Đặt vấn đề Nước là một tài nguyên thiết yếu và quan trọng nhất cho sự sống, giữ vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững trên Thế giới. Nước trong tự nhiên bao gồm toàn bộ các đại dương, biển, vịnh, sông, ao, hồ, nước ngầm, băng tuyết, hơi ẩm trong đất và trong không khí. Gần 94% nước trên Trái Đất là nước mặn, nếu tính cả nước bị nhiễm mặn thì tỉ lệ này lên tới 97,5% nhưng nước ngọt chỉ chiếm 2 - 3% mà phần lớn lại ở dạng đóng băng ở hai cực. Nước đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều hòa khí hậu và cho sự sống.
Là dung môi hòa tan, phân bố các chất vô cơ và hữu cơ làm nguồn dinh dưỡng cũng như trao đổi chất, tham gia vào nhiều quá trình hóa học trong cơ thể người và sinh vật. 70 - 75% cơ thể con người là nước, con người có thể không ăn trong nhiều ngày nhưng nếu mất nước 12% sẽ bị hôn mê và chết. Trong sản xuất, để có được một tấn sản phẩm lượng nước cần tiêu thụ như sau: Than cần từ 3 - 5 tấn nước, dầu mỏ cần 30 - 50 tấn nước, Thép từ 50 - 150 tấn nước, Giấy từ 200 - 300 tấn nước, gạo từ 5000 - 10000 tấn nước, Thịt từ 20000 - 30000 tấn nước. Nhìn chung, khối lượng nước tiêu thụ trên thế giới được phân phối như sau: từ 3 - 9% dùng cho nhu cầu sinh hoạt, 15 - 17% dùng cho sản xuất công nghiệp, còn lại 80% dùng cho sản xuất nông nghiệp.
Nước là một tài nguyên thiết yếu và quan trọng nhất cho sự sống, giữ vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển bền vững trên Thế giới. Việt nam có mạng lưới sông ngòi dày đặc, trong đó có 13 hệ thống sông lớn có diện tích trên 10.000km2, chiếm hơn 80% diện tích lãnh thổ, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới. Tuy nhiên, nước mặt ở Việt Nam hiện nay đang đối mặt với nhiều thách thức, trong đó đáng kể nhất là tình trạng suy kiệt và ô nhiễm trên diện rộng. Mà nguyên nhân là do sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội, áp lực của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, sự gia tăng dân số đã kéo theo những tác động tiêu cực đối với môi trường đất - nước - không khí, đặc biệt là vấn đề suy thoái tài nguyên nước.
n 2 Trong tình hình đó, công tác quản lý môi trường lưu vực sông nói chung và các sông nói riêng đã và đang được triển khai thực hiện tại Việt Nam nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm, suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường của các lưu vực sông. Việc đánh giá hiện trạng môi trường của các sông là hết sức cần thiết để từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm giảm thiểu, cải tạo các dòng sông bị ô nhiễm. Hiện nay, một số nước trên thế giới đã có các giải pháp cải tạo các sông bị ô nhiễm trả lại dòng sông xanh - sạch - đẹp phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tỉnh Thanh Hóa là một trong 4 tỉnh nằm trong hệ thống sông Nhà Lê là tuyến giao thông đường thủy quan trọng nối Ninh Bình - Thanh Hóa - Nghệ An - Hà Tĩnh.
Hệ thống sông Nhà Lê chảy qua phía nam thành phố Thanh Hóa trước khi đổ vào sông Mã, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm kinh tế, chính trị của tỉnh Thanh Hóa. Trong xu thế phát triển kinh tế - xã hội, dưới tác động của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người hệ thống sông Nhà Lê đã và đang tiềm ẩn những nguy cơ ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước mặt chảy qua địa bàn TP Thanh Hóa. Với nhiều vấn đề về môi trường cấp bách đã và đang diễn ra rất phức tạp ở quy mô địa phương và trên toàn hệ thống cần được xem xét xử lý, khắc phục và phòng ngừa. Trước những yêu cầu về phát triển kinh tế - xã hội cho thành phố và tỉnh, vấn đề nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo xu thế diễn biến môi trường nước hệ thống sông Nhà Lê nhằm đề xuất các giải pháp bảo vệ và nâng cao năng lực quản lý chất lượng môi trường hệ thống là vấn đề bức xúc, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn.
Xuất phát từ vấn đề trên, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Môi Trường trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng sự hướng dẫn của TS. Phan Thị Thu Hằng, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước sông nhà Lê đoạn chảy qua Thành phố Thanh Hóa và đề xuất các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá diễn biến chất lượng môi trường nước hệ thống sông Nhà Lê trên đoạn chảy qua địa bàn TP Thanh Hóa qua các đợt quan trắc.
- Đề xuất các biện pháp giảm thiểu, khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường nước hệ thống sông Nhà Lê đoạn chảy qua địa bàn TP Thanh Hóa. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá được hiện trạng và diễn biến môi trường nước sông Nhà Lê đoạn chảy qua địa bàn TP Thanh Hóa. - Số liệu thu được phản ánh trung thực, khách quan. - Kết quả phân tích thông số hiện trạng chất lượng nước sông Nhà Lê đoạn chảy qua địa bàn TP Thanh Hóa, so sánh với QCVN 08:2008/BTNMT.
- Kiến nghị các biện pháp khả thi nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường phù hợp với tình hình của địa phương. Phạm vi nghiên cứu của đề tài Đánh giá hiện trạng môi trường nước sông Nhà Lê đoạn chảy qua địa bàn TP Thanh Hóa. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: + Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã được học tập và nghiên cứu. + Nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
+ Bổ sung tư liệu cho học tập sau này. + Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường. - Ý nghĩa trong thực tế: + Đưa ra được các đánh giá chung nhất về chất lượng môi trường nước, giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường có biện pháp thích hợp bảo vệ môi trường. + Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ môi trường.
+ Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trường cho mọi cộng đồng dân cư. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở lý luận của đề tài 2.1 Một số khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nước, quan trắc môi trường, tiêu chuẩn môi trường, quy chuẩn môi trường Để hiểu rõ hơn về đánh giá hiện trạng tài nguyên nước ta cần tìm hiểu một số khái niệm về môi trường, bảo vệ môi trường, ÔNMT, ÔNMT nước, nguyên nhân và các dạng ô nhiễm môi trường nước mặt chủ yếu: - Khái niệm môi trường: Môi trường là tập hợp tất cả các thành phần của thế giới vật chất bao quanh, có khả năng tác động đến sự tồn tại và phát triển của mỗi sinh vật. Theo UNESCO, môi trường được hiểu là “Toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người”. Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam 2005 [7]: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”.
Theo khoản 1 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam 2014 [8]: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. - Khái niệm bảo vệ môi trường Theo khoản 3 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2005 [7]: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”. n 5 Theo khoản 3 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường Việt Nam năm 2014 [8]: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”. - Ô nhiễm môi trường: Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam 2005 [7]: “Ô nhiễm môi trườnglà sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”.
Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 [8]: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật”. - Tiêu chuẩn môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường 2005 [7]: “Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định dùng làm căn cứ để kiểm soát ô nhiễm môi trường”. Theo khoản 6 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi Trường 2014 [8]: “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường”.