CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. DỊCH TỄ HỌC HIV/AIDS TRONG NHÓM DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Tình hình dịch HIV/AIDS ở Việt Nam Tính đến hết năm 2012, số trường hợp nhiễm HIV hiện còn sống là 210.703 trường hợp, số bệnh nhân AIDS hiện còn sống là 61.372 trường hợp tử vong do AIDS. 10 tỉnh, thành phố có người nhiễm HIV còn sống cao nhất toàn quốc là: thành phố Hồ Chí Minh với 50.931 trường hợp, Hà Nội 19.987 trường hợp, Hải Phòng 7.027 trường hợp, Thái Nguyên 6.957 trường hợp, Sơn La 6.362 trường hợp, Nghệ An 5.545 trường hợp, Đồng Nai 5.400 trường hợp, Điện Biên 5.204 trường hợp, Thanh Hóa 5.050 trường hợp và An Giang với 4867 trường hợp [5], [7].
Về địa bàn phân bố dịch: tính đến hết năm 2012, toàn quốc đã phát hiện người nhiễm HIV tại 79,1% xã/phường, gần 98% quận/huyện và 63/63 tỉnh/thành phố. Theo kết quả phân tích số người nhiễm HIV theo địa bàn địa lý cho thấy, số người nhiễm HIV chủ yếu tập trung các tỉnh miền Bắc và các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu long và miền Đông Nam Bộ, khu vực có số người nhiễm HIV cao là các tỉnh miền núi Tây Bắc và các huyện miền núi Nghệ An và Thanh Hóa [7]. Phân bố người nhiễm HIV theo giới tính: Trong tổng số những người nhiễm HIV được phát hiện trong năm 2012, tỷ lệ người nhiễm HIV ở nam giới chiếm 68,5%, ở nữ giới chiếm 31,5%. Biểu đồ phân bố người nhiễm theo giới tính qua các năm cho thấy nữ giới có xu hướng ngày càng tăng.
Trong vòng 6 năm từ 2000 đến 2005, tỷ lệ người nhiễm HIV là nữ giới tăng từ 5,4%, nhưng giai đoạn 2006 đến 2011 tỷ lệ này tăng 11,2% [7]. Phân bố người nhiễm HIV theo đường lây truyền: trong số người nhiễm HIV được báo cáo trong năm 2012 cho thấy: lây truyền qua đường tình dục chiếm tỷ lệ cao 4 nhất (chiếm 45,5%) tỷ lệ này tăng cao nhanh trong những năm vừa qua, đảo ngược hẳn với những năm 2005-2007 tỷ lệ này chỉ khoảng 15% - 20%. Trong khi đó, tỉ lệ lây truyền qua đường máu những năm 2005 là 51% đến năm 2012 giảm còn 42% [7] Phân tích chiều hướng lây truyền HIV trong các nhóm quần thể Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT qua các năm Nhóm NCMT: Kết quả giám sát trọng điểm cho thấy tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT tiếp tục có xu hướng giảm liên tiếp từ khi đạt cao nhất vào năm 2001- 2002 với 29,3%, năm 2012 tỷ lệ này là 11,6%. Tất cả các vùng trong cả nước tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT đều giảm, tuy nhiên tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT có sự khác nhau giữa các khu vực, tỷ lệ này ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ là 15,3%, khu vực miền núi phía Bắc 15,6%, ở các tỉnh miền Đông Nam Bộ là 12,7%, các tỉnh Bắc Trung Bộ là 7,6%, khu vực đồng bằng sông Cửu long 8,2%, khu vực Tây nguyên 6,1%, khu vực duyên hải miền Trung 4% [7].
2: Tỷ lệ nhiễm HIV trong PNMD qua các năm Nhóm PNMD: Theo kết quả giám sát trọng điểm: tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm PNMD ở mức cao nhất vào năm 2002 với 5,9% và sau đó có xu hướng giảm dần, đến năm 2012 là 2,7%. Tỷ lệ này có sự khác nhau ở các khu vực, ở các tỉnh đồng bằng Bắc bộ tỷ lệ này là 5,3%, khu vực miền núi phía Bắc là 2,7%, các tỉnh Đông nam bộ là 2,4%, các tỉnh Bắc Trung Bộ là 2,4%, khu vực đồng bằng sông Cửu long là 2,8%, khu vực Tây nguyên 0,5%, khu vực duyên hải miền Trung 0,6% [7]. Nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới nam (MSM): Kết quả giám sát trọng điểm năm 2012 cho thấy, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm MSM là 2,3%. Tỷ lệ này cao nhất ở TP.
