Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành công nghiệp luyện thép và đúc tại Việt Nam có tốc độ tăng trưởng cao, kéo theo nhu cầu lớn về phôi thép và hợp kim phụ trợ. Feromangan giữ vai trò thiết yếu trong việc khử oxy và hợp kim hóa thép, dẫn đến sự mở rộng của các cơ sở sản xuất feromangan trên cả nước. Tuy nhiên, quy trình luyện kim này làm phát sinh lượng lớn khí thải, bụi chứa kim loại, nước thải làm mát và chất thải rắn (xỉ lò), tiềm ẩn nguy cơ tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và đời sống dân cư lân cận nếu công tác xử lý không đạt chuẩn.

Tỉnh Cao Bằng là địa bàn miền núi phía Bắc có nguồn tài nguyên quặng mangan phong phú với trữ lượng dự báo khoảng 6,13 triệu tấn, tập trung nhiều cơ sở khai thác và chế biến luyện kim. Trong đó, Nhà máy sản xuất Feromangan thuộc Công ty Cổ phần Khoáng sản Tây Giang Cao Bằng đặt tại xã Ngũ Lão, huyện Hòa An là cơ sở quy mô lớn đã đi vào vận hành nhiều năm. Khóa luận của tác giả Nguyễn Minh Châu được thực hiện nhằm kiểm tra, đánh giá toàn diện công tác bảo vệ môi trường tại nhà máy này.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm ba nội dung:

  1. Nghiên cứu thực trạng bảo vệ môi trường của nhà máy sản xuất Feromangan tại xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
  2. Phân tích các mặt tích cực và hạn chế trong công tác quản lý, xử lý chất thải của nhà máy.
  3. Đề xuất các giải pháp khắc phục ô nhiễm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ môi trường cho cơ sở sản xuất.

Nhiệm vụ nghiên cứu gắn liền với việc khảo sát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội địa phương; đánh giá hiện trạng các thành phần môi trường (không khí, nước, chất thải rắn); khảo sát dây chuyền công nghệ và các công trình xử lý chất thải hiện hữu; xác định nguồn thải còn tồn đọng và đề xuất biện pháp xử lý.

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác bảo vệ môi trường và chất lượng môi trường đất, nước, không khí tại nhà máy sản xuất Feromangan xã Ngũ Lão, huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khuôn viên và khu vực phụ cận chịu tác động trực tiếp từ Nhà máy sản xuất Feromangan xã Ngũ Lão thuộc Công ty Cổ phần Khoáng sản Tây Giang.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 05/2014 đến tháng 08/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm môi trường, ô nhiễm môi trường theo Luật Bảo vệ môi trường 2005, cơ chế hình thành ô nhiễm không khí (chất ô nhiễm sơ cấp và thứ cấp), bản chất ô nhiễm nước theo Hiến chương châu Âu về nước và tài liệu chuyên ngành môi trường. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng trong nghiên cứu gồm:

  • Hệ thống văn bản pháp luật: Luật Bảo vệ môi trường năm 2005; Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13; Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 21/2008/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều hướng dẫn Luật BVMT; Nghị định số 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường; Nghị định số 29/2011/NĐ-CP về đánh giá môi trường chiến lược, ĐTM và cam kết BVMT; Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn; Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT; Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT về quản lý chất thải nguy hại.
  • Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: QCVN 05:2009/BTNMT (chất lượng không khí xung quanh); QCVN 06:2009/BTNMT (chất độc hại trong không khí xung quanh); QCVN 19:2009/BTNMT (khí thải công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ); QCVN 20:2009/BTNMT (khí thải đối với chất hữu cơ); QCVN 26:2010/BTNMT (tiếng ồn); QCVN 27:2010/BTNMT (độ rung); QCVN 14:2008/BTNMT (nước thải sinh hoạt); QCVN 40:2011/BTNMT (nước thải công nghiệp); QCVN 08:2008/BTNMT (nước mặt); QCVN 09:2008/BTNMT (nước ngầm); QCVN 03:2008/BTNMT và QCVN 45:2012/BTNMT (kim loại nặng và dioxin trong đất); QCVN 07:2009/BTNMT (ngưỡng chất thải nguy hại).

