
  • Định lượng chi tiết tải lượng ô nhiễm từ 9 tiểu khu tiêu thoát nước, chỉ ra nước thải sinh hoạt chiếm 60% tổng lượng phát sinh và xác định đập Thanh Liệt là điểm nghẽn ô nhiễm lớn nhất.
  • Đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước với sự suy giảm nghiêm trọng nồng độ DO và sự gia tăng vượt chuẩn từ 5 đến 15 lần của các thông số BOD5, NH4+ so với QCVN 08:2008/BTNMT.
  • Xây dựng thành công các kịch bản dự báo biến đổi chất lượng nước đến năm 2020, làm rõ nguy cơ quá tải nguồn tiếp nhận nếu tốc độ phát triển công nghiệp và đô thị hóa không đi đôi với bảo vệ môi trường.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ kết hợp giữa công trình xử lý nước thải tập trung, vận hành điều tiết thau rửa thủy lực và hoàn thiện thể chế quản lý lưu vực.

Luận văn của tác giả Lê Thị Hải Lý là công trình nghiên cứu khoa học công phu, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và công cụ quản lý đắc lực cho Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ – sông Đáy giai đoạn 2021 – 2030. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ quan quy hoạch hãy tham khảo và ứng dụng ngay bộ khung mô hình cùng các kiến nghị giải pháp này để hiện thực hóa mục tiêu hồi sinh dòng sông Nhuệ trong tương lai gần!