Chương 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chất lượng, chất lượng giáo dục đại học 1. Chất lượng là gì? Chất lượng là một khái niệm phức tạp và đa chiều, bao hàm nhiều yếu tố, được định nghĩa không những là “sự phù hợp với mục tiêu” mà còn mang trong đó độ tin cậy, tính bền vững, tính thẩm mỹ.
Chất lượng là sự đáp ứng mục tiêu đã đặt ra và mục tiêu đó phải phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội [6]. Chất lượng là sự xuất sắc, là không mắc lỗi, là sự phù hợp với mục tiêu (đáp ứng nhu cầu, yêu cầu hoặc mong muốn của khách hàng), là ngưỡng tối thiểu (đặt ra các quy tắc và tiêu chuẩn nhất định), là sự đáng giá về mặt kinh tế, là sự nâng cao hoặc cải tiến liên tục [7]. Theo tiêu chuẩn ISO, chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan. Chất lượng trong quan điểm hệ thống xác định ba khía cạnh khác nhau về chất lượng đầu vào, quy trình và kết quả đầu ra.
Quản lý chất lượng là việc áp dụng các nguyên tắc chất lượng để đạt được sự hội nhập của tất cả các chức năng và quy trình của tổ chức [8]. Các nhà giáo dục Việt Nam cũng đưa ra một số định nghĩa khác nhau, nhưng các định nghĩa này thường trùng với các định nghĩa của nước ngoài, như “Chất lượng GDĐH được đánh giá qua mức độ trùng khớp với mục tiêu định sẵn” [9]. Định nghĩa này tương đồng với quan niệm về chất lượng của hầu hết các tổ chức ĐBCL trên thế giới [10]. Có thể thấy khái niệm chất lượng chỉ mang tính tương đối, ở mỗi góc độ có thể nhìn nhận chất lượng ở những khía cạnh khác nhau.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Chất lượng giáo dục đại học Harvey và Green [11] đã mô tả khái niệm chất lượng liên quan đến giáo dục đại học “Thứ nhất, chất lượng có nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau. Thứ hai, chất lượng có liên quan đến quá trình hoặc đầu ra”. Chất lượng trong GDĐH liên quan đến trách nhiệm chung, sự minh bạch, đa dạng, bình đẳng trong tiếp cận và hòa nhập xã hội, chương trình nghiên cứu xuất sắc, kinh nghiệm của học sinh, sử dụng hiệu quả nguồn lực, quản lý tốt các cấp, đạt tiêu chuẩn (toàn vẹn, chuyên nghiệp, trách nhiệm và cởi mở), kiểm tra, giám sát các hoạt động [12].
Chất lượng GDĐH “định rõ giá trị các mục tiêu học tập và tạo cho SV có khả năng đạt được các mục tiêu đó” và “ăn khớp với chuẩn học thuật” để đáp ứng: Kỳ vọng của xã hội; Nguyện vọng của SV; Nhu cầu của Chính phủ, doanh nghiệp và ngành công nghiệp; Các yêu cầu của các tổ chức nghề nghiệp [13], [14]. Chất lượng trong GDĐH được định nghĩa là toàn bộ những phẩm chất, đặc trưng của quá trình giáo dục (trong đào tạo liên quan đến các nguồn lực và yếu tố môi trường), trong đó cung cấp khả năng đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai về kiến thức, kỹ năng, năng lực bản thân, nghề nghiệp, xã hội và đất nước. Chất lượng của một trường ĐH được xác định bởi chất lượng của các quá trình diễn ra trong trường ĐH và chất lượng cung cấp các dịch vụ giáo dục [15]. Chất lượng rất dễ xác định đối với một sản phẩm cụ thể chúng ta muốn mua.
Tuy nhiên, đối với giáo dục gặp khó khăn khi định nghĩa chất lượng. Khách hàng là ai? Người tiêu dùng là ai? Có rất nhiều bên tham gia: các cơ sở giáo dục đại học, thủ trưởng các khoa phòng, trường học, nhân viên chịu trách nhiệm về chương trình đào tạo, các sinh viên, chuyên gia y tế và Chính phủ, như thanh tra và Quốc hội. Ngoài ra, công chúng cũng có liên quan đến chất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 lượng giáo dục. Mỗi bên tham gia có những quan niệm riêng của mình về chất lượng.
Chính phủ chú ý đầu tiên vào tỷ lệ đỗ/trượt, số lượng sinh viên bỏ học, tuyển sinh, vì thế chất lượng có nghĩa là “càng nhiều sinh viên có thể kết thúc chương trình trong thời gian dự kiến, với mức đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế - với chi phí tối thiểu”. Ngành y mô tả chất lượng là kiến thức, kỹ năng và thái độ sinh viên đạt được trong thời gian học tập [16] và đánh giá “sản phẩm” là sinh viên tốt nghiệp. Đối với sinh viên, chất lượng giáo dục có nghĩa hoàn toàn khác, nó liên quan đến sự phát triển cá nhân và đến sự chuẩn bị một chỗ đứng trong xã hội. Vì vậy, giáo dục phải gắn liền với lợi ích cá nhân của sinh viên, quá trình giáo dục cũng phải được cấu trúc để sinh viên có thể hoàn thành khóa học trong thời gian cần thiết.
Giới hàn lâm lại định nghĩa chất lượng theo một cách khác “đào tạo hàn lâm tốt dựa vào sự truyền tải kiến thức tốt và một môi trường học tập tốt, một mối quan hệ tốt giữa giảng dạy và nghiên cứu”. Do đó, chất lượng là một khái niệm rất phức tạp. Phải phân biệt theo yêu cầu của sinh viên, giới học giả, các cơ quan chuyên môn, thị trường lao động, xã hội và chính phủ. Không chỉ có chất lượng khác nhau mà còn có những khía cạnh khác nhau về chất lượng.