Tác giả đã phối hợp cùng Trung tâm Quan trắc và Phân tích môi trường (thuộc Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng) để thực hiện các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Tổng hợp số liệu khí tượng thủy văn, tình hình kinh tế - xã hội xã Ngũ Lão, hồ sơ Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), số liệu công nghệ và sổ đăng ký chủ nguồn thải của nhà máy.
  • Phương pháp thống kê, liệt kê: Thống kê các chỉ tiêu vật lý, hóa học; lập bảng nhận dạng toàn bộ nguồn phát sinh chất thải và các đối tượng chịu tác động môi trường trong giai đoạn vận hành.
  • Phương pháp tổng hợp, so sánh: Đối chiếu nồng độ các thông số môi trường đo đạc thực tế với giới hạn tối đa cho phép trong các QCVN và TCVN liên quan.
  • Phương pháp lấy mẫu hiện trường và phân tích phòng thí nghiệm: Lấy tổng cộng 08 mẫu môi trường vào ngày 16/5/2013 và tháng 10/2013:
    • 04 mẫu không khí xung quanh: KK1 (khu vực chứa thành phẩm feromangan), KK2 (khu vực nghiền quặng), KK3 (lề Quốc lộ 3 cách nhà máy 200m về hướng Đông Bắc), KK4 (khu vực lò luyện feromangan).
    • 01 mẫu khí thải công nghiệp: KT1 (ống khói nhà máy sản xuất).
    • 01 mẫu nước thải sinh hoạt: NT (mương dẫn nước cạnh nhà ăn).
    • 02 mẫu nước thải sản xuất: NT1 (mương dẫn gần bể làm mát), NT2 (mương dẫn phòng hóa nghiệm).
    • Quy chuẩn phân tích tuân thủ TCVN 5067-1995 (bụi), TCVN 5972-1995 (CO), TCVN 5971-1995 (SO2), TCVN 6137-1995 (NO2), TCVN 5964-1995 (tiếng ồn), TCVN 5992-1995, TCVN 5993-1995 và TCVN 5996-1995 (lấy và bảo quản mẫu nước).

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ sự phát triển của công nghiệp luyện gang thép đòi hỏi lượng lớn feromangan, đối chiếu với thực trạng phát sinh ô nhiễm tại các nhà máy luyện kim trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Khóa luận xác lập mục đích nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn nhằm cung cấp luận cứ cho công tác quản trị môi trường doanh nghiệp.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Phần này hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về môi trường, thành phần ô nhiễm không khí và ô nhiễm nước. Tác giả tổng thuật khung pháp lý BVMT của Việt Nam và các tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia. Về mặt thực tiễn, tác giả cung cấp bức tranh tổng thể về tài nguyên mangan Việt Nam (khoảng 11,1 triệu tấn) và quy hoạch khai thác tại các tỉnh Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng. Tại Cao Bằng, tổng số cơ sở luyện feromangan là 10 nhà máy với tổng sản lượng thiết kế 68.000 tấn; trong đó Công ty Cổ phần Khoáng sản Tây Giang đầu tư 600 tỷ đồng xây dựng 2 lò luyện công suất 43.000 tấn/năm và 1 lò thiêu kết mangan 400 tấn/ngày, sử dụng nguyên liệu quặng mangan mỏ Tốc Tát (Trà Lĩnh), quặng thu mua từ Hà Giang và nhập khẩu từ Úc, Nam Phi.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương trình bày chi tiết tọa độ lấy mẫu, mạng lưới giám sát 8 điểm tại nhà máy (với tọa độ trắc địa cụ thể cho các điểm KK1, KK2, KK3, KK4, KT1, NT, NT1, NT2). Mô tả chi tiết quy trình lấy mẫu, thiết bị phân tích của hãng Testo, các phương pháp chuẩn độ, khối lượng, sắc ký khí và so màu quang phổ theo TCVN.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này chiếm dung lượng chính của khóa luận, phản ánh chi tiết hiện trạng cơ sở sản xuất và các kết quả định lượng:

1. Đặc điểm cơ bản của nhà máy: Tổng diện tích mặt bằng là 40.000 m2 (4 ha), gồm 20.000 m2 xây dựng công trình công nghiệp và 20.000 m2 dành cho cây xanh, hạ tầng kỹ thuật và công trình môi trường. Ngoài ra, công ty quản lý diện tích rừng trồng keo và thông 165 ha (phía Đông Bắc) đóng vai trò là vành đai đệm sinh thái. Nhà máy sở hữu 02 lò điện hồ quang 12.500 KVA công suất 21.600 tấn/năm/lò, quạt hút bụi 160 kW lưu lượng 124.000 m3/h, các máy nén khí W-0,9/8 và hệ thống băng tải cấp liệu. Dây chuyền sản xuất trải qua các bước: đập nghiền, sàng quặng (<5mm), trộn thùng quay, nung thiêu kết quặng (nhận CO nóng từ lò sinh khí than), cấp liệu vào lò điện hồ quang nấu luyện, tháo lò tách xỉ định kỳ (8 giờ/lần) và làm nguội feromangan bằng không khí.

