Chương I. Cơ sở lí luận về dam bảo và kiểm định chất lượng giáo dục Chương II. Phan tích báo cáo đánh giá ngoài 5 chương trình đảo tạo tại một trường Đại học ở Thành phố Hồ Chi Minh theo bộ tiêu chuan AUN-QA Kết luận và Kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục II CHUONG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VE DAM BẢO VA KIEM ĐỊNH CHAT LƯỢNG GIÁO DỤC 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo duc Xuất hiện rất sớm ở Hoa Kỳ va Bắc Mỹ đến nay, công tác ĐBCL va KĐCL giáo dục là một hiện tượng ngày cảng trở nên quan trọng, nhận được nhiều sự quan tâm không chỉ đối với cộng đồng GDĐH trên toàn cầu mà còn đối với mỗi quốc gia khác nhau. Đó là một quá trình có chủ đích được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các nhà quan lý giáo duc, các CSGD đại học, các quốc gia không ngừng thúc day nghiên cứu. Tác động của nó vượt ra ngoải phạm vi GDDH đơn thuần, có ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhằm sánh vai với các nước trong khu vực và quốc tế.
Từ đó đến nay, ĐBCL, KDCL giáo dục nói chung và DBCL, KDCL giáo dục đại học nói riêng đã trở thành chủ dé của nhiều cuộc tranh luận, nhiều công trình nghiên cứu với các trọng tâm và chủ dé khác nhau từ lý luận đến thực tiễn, từ quy mô nhỏ đến quy m6 lớn. Nguyễn Quỳnh Giao (2010) “Dam bao chất lượng trong giáo dục đại học”. Tạp chi Khoa học va Công nghệ, Dai học Da Nẵng: đề cập đến van đề DBCL trong GDĐH va phân tích mỗi liên hệ giữa ĐBCL với kiêm soát chất lượng va quản lý chất lượng tông thé. Lê Huy Tùng (2020) “Mor số dé xuất lựa chọn mô hình kiêm định chất lượng giáo dục đại học tại Việt Nam ” trên Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam: trình bày các mô hình KDCL giáo dục Việt Nam đã sử dụng và dé xuất một mô hình KDCL GDĐH phủ hợp với giáo dục Việt Nam hiện nay.
Nguyễn Hữu Cương (2017) “Mor số kết qua đạt được của kiếm định chất lượng giáo duc đại học Việt Nam và kế hoạch triển khai trong tương lai”. Tạp chí Quan lý giáo đục: tông hợp một số kết quả đạt được, trọng tâm vào xây đựng các văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng hệ thong DBCL, kiêm định CSGD và kiêm định CTĐT va trình bày kế hoạch triên khai công tác KĐCL GDĐH ở Việt Nam thời gian tới. Nguyễn Quang Tuấn (2023) “Kiểm định chất lượng giáo dục trường trung học phổ thông giai đoạn 2025-2030" trên Tạp chi Khoa học Giáo dục Việt Nam: thảo luận 12 về KĐCL và thực trạng Kiểm định chất lượng trường trung học phô thông, từ do dé xuất kế hoạch Kiém định chất lượng trường trung học phô thông giai đoạn 2025-2030. Các nghiên cứu về đánh giá chất lượng giáo duc và phân tích Báo cáo Đánh giá ngoài theo bộ tiêu chuẩn AUN-QA Johnson Ong Chee Bin (2014) “Phân tích kết quả đánh giá cấp chương trình tại Việt Nam theo AUN-QA và các dé xuất cải thiện”.
Kỷ yêu Hội thao dam bảo và kiểm định chat lượng giáo đục đại học - Con đường hội nhập quốc tế: tìm hiểu kết qua của 18 CTĐT từng được AUN-QA đánh giá tại Dai học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2009 - 2013. Từ đó, đề xuất những giải pháp cụ thé dé cải thiện chất lượng CTDT theo từng tiêu chuẩn. Võ Sỹ Mạnh, Nguyễn The Anh (2021) “Đánh giá ngoài chương trình đào tao trình độ Đại học theo tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo: Kết qua và khuyến nghị đối với cơ sở giáo dục đại học Việt Nam ”. Tap chi Khoa học Giáo dục Việt Nam: đề xuất một số kiến nghị nâng cao chất lượng CTĐT thông qua kết quả đánh giá ngoài.
