Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài "Đánh giá của khách du lịch về chất lượng dịch vụ các khu du lịch tại xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng" do sinh viên Đặng Thị Mỹ Thật (chuyên ngành Văn hóa - Du lịch, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng) thực hiện năm 2018 dưới sự hướng dẫn của TS. Lê Thị Thu Hiền. Nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng nói chung và khu vực huyện Hòa Vang nói riêng. Trong bối cảnh Đà Nẵng khẳng định vị thế là trung tâm kinh tế - du lịch miền Trung, kết nối hành lang kinh tế Đông - Tây và ba di sản văn hóa thế giới, địa bàn huyện Hòa Vang với địa hình bán sơn địa phong phú đã thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư các khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của các khu du lịch khiến yêu cầu của du khách về cung cách phục vụ và cơ sở vật chất ngày càng khắt khe, đòi hỏi các đơn vị phải đo lường và cải thiện chất lượng dịch vụ để duy trì năng lực cạnh tranh.

Văn bản xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Tìm hiểu thực trạng hoạt động của các khu du lịch ở xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
  2. Đánh giá sự hài lòng của khách du lịch đối với chất lượng dịch vụ tại các khu du lịch ở xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
  3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa sự hài lòng của du khách và thu hút thêm du khách đến tham quan, trải nghiệm dịch vụ.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những đánh giá, cảm nhận của khách du lịch về chất lượng dịch vụ tại các điểm đến trên địa bàn. Phạm vi không gian giới hạn tại bốn khu du lịch thuộc thôn Phú Túc, xã Hòa Phú, bao gồm: Khu du lịch Suối Hoa, Khu du lịch Hòa Phú Thành, Khu du lịch Suối khoáng nóng Núi Thần Tài và Khu du lịch Lái Thiêu. Phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp và đánh giá hoạt động du lịch tập trung trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về khu du lịch, dịch vụ du lịch theo Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 (Điều 4 quy định khái niệm dịch vụ du lịch; các tiêu chí phân cấp khu du lịch quốc gia và khu du lịch địa phương), kết hợp quan điểm về dịch vụ của Philip Kotler, Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA) và PGS.TS Nguyễn Văn Thanh. Về lý thuyết chất lượng dịch vụ và sự hài lòng, tác giả tổng hợp định nghĩa của Feigenbaum, Edvardsson, Cadotte - Woodruff - Jenkins, Oliver - Zineldin và Parasuraman. Khung phân tích cốt lõi của nghiên cứu dựa trên mô hình năm thành phần chất lượng dịch vụ (SERVQUAL) và mô hình năm khoảng cách chất lượng (Parasuraman và cộng sự, 1985, 1988).

Tác giả đã điều chỉnh mô hình SERVQUAL bằng cách bổ sung nhóm yếu tố dịch vụ cụ thể (gồm dịch vụ chính và dịch vụ hỗ trợ) để phù hợp với đặc thù của các khu du lịch sinh thái, nâng tổng số tiêu chí đo lường lên 30 biến quan sát, sử dụng thang đo khoảng 5 mức độ (từ 1: Rất không hài lòng đến 5: Hoàn toàn hài lòng).

Nhóm yếu tố Mã biến quan sát Số lượng biến Nội dung đo lường cụ thể
Độ tin cậy DTC01 - DTC04 04 Thực hiện đúng chương trình; cung cấp đúng hẹn; giải quyết khiếu nại kịp thời; cảm nhận an toàn
Độ đáp ứng DU01 - DU07 07 Sẵn sàng giúp đỡ; phục vụ nhanh chóng; thái độ nhiệt tình; phục vụ giờ cao điểm; giá cả phù hợp, công khai, hợp lý
Sự đảm bảo DB01 - DB04 04 Kiến thức nhân viên; cung cách tạo tin tưởng; hướng dẫn an tâm; thái độ ân cần, niềm nở
Sự đồng cảm DC01 - DC02 02 Mức độ thấu hiểu nhu cầu của khách; sự quan tâm chu đáo đến cá nhân khách
Phương tiện hữu hình PTHH01 - PTHH06 06 Trang phục nhân viên; trang thiết bị hiện đại; hoạt động giải trí hấp dẫn; bố trí dịch vụ thuận tiện; vệ sinh sạch sẽ; bãi đỗ xe
Dịch vụ chính DVC01 - DVC04 04 Khách sạn đạt chuẩn; ăn uống phong phú, đủ dinh dưỡng; vui chơi giải trí đa dạng; dịch vụ chăm sóc sức khỏe (massage & spa)
Dịch vụ hỗ trợ DVHT01 - DVHT03 03 Dịch vụ chăm sóc khách hàng; vận chuyển nội bộ (xe điện); thông tin liên lạc và hướng dẫn
Sự hài lòng chung SHL01 - SHL04 04 Hài lòng tổng thể; ý định quay lại; sẵn lòng giới thiệu người khác; dịch vụ hài lòng nhất và lý do