2. Hiện trạng môi trường không khí: Kết quả quan trắc không khí xung quanh năm 2012 và 2013 tại 4 vị trí cho thấy nồng độ các loại khí độc hại đều nằm trong ngưỡng an toàn, riêng chỉ tiêu bụi lơ lửng tại khu vực sản xuất chính có sự gia tăng.

TT Thông số đo Đơn vị KK1 (Thành phẩm) KK2 (Nghiền quặng) KK3 (Lề QL3) KK4 (Lò luyện) QCVN 05:2009/BTNMT (1 giờ)
1 H2S mg/m3 Kph Kph Kph Kph 0,042*
2 NH3 mg/m3 0,015 0,014 0,017 0,003 0,2*
3 SO2 mg/m3 0,034 0,032 0,042 0,043 0,35
4 CO mg/m3 1,32 1,04 4,02 4,82 30
5 NO2 mg/m3 0,031 0,028 0,046 0,048 0,2
6 Bụi lơ lửng (TSP) mg/m3 0,117 0,107 0,147 0,316 0,3

*(Ghi chú: Kph: Không phát hiện; : Theo QCVN 06:2009/BTNMT).

Tại điểm KK4 (lò luyện feromangan), nồng độ bụi lơ lửng đạt 0,316 mg/m3, vượt giới hạn cho phép của QCVN 05:2009/BTNMT (0,3 mg/m3). Khí thải ống khói (KT1) ghi nhận nồng độ bụi 185 mg/m3, CO là 562 mg/m3, SO2 là 289 mg/m3, NO2 là 371 mg/m3, hydrocacbon là 441 mg/m3; tất cả đều đạt cột B của QCVN 19:2009/BTNMT.

3. Hiện trạng môi trường nước: Nguồn tiếp nhận cuối cùng của nước thải là suối Khuổi Hân.

  • Nước thải sinh hoạt: Khảo sát mẫu nước thải tại mương dẫn gần nhà ăn ghi nhận sự ô nhiễm nghiêm trọng về chất rắn lơ lửng và vi sinh vật. Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) đạt 312 mg/l (vượt 3,12 lần so với chuẩn 100 mg/l của QCVN 14:2008/BTNMT Cột B); tổng Coliform đạt 32.000 MPN/100ml (vượt 6,4 lần so với mức giới hạn 5.000 MPN/100ml). Nhu cầu oxy hóa học (COD) ở mức 867,3 mg/l.
  • Nước thải sản xuất: Nhà máy sử dụng 5.200 m3/ngày nước phục vụ làm mát lò điện hồ quang. Kết quả phân tích tại hai điểm NT1 (mương dẫn gần bể làm mát) và NT2 (mương dẫn phòng hóa nghiệm) cho thấy toàn bộ 16 chỉ tiêu đều đạt QCVN 40:2011/BTNMT Cột B (NT1: pH = 7,47; COD = 16,2 mg/l; TSS = 9 mg/l; Coliform = 890 MPN/100ml. NT2: pH = 7,94; COD = 37,2 mg/l; TSS = 21 mg/l; Coliform = 1.200 MPN/100ml; các ion kim loại nặng Pb, Cd, Hg, As, Cr6+, Zn, Cu đều ở nồng độ vết). Nước làm mát chủ yếu bị tác động về nhiệt (nhiệt độ NT1 là 34,47 °C, NT2 là 36,64 °C, dưới ngưỡng 40 °C).