Võ Lê Hoàng Quyên, Nguyễn Đức Chính, Tran Xuân Bách (2023) “Äột số vấn dé lí luận về quản li các chương trình đào tạo bac Đại học theo Bộ tiêu chuẩn AUN- OA”. Tap chí Khoa học Giáo dục Việt Nam: giới thiệu chỉ tiết, cụ thể cơ sở pháp lí làm cơ sở cho việc đề xuất quy trình xây dựng hệ thống ĐBCL bên trong, cách vận hành, cách đánh giá cải tien nhằm duy trì và nâng cao chất lượng CTĐT. Cac khái niệm liên quan dén đề tài 1. Giáo duc Theo tác giả Tran Thị Huong, Nguyễn Dức Danh, Hồ Văn Liên, Ngô Dinh Qua (2017), giáo dục “hoạt động truyền thụ và lĩnh hội kinh nghiệm xã hội từ thé hệ trước cho thế hệ sau nhằm chuẩn bị cho thế hệ sau tham gia lao động sản xuất và đời sống xã hột".
Giáo dục còn được biết đến là quá trình liên tục nhằm nâng cao kiến thức, kỹ năng và phát triển toàn diện con người. Quá trình này bao gôm việc truyền đạt kiến thức, kỹ năng, giá trị đạo đức, văn hóa từ thé hệ này sang thé hệ khác, cũng như kích thích sự phát triển tư duy, sang tạo và khả năng tự học của mỗi cá nhân. Theo nghĩa rộng, giáo duc là mọi ảnh hưởng tác động đến sự phát trién của con người, bao gồm ảnh hưởng từ gia đình, nhà trường, xã hội. Theo nghĩa hẹp, giáo dục là hoạt động có 13 mục dich, có kế hoạch được thực hiện trong các CSGD nhằm truyền đạt kiến thức, kỳ nang và ren luyện đạo đức cho NH.
Giáo dục đại học được hiểu là một bậc học sau giáo dục phỏ thông, bao gồm trình độ cao đăng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiễn sĩ và các CTĐT chuyên môn khác. Thông qua đó, trang bị cho NH kiến thức chuyên môn, kỳ năng nghề nghiệp và kỹ năng mêm can thiết dé đáp ứng yêu cau của thị trường lao động, có khả năng nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, sáng tạo và khởi nghiệp. Chất lượng Chất lượng được biết đến là một khái niệm đa chiều, mang nhiều ý nghĩa và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vảo lĩnh vực vả góc nhìn. Theo Từ điển Tiếng Việt, chất lượng được hiểu là “cái làm nên phẩm chất, giá trị của sự vật".
Tiêu chuẩn ISO 9001:2015, chất lượng là “tong thé các tinh năng và đặc điểm của một sản phâm hoặc dich vụ có khả năng đáp ứng các nhu cầu va kì vọng”. Dối với GDDH, khái niệm chat lượng càng khó dé định nghĩa hơn vì khó phân biệt được đâu là “san phẩm”, đâu là “khách hàng". Sinh viên có phải là “sản phẩm” mà trường đại học cung cap cho xã hội và thị trường lao động, hay sinh viên là “khách hang” và CTĐT mới là “san pham”? Một trường dai hoc có một hệ thông “sản phẩm" va "khách hang” da dang và phức tap. Tay thuộc vào từng đôi tượng, chất lượng mang nhiều định nghĩa khác nhau và có môi liên quan đến quá trình và kết quả đầu ra (Nguyễn Kim Dung, 2006).