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Nghiên cứu định tính: Tiến hành phỏng vấn sâu và khảo sát thử nghiệm trên 15 khách du lịch nhằm hoàn thiện tính rõ ràng và logic của bảng câu hỏi.
  • Nghiên cứu định lượng: Thực hiện khảo sát chính thức với cỡ mẫu 300 phiếu, phân bổ thành hai nhóm: 150 phiếu phát trực tiếp tại bốn khu du lịch ở xã Hòa Phú và 150 phiếu khảo sát những người đã từng đến các địa điểm này. Kết quả thu về 283 phiếu hợp lệ (loại bỏ 17 phiếu không đạt yêu cầu). Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel thông qua phương pháp thống kê mô tả, lập bảng phân phối tần số và biểu đồ tỷ lệ.
  • Nguồn thông tin: Dữ liệu sơ cấp thu thập qua khảo sát bảng hỏi; dữ liệu thứ cấp trích xuất từ báo cáo của Sở Du lịch Đà Nẵng, UBND xã Hòa Phú, các công trình nghiên cứu trước đó và trang tin của các khu du lịch.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận chung và khái quát về các khu du lịch ở xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Chương này hệ thống hóa các khái niệm học thuật và bức tranh tổng quan về địa bàn nghiên cứu:

  • Cơ sở lý luận: Phân định ranh giới giữa khách du lịch, khách tham quan, lữ khách; trình bày các quy chuẩn của khu du lịch địa phương (tối thiểu 200 ha, đón từ 100.000 lượt khách/năm) và khu du lịch quốc gia (tối thiểu 1.000 ha, đón từ 1.000.000 lượt khách/năm) theo Luật Du lịch 2005. Phân tích năm khoảng cách chất lượng dịch vụ theo SERVQUAL, trong đó khoảng cách thứ năm (chênh lệch giữa kỳ vọng và cảm nhận của khách hàng) là hệ quả tổng hợp của bốn khoảng cách nội bộ phía nhà cung cấp.
  • Tổng quan địa bàn xã Hòa Phú: Xã được thành lập ngày 15/3/1986 trên cơ sở chia tách từ xã Hòa Phong theo Quyết định số 05-HĐBT. Diện tích tự nhiên khoảng 90 km², địa hình bán sơn địa với đồi núi chiếm gần 90% (núi cao chiếm 77,2%, đồi núi thấp 17,5%, đồng bằng ven sông 5,3%). Dân số gồm 1.260 hộ với 4.868 nhân khẩu phân bố ở 10 thôn, trong đó có 137 hộ đồng bào dân tộc Cơ Tu (501 nhân khẩu) sinh sống tại thôn Phú Túc. Năm 2014, xã đạt 19/19 tiêu chí nông thôn mới; báo cáo kinh tế năm 2017 ghi nhận tổng giá trị sản xuất đạt 151,7 tỷ đồng (nông lâm thủy sản chiếm 116,7 tỷ đồng; thương mại - dịch vụ đạt 24,3 tỷ đồng; tiểu thủ công nghiệp đạt 10,84 tỷ đồng). Nền văn hóa địa phương đặc sắc với nhà Gươl, lễ hội mừng lúa mới, lễ đâm trâu, điệu múa Tung tung da dá và các món ăn đặc sản vùng núi như rau dớn, hoa chuối, ốc đá, cá bống cát, thịt đà điểu.
  • Hồ sơ bốn khu du lịch trọng điểm:
    1. Khu du lịch Suối Hoa: Do Công ty Phước Hùng xây dựng, khai trương ngày 29/3/1997, diện tích trên 40 ha, đặc trưng với suối tự nhiên, thác ghềnh và thảm thực vật hoa rừng.
    2. Khu du lịch Hòa Phú Thành: Được UBND thành phố Đà Nẵng phê duyệt năm 2011, quy mô 33 ha, sở hữu dòng suối tự nhiên dài hơn 3 km, khai thác dòng sản phẩm thể thao mạo hiểm trượt thác (rafting), trượt dây (zipline) và massage cá.
    3. Khu du lịch Suối khoáng nóng Núi Thần Tài: Khởi công và đi vào hoạt động từ đầu năm 2016 với quy mô 52 ha; sở hữu hệ thống bồn tắm khoáng bằng đá tự nhiên, dịch vụ tắm ONSEN theo tiêu chuẩn Nhật Bản, tắm bùn, tắm khoáng cùng trà, rượu, sữa, cà phê và khách sạn nghỉ dưỡng 4 sao Ebisu Hotel.
    4. Khu du lịch Lái Thiêu: Thành lập theo giấy phép ngày 03/01/2008 của UBND thành phố cấp cho Công ty TNHH MTV Bảo An; phát triển theo hướng sinh thái miệt vườn với bộ sưu tập hơn 120 giống cây ăn trái từ nhiều miền đất nước, phục dựng nhà Gươl Cơ Tu và tích hợp khu nuôi thú hoang dã.

