Đặt vấn đề • HIV/AIDS hiện đang là đại dịch trên phạm vi toàn thế giới [82], UNÀIDS và WHO ước tính số người hiện mác HIV/AIDS tính đến hết năm 2007 là 33,2 triệu. Theo ước tính của UNAIDS và WHO, hiện mỗi ngày có trên 6.800 người bị nhiễm HIV và trên 5.700 người tử vong vì AIDS, chú yếu là do không được tiếp cận đầy dủ với các dịch vụ dự phòng và điều trị HIV [71]. Tại Việt Nam, Tính đến 31/12/2008, số các trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 138.191 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 29.544 trường hợp tử vong do AIDS. Người nhiễm HIV/AIDS, hay còn gọi là người có H (NCH) đã được phát hiện tại 70,51 % xã/phường, 97,53% quận/huyện và 63/63 tình/thành phố [15], H1V/AIDS mang lại nhiều tác động tiêu cực đối với bàn thân người nhiễm HIV và gia đình, tới nền kinh tế xã hội và đặc biệt là đối với hệ thống y tế của mỗi quốc gia.
Do HIV/AIDS là tình trạng bệnh mãn tính không thể chữa khỏi [71, 75, 79] và đồng thời là một Vấn đề xã hội nên ngoài việc phải chịu đựng nhũng đau đớn, bệnh tật về mặt thể xác, người nhiễm HIV/A1DS và gia đình họ còn phải chịu sự kỳ thị và phân biệt dối xứ do quan niệm gan HIV/AIDS với các tệ nạn xã hội như tiêm chích ma túy và mại dâm [71, 81]. Do đó, đê đảm bào chất lượng cuộc sống, giảm nguy cơ lây nhiễm cho cộng đồng và có khá năng tiếp tục đóng góp cho xà hội, họ cần được chăm sóc, hỗ trợ cả về mặt thể chất lẫn tinh thân [14, 59, 71, 81], Tùy theo các giai đoạn khác nhau cúa bệnh cũng như tình trạng cá nhân mà người nhiễm H1V cần những loại hình hỗ trợ khác nhau [24], Tuy nhiên, có rất nhiều rào càn trong việc tiếp cận dịch vụ đối với người nhiễm HIV. Đó là sự kỳ thị và phân biệt đối xừ [21, 58, 73, 74, 82], không có tiền chi trà dịch vụ [21], không cỏ phương tiện di chuyến hoặc khoảng cách quá xa từ nhà đên CSYT [56, 58], hệ thống y tế nghèo nàn [58, 82] và thiếu sự phổi kết hợp giũa các CSYT, các tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc cho người nhiễm H1V và cộng dông [56, 58, 82], Để đối phó tình hình phát triển của đại dịch HIV/AIDS và những tác động của nó, các mô hình Chăm sóc liên tục, toàn diện (CSLTTD) cho những người nhiễm H1V/A1DS đã được hình thành và triển khai tại nhiều nơi trên toàn thế giới [75], Các mô hình CSLTTD cho người nhiễm HI V được phát triển nhằm đáp ứng nhiều loại nhu cầu cùa NCH và gia đinh cua họ. Khóa luận này sẽ phân tích về thực trạng CSLTTD cho NCH tại các nước đang phát triển và tại Việt Nam hiện nay.
Việc tác giá chì tập trung phân tích các mô hình tại Việt Nam và các nước đang phát triển nhằm mục đích đưa ra được cái nhìn sâu và cặn kẽ hơn về các mô hình được áp dụng tại các nước có cùng điều kiện kinh tế - xã hội để rút ra các bài học kinh nghiệm và đề xuất các khuyến nghị nham tăng cường công tác này tại Việt Nam. Mục tiêu chung: Đánh giá tổng quan về thực trạng chăm sóc liên tục, toàn diện cho người nhiễm HIV7AIDS tại Việt Nam và các nước đang phát triên. Mục tiêu cụ thê: Trình bày tình hình dịch HIV/AIDS trên toàn cầu, những hậu quả của HIV/AIDS đối với người nhiễm HIV/AIDS, gia đình và xà hội. Trinh bày khái niệm chăm sóc liên tục, toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS.