Chang hạn theo Harvey và Green (1993) đã đưa ra 5 quan điểm về chất lượng, như: (1) chất lượng là sự xuất sắc, (2) chất lượng là sự hoản hảo, (3) chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu, (4) chat lượng là sự đáng giá đồng tiên, (5) chat lượng là giá trị tuyệt đối. Như đã trình bay, khái niệm chất lượng mang tinh đa chiều và tôn tại nhiều quan niệm khác nhau. Điều này dẫn đến sự đa dang trong nhu cầu xã hội đặt ra đối với GDĐH, cũng như sự khác biệt trong các tiếp cận ĐGCL GDĐH. Sự khác nhau như vậy sẽ dẫn đến những tranh luận hoặc sự không đông thuận về các tiêu chí DGCL GDDH.
Tuy nhiên, theo các văn bản của Bộ Giáo dục va Đào tạo (Bộ GD&DT), cụ thé là tại Khoản 1 Điều 2 Thông tư 61/2012/TT-BGDĐT Ban hành quy định điều kiện thành lập và giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức KĐGD do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành thì Chất lượng giáo dục là “sự đáp ứng mục tiêu của cơ sở giáo dục 14 hoặc chương trình giáo dục, dap ứng các yêu cầu của Luật Giáo dục, Luật sửa đồi, bô sung một số điều của Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và cả nước”. Theo khái niệm nay, tô chức giáo dục hay CTĐT được xem là có chất lượng khi thực hiện được các mục tiêu giáo dục va mục tiêu phát triển đã đặt ra theo các tiêu chuẩn, quy trình, công cụ và nguồn nhân lực phù hợp. Đây là cách tiếp cận được nhiều nhà quản lý và nghiên cứu về giáo dục thông nhất. Dam bảo chất lượng Khái niệm DBCL được biết đến lần đầu tiên trong lĩnh vực kinh doanh thông qua thuyết “Mười bốn điểm dành cho việc quản lý của Edwards Deming” vào năm 1986.
Theo Nguyễn Đức Chính (2002), DBCL là “qua trình xảy ra trước và trong khi thực hiện. Mối quan tâm của nó là phòng chống những sai phạm có thể xảy ra ngay từ bước dau tiên. Chất lượng của sản phâm được thiết kế ngay trong quá trình sản xuất ra nó từ khâu đầu đến khâu cuỗi theo những tiêu chuân nghiêm ngặt đảm bảo không có sai phạm trong bất kì khâu nào. ĐBCL phần lớn là trách nhiệm của người lao động thường làm việc trong các đơn vị độc lập hơn là trách nhiệm của thanh tra viên, mặc dù thanh tra cũng có thê có vai trò nhất định trong ĐBCL” Theo AUN (2009), DBCL là “sự quan tâm có hệ thông, có cau trúc và liên tục đến chất lượng ở hai khía cạnh: duy trì chất lượng và cải tiền chất lượng.
Quan tâm liên tục đến chat lượng là điều kiện thiết yếu dé ĐBCL và cần có một hệ thông ĐBCL tốt”. Ngoài ra, theo UNESCO (2011), DBCL là “một quy trình đánh giá liên tục (bao gôm đánh giá, giám sát, đảm bảo, duy trì và nâng cao) chất lượng của một hệ thong GDDH, các CSGD và CTDT”. Đối với Wilger (1997) khái niệm ĐBCL được hiểu là “một quá trình phức hợp mà qua đó trường đại học đảm bảo răng chất lượng của các quy trình giáo dục được duy trì theo những tiêu chuẩn đã dé ra. Thông qua các hoạt động đảm bao chất lượng, trường đại học có thê làm hài lòng chính nhà trường, sinh viên và những đối tượng khác ngoài nhà trường” Theo Warren Piper (1993), ĐBCL trong GDDH được xem là “tong số các cơ chế và quy trình được áp dụng nhằm ĐBCL đã được định trước hoặc việc cải tiễn chat 15 lượng liên tục, bao gồm việc hoạch định.
xác định, khuyến khích, đánh giá và kiêm soát chất lượng".