Chương 2: Đánh giá của khách du lịch về chất lượng dịch vụ tại các khu du lịch ở xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Chương 2 tập trung phản ánh các số liệu thực tế về lượng khách, doanh thu, cơ cấu dịch vụ và phân tích dữ liệu khảo sát 283 du khách:

  • Thực trạng hoạt động du lịch giai đoạn 2014 - 2017: Tăng trưởng lượng khách đạt tốc độ nhanh, đặc biệt sau khi Khu du lịch Núi Thần Tài mở cửa vào năm 2016. Thị trường khách nội địa đóng vai trò tuyệt đối, trong khi khách quốc tế có tỷ trọng nhỏ nhưng tăng dần (trong đó khách từ Hàn Quốc và Trung Quốc chiếm 12% lượng khách đến xã Hòa Phú, chủ yếu tập trung tại Núi Thần Tài).
Chỉ tiêu lượng khách Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Khách quốc tế (lượt) 153 176 268 573
Khách nội địa (lượt) 53.947 54.774 249.732 579.150
Tổng lượng khách (lượt) 54.100 54.950 250.000 579.723
  • Doanh thu giữa các khu du lịch có sự phân hóa mạnh mẽ: Doanh thu toàn khu vực năm 2011 chỉ đạt gần 300 triệu đồng (12.145 lượt khách), đến năm 2016 vượt mức 42 tỷ đồng và năm 2017 vượt 114 tỷ đồng nhờ sự đóng góp áp đảo của Núi Thần Tài.
Đơn vị (triệu đồng) Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
KDL Suối Hoa 535 540 889 880
KDL Hòa Phú Thành 3.583 3.700 5.500 3.054
KDL Núi Thần Tài - - 36.102 110.000
KDL Lái Thiêu - - - 250
  • Cơ cấu cung ứng dịch vụ tại các điểm đến:
    • Lưu trú: Suối Hoa chỉ có chòi nứa ban ngày; Lái Thiêu có chòi nứa và khu lưu trú sinh thái; Hòa Phú Thành cung cấp phòng nghỉ dạng Suite và Family Suite; Núi Thần Tài vận hành khách sạn 4 sao Ebisu Hotel với các hạng phòng Superior, Deluxe, Senior Deluxe, Suite, Family Suite và dịch vụ đưa nước khoáng trực tiếp vào phòng.
    • Ẩm thực: Đa dạng các món ăn vùng núi như gà đồi hấp lá chanh, đà điểu xào lăn, ốc đá xào sả ớt, cá bống kho tộ, heo mọi nướng, cơm lam, xôi xéo lòng gà và rượu cần Phú Túc.
    • Giải trí: Suối Hoa nổi bật với tắm suối, câu cá, cưỡi ngựa; Hòa Phú Thành khai thác trượt thác nước mạo hiểm, zipline; Lái Thiêu có chèo thuyền thúng, đạp vịt, trượt cỏ, vườn thú; Núi Thần Tài sở hữu công viên nước, tắm Onsen, tắm khoáng các loại thảo dược, bùn khoáng.
    • Mua sắm: Chỉ có tại Hòa Phú Thành (bán trứng đà điểu, rượu cần) và Núi Thần Tài (vòng đá, quà lưu niệm); Suối Hoa và Lái Thiêu không phát triển dịch vụ mua sắm.
  • Cơ cấu nhân khẩu học của mẫu khảo sát (N = 283):
Tiêu chí Phân nhóm Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nữ 149 52,7
Nam 134 47,3
Độ tuổi Dưới 20 tuổi 14 5,0
Từ 20 đến 35 tuổi 122 43,1
Từ 36 đến 50 tuổi 116 40,9
Trên 50 tuổi 31 11,0