4. Hiện trạng chất thải rắn và chất thải nguy hại:

  • Chất thải rắn sinh hoạt: Với 350 lao động, hệ số phát thải 0,8 kg/người/ngày, khối lượng rác sinh hoạt phát sinh là 280 kg/ngày (gồm 50,1% rác thực phẩm thừa ~ 87,6 kg; 5,5% túi nilon, nhựa; 4,2% giấy vụn; 2,5% kim loại; 37,7% thành phần khác). Bùn thải bể tự hoại phát sinh khoảng 10 kg/tháng.
  • Chất thải rắn công nghiệp: Dây chuyền tạo ra khoảng 100 tấn xỉ thải/ngày đêm (khoảng 38.880 tấn/năm, chiếm 90% sản lượng feromangan). Cơ cấu xử lý và phân loại xỉ:
    • Xỉ hồi lò (chiếm 15% ~ 5.832 tấn/năm): tuần hoàn nấu luyện lại.
    • Xỉ tuyển lại Mn (chiếm 35% ~ 13.608 tấn/năm): vận chuyển vào mỏ Bản Khuông tuyển làm bột silicomangan.
    • Xỉ bông (chiếm 35% ~ 13.608 tấn/năm): bán làm phụ gia xi măng và bê tông.
    • Xỉ cục (chiếm 15% ~ 5.832 tấn/năm): tập kết về bãi thải rắn của nhà máy.
  • Chất thải nguy hại: Khối lượng đăng ký là 805 kg/năm, bao gồm dầu mỡ bôi trơn thải, giẻ lau dính dầu, bóng đèn huỳnh quang hỏng và ắc quy chì thải.

5. Đánh giá các công trình bảo vệ môi trường đã lắp đặt:

  • Xử lý bụi và khí thải: Lò thiêu kết sử dụng hệ thống cyclone lọc thô kết hợp cyclone lọc tinh hấp phụ bằng nước chân tháp, khí thải thoát qua ống khói 35m; cửa ra sản phẩm trang bị hệ thống lọc bụi túi vải (quạt hút 900 kW/10 kV, rũ bụi khí nén định kỳ 5 phút, ống khói 16m). Hai lò luyện feromangan sử dụng 2 hệ thống lọc bụi túi vải độc lập (ống xoắn lắng trọng lực, 6 buồng lắng chứa tổng cộng 1.080 túi vải tay áo, van xung khí nén tự động mở khi nhiệt độ >130 °C, hiệu suất xử lý bụi trên 96%, ống khói cao 16m; kèm 2 ống khói sự cố dự phòng).
  • Xử lý nước thải: Hệ thống thoát nước mưa gồm 900m máng dẫn (0,6m x 0,6m) và 15 hố ga lắng cặn (0,8m x 0,6m x 0,3m); nước thải sinh hoạt xử lý qua bể tự hoại 3 ngăn có ngăn lọc kỵ khí (hiệu suất xử lý 80 - 90%); nước làm mát lò luyện được tuần hoàn khép kín bằng bể chứa dung tích 5.000 m3 (18 ô, mỗi ô 10,5m x 9,5m x 3m) và 3 tháp làm mát tản nhiệt không thải ra môi trường; nước thải rửa khí lò thiêu kết đi qua bể lắng lọc 3 ngăn 15 m2 (thể tích 30 m3) dùng vật liệu lọc xỉ bông và cát sỏi; nước làm nguội xỉ bố trí bể 35 m2 bốc hơi tự nhiên.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết các ưu điểm và thiếu sót của nhà máy, khẳng định nhà máy đã tuân thủ phần lớn quy định ĐTM nhưng cần khắc phục ngay chỉ tiêu bụi lò luyện và nước thải sinh hoạt.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã định lượng cụ thể bức tranh môi trường thực tế tại nhà máy sản xuất Feromangan xã Ngũ Lão thông qua các chuỗi số liệu đo đạc độc lập:

  • Xác định hiệu suất thu hồi bụi của hệ thống lọc bụi túi vải đạt trên 96%, khí thải ống khói (KT1) đạt tiêu chuẩn QCVN 19:2009/BTNMT Cột B (bụi đạt 185 mg/m3 so với giới hạn 200 mg/m3).
  • Chỉ ra điểm vi phạm ngưỡng quy chuẩn môi trường xung quanh: thông số bụi TSP tại lò điện (KK4) vượt ngưỡng cho phép 5,3% (0,316 mg/m3 so với 0,3 mg/m3 theo QCVN 05:2009/BTNMT).
  • Phát hiện hiện tượng ô nhiễm cục bộ trong dòng thải sinh hoạt: TSS vượt 3,12 lần (312 mg/l) và vi sinh Coliform vượt 6,4 lần (32.000 MPN/100ml) theo QCVN 14:2008/BTNMT Cột B, nguyên nhân do hiệu quả lắng lọc của bể tự hoại chưa triệt để và có sự hòa lẫn của nước mưa bề mặt cuốn trôi cặn bẩn.
  • Chứng minh tính tuần hoàn triệt để của hệ thống nước làm mát sản xuất (5.200 m3/ngày) thông qua bể chứa 5.000 m3 và 3 tháp giải nhiệt, loại trừ nguy cơ gây ô nhiễm hóa chất vào suối Khuổi Hân.
  • Lập bảng cân bằng vật chất đối với xỉ thải công nghiệp: 85% lượng xỉ phát sinh (khoảng 33.048 tấn/năm) đã được tái sử dụng tuần hoàn (hồi lò 15%, tuyển thu hồi mangan 35%, làm phụ gia vật liệu xây dựng 35%), chỉ còn 15% xỉ cục đưa về bãi thải.