Đánh giá chất lượng phải là trách nhiệm của tất cả các bên liên quan [17]. Ở Việt Nam, quan điểm chất lượng trong giáo dục đại học qua các giai đoạn rất khác nhau: Giai đoạn từ 1985 trở về trước, chất lượng là sự tuyển chọn khắt khe; Giai đoạn 1986-2003, chất lượng là nguồn lực đầy đủ; Giai đoạn từ 2004 đến nay, chất lượng là sự đáp ứng tiêu chuẩn [18]. Và đến năm 2007, Bộ GD&ĐT đã xác định cụ thể “Chất lượng giáo dục trường đại học là sự đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước” [19]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Đảm bảo chất lượng, đảm bảo chất lượng giáo dục đại học 1. Đảm bảo chất lượng ĐBCL là một quá trình giám sát và phát triển liên tục, là một quá trình xây dựng niềm tin giữa các bên liên quan đến: đầu vào, quá trình và đầu ra, đáp ứng sự mong đợi hoặc đạt ngưỡng yêu cầu tối thiểu [20]. ĐBCL là một quy trình có tính hệ thống và được hoạch định dùng để đánh giá một CSGD hoặc một CTĐT, nhằm xem xét các tiêu chuẩn giáo dục đã được chấp nhận từ trước, tính chuyên môn và cơ sở hạ tầng có thể duy trì và củng cố hay không. Thường ĐBCL còn được xem là các mong đợi rằng các cơ chế kiểm soát chất lượng được vận hành hiệu quả.
Ở Vương quốc Anh, ĐBCL còn là các biện pháp mà theo đó một CSGD chứng thực rằng mình có đầy đủ các điều kiện cần thiết để SV đạt được các tiêu chuẩn do chính nhà trường hoặc cơ sở cấp bằng khác qui định [21]. “Đảm bảo chất lượng là sự quan tâm có hệ thống, có cấu trúc và liên tục đến chất lượng ở hai khía cạnh: duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng. Quan tâm liên tục đến chất lượng là điều kiện thiết yếu để ĐBCL. Cần có một hệ thống ĐBCL bên trong tốt.
Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học Mạng lưới quốc tế các tổ chức Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học (INQAAHE) đã đưa ra hai định nghĩa về chất lượng: (i) Tuân theo các chuẩn mực nhất định; (ii) Đạt được các mục tiêu đề ra. Định nghĩa thứ nhất, GDĐH cần có bộ tiêu chuẩn với từng lĩnh vực và tiến hành kiểm định chất lượng một trường ĐH cần tuân thủ theo bộ tiêu chuẩn đó. Định nghĩa thứ hai, việc kiểm định chất lượng GDĐH sẽ dựa vào mục tiêu của từng lĩnh vực đề ra và mục tiêu này được xác lập trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và những điều kiện đặc thù của từng trường [23]. Trong GDĐH, ĐBCL được xác định như các hệ thống chính sách, thủ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tục, quy trình hành động và thái độ được xác định từ trước, nhằm đạt được sự duy trì, giám sát và củng cố chất lượng.
Ở các nước phương Tây, việc thiết kế hệ thống ĐBCL được xem là bước đầu tiên trong quá trình đảm bảo và cải tiến chất lượng trường ĐH, ĐBCL “xem xét các quá trình được sử dụng nhằm kiểm soát và sản xuất sản phẩm hay các dịch vụ, nhằm tránh các phế phẩm. Nếu chúng ta có hệ thống ĐBCL sẽ tránh được việc có thể có các phế phẩm” [24]. ISO định nghĩa ĐBCL là: “tất cả các hoạt động có hoạch định hay có hệ thống cần thiết, nhằm cung cấp sự đủ tự tin rằng một sản phẩm hay một dịch vụ là đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng”. Trong GDĐH, ĐBCL được xem là “tổng số các cơ chế và quy trình được áp dụng, nhằm ĐBCL đã được định trước hoặc việc cải tiến chất lượng liên tục bao gồm việc hoạch định, việc xác định, khuyến khích đánh giá và kiểm soát chất lượng”.
Trong giáo dục, chất lượng gắn liền với nhiều khía cạnh như đầu vào, quá trình và đầu ra của một hệ thống giáo dục. Chính ĐBCL xem xét đầu vào, quá trình và đầu ra (Barnett 1987; Church 1988). Lawrence and Dangerfield (2001:83) cho rằng “giới học thuật có một lịch sử lâu đời về đo lường chất lượng, dựa vào đầu vào nhiều hơn là đầu ra”. Theo Annesley King và Harte (1994), để đảm bảo rằng kết quả của một hệ thống giáo dục có thể đạt được chất lượng như ý, một hệ thống đảm bảo chất lượng trong thế kỷ mới phải quan tâm đến các quá trình sau: thiết kế và nội dung của các môn học, sự truyền tải và đánh giá kết quả, đánh giá tổ chức giám sát, xem xét và quản lý nói chung [15].
Tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ báo 1. Tiêu chuẩn là mức độ các yêu cầu và điều kiện cần phải đạt được của một CSGD hoặc một CTĐT, để được một cơ quan kiểm định hay ĐBCL công nhận đạt yêu cầu kiểm định và cấp giấy chứng nhận. Các điều kiện này bao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 gồm các mong đợi về chất lượng, sự đạt được chất lượng đó, sự hiệu quả, khả năng tài chính, kết quả đầu ra và tính bền vững của các kết quả đó.