Dữ liệu nhân khẩu học cho thấy nhóm khách tuổi từ 20 đến 50 chiếm tỷ trọng áp đảo (84%), phản ánh nhu cầu dã ngoại, vui chơi giải trí và chăm sóc sức khỏe của phân khúc gia đình và người đi làm. Tác giả tổng hợp ý kiến đánh giá theo từng biến quan sát của SERVQUAL và các yếu tố dịch vụ bổ trợ, chỉ ra sự dịch chuyển thị phần từ các khu truyền thống (Suối Hoa, Hòa Phú Thành) sang khu du lịch phức hợp mới (Núi Thần Tài) do yêu cầu về tính đồng bộ của cơ sở hạ tầng.

Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ của các khu du lịch tại xã Hòa Phú, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng

Chương 3 xây dựng các giải pháp dựa trên ba căn cứ:

  1. Định hướng chính sách phát triển du lịch của thành phố Đà Nẵng (chương trình "5 không", "3 có", phát triển cụm du lịch phía Tây).
  2. Quy hoạch và chính sách phát triển du lịch sinh thái của huyện Hòa Vang.
  3. Thực trạng hoạt động và điểm nghẽn về hạ tầng, nguồn nhân lực tại các khu du lịch ở xã Hòa Phú.

Nội dung giải pháp được phân bổ thành ba nhóm hành động:

  • Hoàn thiện cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật: Nâng cấp tuyến đường ĐT604 kết nối trung tâm thành phố với vùng núi Hòa Phú; đồng bộ hóa hệ thống bãi đỗ xe đạt chuẩn trong mùa cao điểm; đầu tư hệ thống thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, giữ gìn cảnh quan tự nhiên ven các dòng suối.
  • Nâng cao năng lực và nghiệp vụ của đội ngũ nhân viên: Tổ chức các khóa bồi dưỡng định kỳ về kỹ năng giao tiếp, phong thái ứng xử, ngoại ngữ (tiếng Anh, tiếng Hàn, tiếng Trung) và kiến thức văn hóa bản địa nhằm tăng độ tin cậy và sự đồng cảm với du khách.
  • Quản lý chi phí và đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ: Minh bạch bảng giá niêm yết; hoàn thiện các dịch vụ hỗ trợ như xe điện đưa đón nội khu, quầy thông tin chỉ dẫn; kết nối ẩm thực địa phương với trải nghiệm văn hóa truyền thống của đồng bào Cơ Tu thôn Phú Túc.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu thực nghiệm:

  • Tổng hợp bức tranh toàn diện về tăng trưởng du lịch tại xã Hòa Phú: Lượng khách tăng gấp 10,7 lần trong bốn năm (từ 54.100 lượt năm 2014 lên 579.723 lượt năm 2017). Doanh thu toàn vùng có bước nhảy vọt từ mức 4,118 tỷ đồng năm 2014 lên trên 114 tỷ đồng vào năm 2017, chủ yếu nhờ vào sức bật của dự án Suối khoáng nóng Núi Thần Tài (chiếm 110 tỷ đồng năm 2017).
  • Chỉ ra sự mất cân đối thị phần và nguyên nhân suy giảm cục bộ: Lượng khách tập trung vào Núi Thần Tài khiến doanh thu của Hòa Phú Thành sụt giảm từ 5,5 tỷ đồng (2016) xuống 3,054 tỷ đồng (2017) và Suối Hoa giảm từ 889 triệu đồng xuống 880 triệu đồng. Điều này chứng minh du khách ưu tiên các điểm đến có dịch vụ lưu trú cao cấp (khách sạn 4 sao), dịch vụ chăm sóc sức khỏe hiện đại và công viên nước đa chức năng hơn là các điểm tham quan thuần túy chỉ có chòi nghỉ tạm.
  • Đóng góp về mặt học thuật: Nghiên cứu đã kiểm định tính tương thích của mô hình SERVQUAL đối với loại hình du lịch sinh thái nông thôn tại Việt Nam; chứng minh việc bổ sung hai thành phần "Dịch vụ chính" và "Dịch vụ hỗ trợ" bên cạnh năm khía cạnh truyền thống là phù hợp để đánh giá toàn diện sự hài lòng của du khách tại điểm đến sinh thái.
  • Đóng góp thực tiễn: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát tin cậy cho UBND huyện Hòa Vang, UBND xã Hòa Phú và ban quản lý các khu du lịch trong việc nhận diện các điểm yếu về dịch vụ hỗ trợ, xe điện, vệ sinh môi trường và trình độ ngoại ngữ của nhân viên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế gắn liền với phạm vi khảo sát:

  • Không gian khảo sát chỉ gói gọn tại một xã vùng núi (Hòa Phú) với bốn khu du lịch tư nhân đang vận hành, chưa mở rộng đối sánh với các điểm du lịch sinh thái khác trên địa bàn huyện Hòa Vang như Ngầm Đôi hay hệ sinh thái Bà Nà Hills.
  • Về mặt thời gian, dữ liệu thống kê kết thúc ở mốc năm 2017, chưa theo dõi được chu kỳ phát triển dài hạn của các điểm đến mới như Núi Thần Tài hay sự thích ứng phục hồi của các khu du lịch lâu năm.
  • Về mặt phương pháp phân tích, tác giả sử dụng phần mềm Excel để thống kê mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm, chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng chuyên sâu như phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định độ tin cậy thang đo (Cronbach's Alpha) hay hồi quy đa biến (Multiple Regression) để định lượng chính xác trọng số tác động của từng yếu tố lên sự hài lòng tổng thể.
  • Hướng mở rộng tiếp theo: Áp dụng phần mềm SPSS/AMOS để phân tích hồi quy tuyến tính, kiểm định tương quan giữa các biến nhân khẩu học (độ tuổi, nghề nghiệp, thu nhập) với mức độ chi trả; đồng thời mở rộng phạm vi đánh giá tác động của du lịch sinh thái tới sinh kế của cộng đồng Cơ Tu bản địa.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Văn hóa học: Cung cấp bài học điển hình về cách thiết kế bảng câu hỏi khảo sát du khách dựa trên mô hình SERVQUAL biến tính, cách xây dựng mã hóa biến quan sát (DTC, DU, DB, DC, PTHH, DVC, DVHT, SHL).
  • Các nhà nghiên cứu và học viên thực hiện đề tài phát triển du lịch sinh thái tại khu vực miền Trung: Cung cấp dữ liệu lịch sử chuẩn xác về số lượng khách, cơ cấu khách quốc tế/nội địa và doanh thu của cụm du lịch Tây Đà Nẵng giai đoạn 2014 - 2017.
  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban giám đốc các khu du lịch: Tham khảo ma trận dịch vụ (lưu trú, ẩm thực, giải trí, mua sắm) để quy hoạch sản phẩm bổ trợ, tránh đầu tư trùng lặp gây lãng phí tài nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng mô hình lý thuyết nào để đánh giá chất lượng dịch vụ?
Nghiên cứu ứng dụng mô hình năm thành phần chất lượng dịch vụ (SERVQUAL) của Parasuraman và cộng sự (1988), bao gồm: Độ tin cậy, Độ đáp ứng, Sự đảm bảo, Sự đồng cảm và Phương tiện hữu hình. Đồng thời, tác giả bổ sung hai nhóm yếu tố đặc thù là Dịch vụ chính (nghỉ dưỡng, ăn uống, vui chơi, chăm sóc sức khỏe) và Dịch vụ hỗ trợ (chăm sóc khách hàng, xe điện, thông tin liên lạc) với tổng cộng 30 biến quan sát.