Trình bày thực trạng và phân tích các mô hình chăm sóc liên tục, toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam và tại các nước đang phát triển. Đưa ra, kết luận, khuyến nghị đế tăng cường công tác chăm sóc liên tục, toàn diện cho người nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam. Phuong pháp Mục đích cùa bài viết là rà soát và phân tích các bài viết liên quan đen công tác chăm sóc liên tục và toàn diện cho ngtrời nhiễm HIV/AIDS tại các nước dang phát triển trong đó có Việt Nam. Tài liệu được sử dụng cho bài viêt là các tài liệu trong nước và quôc tê.
Các tài liệu được tìm kiếm trên các cơ sở dữ liệu như HỈNARI, MEDLINE, PUBMED với các từ khóa quan trọng sau: HỈV/AIDS, Chăm sóc toàn diện (Comprehensive care), Chăm sóc liên tục (Continuum of Care), Chàm sóc dựa vào cộng đồng (Community-based care), Chăm sóc dựa vào gia đình (Home-based care), chăm sóc, tư vấn, hỗ trợ và điều trị (care, counseling, support and treatment), tống quan (review). Một nguồn tài liệu khác cũng được sử dụng đó là các tài liệu cùa các viện nghiên cứu, các trường đại học cũng như tài liệu của các tổ chức phi chính phủ như UNAIDS, FHI, COHED, PACT, HORIZON, Pathfinder International có liên quan đến chăm sóc liên tục, toàn diện cho người nhiễm H1V. Sau khi tìm dược các tài liệu từ hai nguồn trên, tác giả lại tiếp tục tìm kiêm các tài liệu nằm trong phẩn trong tham khảo của các tài liệu phù hợp đã được lựa chọn đế có thể mở rộng và tìm hiểu sâu về chăm sóc toàn diện, liên tục cho những người nhiễm HIV/AIDS. Tiêu chuẩn chọn tài liệu: • Nội dung tập trung vào công tác CSLTTD cho người nhiễm HIV/AIDS.
• Trình bày được các mô hình chăm sóc toàn diện liên tục cho người nhiễm HIV/AIDS. Ưu tiên các nghiên cứu đánh giá hiệu quả/tác động của mô hình trên. • Ưu tiên các tài liệu có bàn đầy đù (fi.111 text), trong trường hợp cần thiết mới sử dụng các tài liệu chỉ cỏ phần tóm tắt (abstract). Tập trung các tài liệu liên quan đèn tông quan (review).
• Có nguồn gốc rõ ràng, đã được xuất bản, ưu tiên các tài liệu từ các cơ sở dữ liệu, tổ chức, các chuyên gia uy tín liên quan đên vân đê. • Không lựa chọn các tài liệu là các bài báo trích dẫn trên các trang web, forum, chỉ lấy đó làm căn cứ để tìm kiếm các tài liệu liên quan. Ket quả tìm kiếm cho thấy số lượng tài liệu tập trung chủ yếu ở các nước châu Phi (Uganda, Kenya, Nam Phi, Tanzania, Rwanda), châu Ấ (chủ yểu là các nước Đông Nam A như Việt Nam, Thái Lan, Campuchia hay Nam Á như Án Độ, Nepal), Mỹ La Tinh (Ecuador). Có nhiều tài liệu là các nghiên cứu trường hợp và báo cáo nghiên cứu đánh giá.
sổ còn lại là các bài tổng quan, các lài liệu hội thào, các báo cáo hàng năm về CSLTTD cho người nhiễm HIV/A1DS. Các tài liệu được quản lý và trích dẫn sử dụng phần mềm Endnote X2. Tình hình và hậu quả của căn bệnh HIV 1. Thực trạng HIV/AIDS trên thế giói và tại Việt Nam hiện nay a.
Trên thế giới Kể tù' năm 1981 khi ca bệnh AIDS đầu tiên được phát hiện tại Mỹ, đến nay H1V/A1DS đã trở thành đại dịch trên phạm vi toàn thế giới [82]. UNAIDS và WHO ước tính số người hiện mắc HIV/A1DS tính đến hết năm 2007 là 33,2 triệu người [30,6 - 36,1 triệu], tăng thêm hơn 3 triệu người so với thời điểm năm 2001. Tuy nhiên lình hình dịch hiện nay có dấu hiệu khà quan vì tỳ lệ nhiễm H1V toàn cầu không thay đổi so với những năm trước (khoảng 0,8%). số người hiện mác HIV vẫn gia tăng là do có các trường hợp mắc mới trong khi những người đã mắc H1V có cơ hội sống lâu hơn nhờ liệu pháp điều trị với thuốc kháng virus (ARV), thể hiện qua xu hướng giảm dần các ca tử vong do AIDS từ năm 2005.