Các giải pháp tác giả đề xuất tập trung vào 3 nhóm:

  • Giải pháp kỹ thuật: Cải tạo, bổ sung hóa chất khử trùng (Cloramin B hoặc Javen) tại ngăn lọc cuối của bể tự hoại nhằm xử lý triệt để Coliform; xây dựng gờ thu gom ngăn nước mưa chảy tràn vào mương nước thải sinh hoạt; thường xuyên kiểm tra thay thế túi vải lọc bị rách tại 6 buồng lọc của lò luyện; lắp đặt bạt che chắn và tường bao quanh bãi tập kết xỉ thải 5.000 m2 để hạn chế bụi phát tán vào mùa khô; duy trì tưới nước đường nội bộ bằng tuyến ống phi 27.
  • Giải pháp quản lý: Giám sát chặt chẽ nhật ký vận hành xả bụi khí nén (chu kỳ 5 phút/lần); kiểm soát an toàn lao động, trang bị đầy đủ bảo hộ (khẩu trang lọc bụi, mũ an toàn theo QCVN 06:2012/BLĐTBXH); thực hiện phân loại, lưu kho chất thải nguy hại (805 kg/năm) đúng quy định Thông tư 12/2011/TT-BTNMT; tuân thủ quy chuẩn an toàn điện QCVN 01:2008/BCT đối với trạm biến áp và lò hồ quang.
  • Giải pháp tuyên truyền, giáo dục: Ban hành quy chế thưởng phạt về giữ gìn vệ sinh phân xưởng, tổ chức phong trào vệ sinh công nghiệp và hướng dẫn công nhân phân loại chất thải tại nguồn bằng hệ thống 31 thùng rác chuyên dụng.

Về mặt học thuật và thực tiễn, đề tài cung cấp hồ sơ kiểm toán môi trường cơ sở chi tiết, giúp cơ quan quản lý (Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Cao Bằng) nắm bắt chính xác hiện trạng hoạt động của một trong những nhà máy luyện feromangan lớn nhất địa bàn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận bộc lộ một số giới hạn gắn liền với điều kiện nghiên cứu tại thời điểm năm 2014:

  • Dữ liệu quan trắc hiện trường được thực hiện trong thời gian ngắn (mẫu đo đạc thực hiện vào ngày 16/5/2013 và tháng 10/2013), chưa phản ánh được sự biến thiên theo chu kỳ đủ 4 mùa trong năm, đặc biệt giữa mùa mưa và mùa khô hạn kéo dài (tháng 1 đến tháng 4) tại huyện Hòa An.
  • Nghiên cứu chưa thực hiện lấy mẫu phân tích dư lượng kim loại nặng trong môi trường đất xung quanh bãi chứa xỉ thải 5.000 m2 và chất lượng trầm tích đáy suối Khuổi Hân dù đã liệt kê các quy chuẩn QCVN 03:2008/BTNMT vào danh mục so sánh.
  • Các hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng quan trắc định kỳ đa điểm theo hướng gió chủ đạo (gió Đông Nam), đánh giá hàm lượng hơi kim loại mangan (Mn) phát tán trong môi trường lao động và khảo sát mức độ tích tụ sinh học của kim loại nặng trong hệ sinh thái nông nghiệp lân cận xã Ngũ Lão.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Tài nguyên: Tài liệu cung cấp cấu trúc mẫu chuẩn mực cho một khóa luận đánh giá hiện trạng môi trường cơ sở công nghiệp nặng; minh họa phương pháp đối chiếu kết quả thực nghiệm với hệ thống QCVN/TCVN chuyên ngành.
  • Cán bộ quản trị môi trường nhà máy luyện kim: Bản vẽ nguyên lý và thông số vận hành của hệ thống lọc bụi cyclone kết hợp màng nước, hệ thống lọc bụi túi vải tay áo rũ bụi khí nén (xử lý khí lò hồ quang 12.500 KVA), cùng mô hình tuần hoàn nước làm mát 5.000 m3 là tài liệu kỹ thuật có thể ứng dụng trực tiếp trong thực tiễn.
  • Nhà nghiên cứu về công nghiệp khoáng sản tỉnh Cao Bằng: Cung cấp số liệu thứ cấp đáng tin cậy về quy mô phân bố mỏ quặng mangan, năng lực chế biến của các doanh nghiệp trên địa bàn tính đến năm 2014 và tỷ lệ phát thải xỉ lò feromangan.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn phát sinh bụi lớn nhất tại nhà máy là từ công đoạn nào và nồng độ bụi tại khu vực đó ra sao?
Nguồn phát sinh bụi lớn nhất là từ lò hồ quang điện luyện feromangan, với thành phần bụi chứa MnO chiếm tới 49% khí thải lò. Kết quả đo đạc tại điểm KK4 (lò luyện) ghi nhận nồng độ bụi lơ lửng TSP đạt 0,316 mg/m3, vượt ngưỡng cho phép của QCVN 05:2009/BTNMT (giới hạn là 0,3 mg/m3).