Mẫu khảo sát của đề tài được triển khai với quy mô bao nhiêu và phân bổ như thế nào?
Tác giả đã phát 300 phiếu điều tra, trong đó 150 phiếu phát trực tiếp tại bốn khu du lịch ở xã Hòa Phú và 150 phiếu phát cho những khách từng trải nghiệm dịch vụ. Kết quả thu về 283 phiếu hợp lệ (17 phiếu bị loại). Về cơ cấu mẫu, nữ giới chiếm 52,7%, nam giới chiếm 47,3%; nhóm tuổi từ 20 đến 35 chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,1%, tiếp đến là nhóm 36 - 50 tuổi (40,9%), trên 50 tuổi (11,0%) và dưới 20 tuổi (5,0%).

Tình hình biến động doanh thu giữa các khu du lịch ở Hòa Phú trong giai đoạn 2014 - 2017 diễn ra ra sao?
Doanh thu có sự tăng trưởng vượt bậc nhưng không đồng đều. Giai đoạn 2014 - 2016, KDL Suối Hoa tăng từ 535 triệu đồng lên 889 triệu đồng (sau đó giảm nhẹ còn 880 triệu đồng năm 2017); KDL Hòa Phú Thành tăng từ 3,583 tỷ đồng lên 5,5 tỷ đồng (sau đó giảm mạnh còn 3,054 tỷ đồng năm 2017). KDL Núi Thần Tài mới đi vào hoạt động năm 2016 đã đạt 36,102 tỷ đồng và bứt phá lên 110 tỷ đồng vào năm 2017. KDL Lái Thiêu năm 2017 ghi nhận doanh thu 250 triệu đồng.

Điểm khác biệt cốt lõi về dịch vụ lưu trú giữa các khu du lịch trong khu vực nghiên cứu là gì?
Suối Hoa chỉ cung cấp các chòi nứa nghỉ ngơi ban ngày; Lái Thiêu có chòi nứa kết hợp khu lưu trú sinh thái; Hòa Phú Thành cung cấp phòng lưu trú dạng Suite và Family Suite; riêng Núi Thần Tài sở hữu hệ sinh thái khách sạn 4 sao Ebisu Hotel với đa dạng phân hạng phòng (Superior, Deluxe, Senior Deluxe, Suite, Family Suite) và có hệ thống nước khoáng nóng thiên nhiên dẫn trực tiếp vào từng phòng.

Khách quốc tế đến các khu du lịch tại xã Hòa Phú chủ yếu đến từ những quốc gia nào?
Theo số liệu thống kê trong đề tài, thị phần khách quốc tế giai đoạn 2014 - 2017 ghi nhận sự chuyển biến tích cực từ thị trường Châu Á, trong đó nguồn khách từ Hàn Quốc và Trung Quốc tăng cao, chiếm khoảng 12% tổng lượng khách đến các khu du lịch tại xã Hòa Phú, và điểm đến thu hút nhiều nhất là Khu du lịch Suối khoáng nóng Núi Thần Tài.

Kết luận

Khóa luận của sinh viên Đặng Thị Mỹ Thật đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ du lịch thông qua việc điều chỉnh mô hình SERVQUAL phù hợp với điểm đến sinh thái vùng bán sơn địa. Tác giả đã phân tích chi tiết dữ liệu thực nghiệm về lượng khách, doanh thu và phản hồi từ 283 du khách tại bốn khu du lịch trên địa bàn xã Hòa Phú giai đoạn 2014 - 2017. Kết quả nghiên cứu là nguồn cứ liệu thực tiễn phản ánh rõ nét sự chuyển dịch thị hiếu của du khách sang các tổ hợp dịch vụ đa chức năng, đồng thời cung cấp hệ thống giải pháp thiết thực cho công tác quản lý và định hướng phát triển du lịch bền vững tại huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.