Hồ Chí Minh (7,3%), tiếp đến là Hà Nội (6,5%), Sóc Trăng (2%). So sánh với kết quả giám sát trọng điểm năm 2011, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm này có giảm xuống [7]. Một số đặc điểm về văn hóa, kinh tế, xã hội và sức khỏe của nhóm đồng bào dân tộc thiểu số ở Việt Nam Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số còn lại 53 dân tộc đến từ các bộ tộc khác nhau và ngôn ngữ khác nhau. Nhóm DTTS chiếm khoảng 14% trong tổng dân số (12.
Theo thống kê năm 2010, số người không biết đọc, biết viết chiếm 39% của cả nước và chiếm 19% trong nhóm các DTTS [73], [78]. Giữa các nhóm DTTS, có một sự khác biệt rất lớn về số lượng, ngôn ngữ, lối sống, 6 phong tục tập quán, tín ngưỡng, tổ chức xã hội, và về sinh kế cho nên việc khái quát hoá là không thể. Tuy nhiên, có một số đặc điểm chung giữa các nhóm DTTS như sau: (1) Gắn liền với đất đai của cộng đồng, tài nguyên thiên nhiên, tổ chức xã hội và lối sống; (2) Phong tục tập quán, niềm tin và tín ngưỡng, cách tổ chức cộng đồng, vai trò của gia đình, sự tôn kính người già và những người có quyền lực trong làng bản; và (3) Mức độ hội nhập xã hội [73], [74], [78]. Theo kết quả tổng điều tra hộ nghèo (62/63 tỉnh, thành), theo chuẩn nghèo mới (năm 2011), tổng số hộ nghèo của cả nước là khoảng trên 3,3 triệu hộ (chiếm tỷ lệ 15,25%) [30].
Người nghèo tập trung phần lớn ở khu vực nông thôn (90%); ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, miền núi Duyên hải miền Trung, Tây Nam Bộ, là những nơi đồng bào DTTS sinh sống, tỷ lệ hộ nghèo còn cao (trên 50%). Sự đa dạng của các dân tộc sống ở Việt Nam với các yếu tố văn hóa xã hội và kinh tế ở mức độ khác nhau giữa các nhóm DTTS dẫn đến dễ bị tổn thương đối với HIV/AIDS và việc tiếp cận các dịch vụ y tế cũng tương ứng với nguồn lực còn tương đối yếu và đây là vấn đề mà chương trình và các dự án cần nỗ lực để giảm bớt lỗ hổng này. Nhiễm HIV trong nhóm DTTS đang diễn ra hết sức phức tạp và khó kiểm soát. Tác động của nhiễm HIV đối với DTTS đã ảnh hưởng đến cộng đồng, người dân thuộc nhóm này phải đối mặt với nhiều thách thức xã hội và kinh tế, chẳng hạn như nghèo đói, lạm dụng chất ma túy, mại dâm, bất bình đẳng về chăm sóc sức khỏe [15], [74].
Với mức độ di biến động dân cư, giao lưu ngày càng tăng và phát triển kinh tế đang diễn ra tại một số khu vực DTTS, tương ứng các chính sách phát triển quốc gia thúc đẩy phát triển kinh tế làm gia tăng động lực cho thương mại và giao lưu, góp phần gia tăng nhanh chóng tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS [117]. Sự lây lan nhanh chóng của HIV, các mối tương quan của đói nghèo, hạn chế tiếp cận với các dịch vụ giáo dục và y tế. Áp lực phải thay đổi lối sống sinh hoạt truyền thống dẫn đến dễ bị tổn thương với HIV/AIDS [15], [65]. Những rào cản đối với việc tiếp cận phòng chống HIV/AIDS của đồng bào DTTS gồm: (1) Hạn chế tiếp cận các dịch vụ phòng lây nhiễm HIV như vấn 7 đề địa hình và giao thông khó khăn, kinh tế nghèo nàn và thiếu giáo dục dẫn đến dân trí thấp, kiến thức về HIV/AIDS thấp, mặt khác việc truyền đạt kiến thức và nâng cao hành vi dự phòng rất khó khăn do lối sống địa phương và phong tục tập quán.