2. Nước thải sản xuất của nhà máy có lưu lượng bao nhiêu và được xử lý theo phương thức nào?
Nước thải sản xuất chủ yếu là nước làm mát lò luyện với lưu lượng khoảng 5.200 m3/ngày. Toàn bộ lượng nước này được tuần hoàn khép kín qua hệ thống bể chứa 18 ô (dung tích 5.000 m3) và 3 tháp giải nhiệt cưỡng bức, hoàn toàn không xả thải ra môi trường bên ngoài. Các chỉ tiêu ô nhiễm hóa học của nước làm mát đều đạt chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT Cột B và chỉ mang tính ô nhiễm nhiệt (dao động từ 34,47 °C đến 36,64 °C).

3. Chỉ tiêu môi trường nào trong nước thải của nhà máy bị vượt quy chuẩn cho phép?
Nước thải sinh hoạt tại mương dẫn cạnh nhà ăn (điểm NT) có 2 chỉ tiêu vượt quy chuẩn QCVN 14:2008/BTNMT Cột B: Tổng chất rắn lơ lửng (TSS) đạt 312 mg/l (vượt giới hạn 100 mg/l) và tổng vi sinh Coliform đạt 32.000 MPN/100ml (vượt mức cho phép 5.000 MPN/100ml), nguyên nhân do bể tự hoại chưa xử lý triệt để và bị nước mưa bề mặt tràn vào cuốn theo chất bẩn.

4. Khối lượng và phương án giải quyết đối với chất thải rắn (xỉ lò) của nhà máy được thực hiện như thế nào?
Dây chuyền tạo ra khoảng 100 tấn xỉ thải/ngày (tương đương 38.880 tấn/năm). Nhà máy phân loại và xử lý theo 4 hướng: 15% xỉ hồi lò để nấu lại; 35% xỉ có hàm lượng mangan cao chuyển vào mỏ Bản Khuông để tuyển bột silicomangan; 35% xỉ bông làm nguội nhanh bán cho các nhà máy sản xuất xi măng và bê tông; chỉ còn 15% xỉ cục (5.832 tấn/năm) được chuyển ra bãi tập kết chất thải rắn.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Minh Châu đã phản ánh chi tiết, khách quan bức tranh công tác bảo vệ môi trường tại Nhà máy sản xuất Feromangan thuộc Công ty Cổ phần Khoáng sản Tây Giang tại xã Ngũ Lão, huyện Hòa An. Dựa trên chuỗi số liệu quan trắc thực địa và quy trình công nghệ, công trình đã làm rõ các điểm làm được như vận hành tuần hoàn khép kín 5.200 m3/ngày nước làm mát, thu hồi tái sử dụng 85% lượng xỉ lò và lắp đặt hệ thống lọc bụi túi vải đạt hiệu suất trên 96%. Đồng thời, nghiên cứu đã chỉ rõ hai tồn tại kỹ thuật trọng yếu gồm bụi TSP cục bộ tại lò luyện vượt quy chuẩn (0,316 mg/m3) và nước thải sinh hoạt chưa đạt chuẩn về TSS, Coliform, từ đó xác lập hệ thống giải pháp khắc phục có tính khả thi cao cho cơ sở sản xuất.