MỞ ĐẦU 1. Trong sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp Việt Nam hiện nay công nghệ luyện thép và ngành đúc đang phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, dẫn đến nhu cầu về phôi thép trên toàn quốc là rất lớn. Feromangan là thành phần quan trọng trong công nghiệp luyện thép nên nhu cầu về Feromangan cũng rất lớn. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất Feromangan các nhà máy đã thải ra một lượng chất thải không hề nhỏ, nếu không được xử lý triệt để sẽ gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và sức khỏe của các hộ gia đình xung quanh nhà máy.
Cao Bằng là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, với kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và khai thác khoáng sản. Hiện nay trên địa bàn tỉnh đang có nhiều nhà máy khai thác và sản xuất khoáng sản trong đó có nhà máy sản xuất Feromangan ở xã Ngũ lão, huyện Hòa An là nhà máy đã đi vào hoạt động lâu năm và có quy mô lớn. Xuất phát từ thực tế trên và nguyện vọng của bản thân cùng với sự đồng ý của Ban Giám hiệu Nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Đỗ Thị Lan, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác bảo vệ môi trường của nhà máy sản xuất Feromangan ở xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng”. Mục đích nghiên cứu - Nghiên cứu thực trạng bảo vệ môi trường của nhà máy - Phân tích các mặt tích cực và hạn chế của nhà máy - Đề xuất các giải pháp để bảo vệ môi trường 1.
Ý nghĩa chuyên đề - Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học: thời gian làm đề tài tốt nghiệp là dịp sinh viên tự khẳng định mình, biến những kiến thức đã học thành kiến thức của mình. Cũng qua quá trình làm đề tài em học được cách làm việc nghiên cứu độc lập, tính kỉ luật trong công việc, tiếp cận dần với công việc và rút ra kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này n 2 - Ý nghĩa thực tiễn: + Đánh giá ảnh hưởng của nhà máy sản xuất Pheromangan tới môi trường. + Đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý chất thải của nhà máy + Đề xuất những giải pháp quản lý, giảm thiểu và xử lý ô nhiễm môi trường n 3 3 PHẦN 2 4 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 2. Khái niệm về môi trường Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, đặc biệt từ sau hội nghị Stockholm về môi trường và con người năm 1972.
Tuỳ vào mục đích nghiên cứu, lĩnh vực mà người nghiên cứu có những định nghĩa cho phù hợp. Một số định nghĩa về môi trường: *Định nghĩa 1: Theo định nghĩa rộng nhất thì môi trường là tập hợp các điều kiện và hiện tượng bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc sự kiện. Bất cứ một vật thể, một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường. Đối với cơ thể sống thì “Môi trường sống” là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể [7] *Định nghĩa 2: Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, phát triển và sinh sản của sinh vật [10].
Theo tác giả, môi trường có các thành phần chính tác động qua lại lẫn nhau: Môi trường tự nhiên bao gồm nước, không khí, đất đai, ánh sáng và các sinh vật. Môi trường kiến tạo gồm những cảnh quan được thay đổi do con người. Môi trường không gian gồm những yếu tố về địa điểm, khoảng cách, mật độ, phương hướng và sự thay đổi trong môi trường. * Định nghĩa 3: Môi trường là một phần của ngoại cảnh, bao gồm các hiện tượng và các thực thể của tự nhiên,… mà ở đó, cá thể, quần thể, loài,… có quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp bằng các phản ứng thích nghi của mình [11] Đối với con người, môi trường chứa đựng nội dung rộng.
Theo định nghĩa của UNESCO (1981) thì môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập n 4 quán, niềm tin…) trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Như vậy, môi trường sống đối với con người không chỉ là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển cho một thực thể sinh vật và con người mà còn là “khung cảnh của cuộc sống, của lao động và sự vui chơi giải trí của con người” [7] Để thống nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, định nghĩa như sau: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [7].2 Khái niệm về ô nhiễm môi trường Theo Điều 6 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 [5] : “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”. Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân gây ô nhiềm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được xem là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu 2. Ô nhiễm môi trường không khí - Ô nhiễm không khí là sự có mặt của các chất lạ có mặt trong không khí hay là sự biến đổi quan trọng trong thành phần khí quyển gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sinh vật và các hệ sinh thái khác. - Chất gây ô nhiễm môi trường không khí: Là những chất mà sự có mặt của nó trong không khí gây ra những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, sự sinh trưởng và phát triển của động thực vật… n 5 + Chất ô nhiễm sơ cấp: Là chất ô nhiễm xâm nhập trực tiếp vào môi trường từ nguồn phát sinh : SO2, CO2, CO, bụi … + Chất ô nhiễm thứ cấp: Là chất thâm nhập vào môi trường thông qua phản ứng giữa các chất ô nhiễm sơ cấp và phản ứng thông thường của khí quyển: so3 sinh ra từ: SO2 + O2 ; H2SO4 sinh ra từ : SO2 + O2 + H2O… 2. Khái niệm ô nhiễm môi trường nước.
Hiến chương châu Âu về nước, định nghĩa: “ Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí , cho động vật nuôi và các loài hoang dã ”. Ngoài ra ta còn có định nghĩa sau: “ Sự ô nhiễm nước là sự thay đổi của thành phần và tính chất của nước ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của con ngưươì và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm của nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người ” [7] Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại, kể cả xác chết của chúng. Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước.
Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý.1 Các văn bản pháp luật - Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006 - Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28 tháng 02 năm 2008 về việc sử đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006 ngày 09 tháng 08 năm n 6 2006 của Chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. - Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2010. - Luật Tài nguyên nước Luật số 17/2012/QH13 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ngày 21 tháng 6 năm 2012; - Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 28/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường - Nghị định 59/2007/NĐ-CP ngày 9/4/2007 của Chính phủ về quản lý chất thải rắn - Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/7/2011 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường - Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài nguyên và môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại 2.