(2) Tiếp xúc với nguy cơ cao dễ bị tổn thương như tình dục không an toàn và sử dụng tiêm chích không an toàn có liên quan với một số nhóm nguy cơ cao tác động đến cuộc sống của các DTTS như: a) áp lực phải rời khỏi bản làng của họ để tìm kiếm việc làm và mức sống khá hơn ở các thị trấn, thành phố; xuất hiện tình trạng nhiều nữ thanh niên DTTS bị lạm dụng tình dục trong khi kiến thức về dự phòng lây nhiễm HIV chưa đầy đủ và thiếu phương tiện hỗ trợ hành vi an toàn như bao cao su (BCS); và b) áp lực thay đổi thói quen sử dụng hút ma túy, tham gia buôn bán vận chuyển ma túy và chuyển sang tiêm chích các loại ma túy thay thế trong điều kiện thiếu bơm kim tiêm (BKT), thiếu kiến thức tiêm chích an toàn. Các điều kiện kinh tế - xã hội Phần lớn đồng bào DTTS ở các tỉnh sống chủ yếu ở vùng cao. Chỉ có một số DTTS sống phần lớn ở vùng thấp như người Hoa, Chàm và Khmer. Có 42 tỉnh mà khu vực miền núi chiếm 3/4 tổng diện tích.
Tại đây, 19 triệu người sinh sống, trong đó có hơn 12 triệu người thuộc nhóm các DTTS. Tại các tỉnh và các đơn vị hành chính cấp dưới (huyện và xã) sự phân bố của các DTTS rất khác nhau [74]. Các nhóm DTTS thường tập trung ở vùng núi, ở phía Bắc họ sống tại 11 tỉnh vùng núi phía Bắc (Đông Bắc và Tây Bắc). Ở các tỉnh Bắc Trung Bộ, khu vực dọc biên giới Việt – Lào, có khoảng 31 nhóm dân tộc sinh sống tại vùng ven biển.
Họ cũng sống ở các tỉnh cao nguyên Trung Bộ, bao gồm 19 tỉnh với 19 nhóm dân tộc. Vùng Tây Nguyên là nơi đến của nhiều nhóm dân tộc mới định cư như người Hoa, Khmer và Chăm, những người sống ở vùng ven biển và vùng thấp, sống xen kẽ với người Kinh ở các tỉnh ven biển Nam Bộ và các tỉnh đồng bằng sông Mê Kông [74], [80]. 8 Tốc độ gia tăng dân số tại các vùng núi cao hơn so với tốc độ phát triển dân số trung bình của cả nước (2,1%). Theo kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009, dân tộc Hoa đang là dân tộc có mức sinh thấp nhất với so với tổng tỷ suất sinh là 1,4 con/phụ nữ; dân tộc Tày, Thái, Mường, Khmer đều thấp hơn mức sinh trung bình chung của cả nước với tổng tỷ suất sinh nằm trong khoảng 1,9 đến 2 con/phụ nữ.
Ba dân tộc có tổng tỷ suất sinh trong 12 tháng trước theo tổng điều tra dân số 2009 cao nhất là Mông (4,96), Thái (2,19) và Khmer (2,0) cũng là 3 dân tộc có tốc độ tăng dân số bình quân trong 10 năm qua cao nhất [80]. Với các điều kiện khó khăn và sự phát triển chậm tại khu vực miền núi, dân cư tại các vùng đó gặp nhiều khó khăn hơn. Dân cư tại đó cũng bị lạc hậu về phát triển kinh tế xã hội. Tỷ lệ nguời DTTS nằm dưới đường chuẩn nghèo (75%) gấp hai lần so với người Kinh (31%).
Khoảng cách về thu nhập và mức sống giữa nhóm người DTTS và nhóm người Kinh ngày càng rộng [80].