Tại một sổ nước khu vực Đông Nam Á như Campuchia, Myanmar, Thái Lan hay tại các nước vùng Cận Sahara Châu Phi tỷ lệ nhiễm HIV mới đang có xu hướng không tăng lên hoặc giảm dần nhờ kết quả cùa các nồ lực can thiệp phòng chống HIV/A1DS được bắt đầu thực hiện từ nhừng năm 2000 [71]. Tuy nhiên, trong năm 2007, theo ước tính cùa UNAIDS và WHO, hiện mỗi ngày có trên 6.800 người bị nhiễm H1V và trên 5.700 người từ vong vi AIDS, chủ yếu là do không được tiếp cận đầy đủ với các dịch vụ dự phòng và điều trị HIV. Nàm 2007 ước tính sô ca tử vong do AIDS là 2,1 triệu người [1,9 - 2,4 triệu] trên toàn thế giới, trong sổ đó 76% là ở Cận Sahara Châu Phi [71], Đại dịch HIV vẫn là căn bệnh lây truyền nguy hiếm nhất đe dọa sức khỏe cộng đồng và vẫn tác động nặng nề nhất lên khu vực cận Sahara Châu Phi. Những thách thức trong việc cung cấp các dịch vụ điều trị mà khu vực này phải đòi mặt van còn rât to lớn và lâu dài [71, 79], về tính chất lây lan của dịch, nghiên cứu các xu hướng toàn câu và khu vực cho thây dịch HIV/AIDS đã hình thành hai mô hình chính là dịch đại trà ở khẳp các đối tượng dân cư tại nhiều quốc gia vùng cận Sahara Châu Phi; và dịch tập trung ở các nhóm đối tượng có nguy cơ cao như nam giới quan hệ đồng tính, người tiêm chích ma túy, người hoạt động mại dâm và các bạn tình cúa họ tại các khu vực khác trên thế giới [23, 25, 71], b.
Tại Việt Nam Tinh đến 31/12/2008, số các trường hợp nhiễm H1V hiện còn sống là 138.191 trường hợp, sổ bệnh nhân AIDS hiện còn sổng là 29.544 trường hợp tử vong do AIDS. Người nhiễm H1V/AIDS đã được phát hiện tại 70,51% xã/phường, 97,53% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phổ. toàn quốc đã có thêm 03 quận/huyện mới phát hiện người nhiễm (Gia Lai, Thừa Thiên Huế và Đồng Nai) và có thêm 337 xã/phường có người nhiễm, tập trung chủ yếu tại các tình: Thanh Hoá (30 xã), Phú Thọ (22 xã), Đồng Nai (18 xã), Hà Nội (16 xã), Nghệ An (16 xã). Tuy nhiên, so với năm 2007, số nhiễm mới và tử vong do HIV/AIDS đều giảm, cụ thể: số các trường họp nhiễm H1V được phát hiện giảm 26,6% (giảm 7.368 trường họp), số bệnh nhân AIDS được phát hiện giảm 14,35% (giám 1.249 trường hợp) và số các trường hợp chết do AIDS được phát hiện giảm 18,75% (giảm 804 trường hợp) [15], Sổ người nhiễm H1V/AIDS vẫn tập trung chủ yếu tại các tỉnh, thành phố trọng điểm: Đứng đầu là TP Hồ Chí Minh (số nhiễm HIV hiện còn sống là 34.284 trường hợp, chiếm 25,8% toàn quốc).
Một số tĩnh có số người nhiễm Hl V tích luỹ cao nhất là: thành phố Hồ Chí Minh (41.390 trường hợp), Hà Nội (14.362 trường họp), Hải Phòng (9053 trường họp), An Giang (7226 trường hợp), Quảng Ninh (6433 trường hợp) [15], Hình thái dịch H1V/AIDS ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn dịch tập trung, các trường hợp nhiễm chủ yếu tập trung trong các nhóm nguy cơ cao như nhóm nghiện chích ma túy, gái mại dâm.