Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật ”(Theo khoản 1, điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014) [6]. Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội.
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người. “Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia”[3]. Với nội dung trên quản lý môi trường cần phải hướng tới những mục tiêu cơ bản sau đây: - Thứ nhất là phải khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. - Thứ hai là Phát triển bền vững Kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio - 92 đề xuất và được tuyên bố Johannesburg Nam Phi về phát triển bền vững 26/8 - 4/9/2002 tái khẳng định.
Trong đó với nội dụng cơ bản cần phải đạt được là phát triển kinh tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học. - Thứ ba là Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư [3]. 5 Các nguyên tắc cơ bản trong quản lý môi trường Quản lý môi trường phải phản ánh các quy luật khách quan vào điều kiện cụ thể của từng đối tượng quản lý.
Ở nước ta quản lý môi trường dựa vào các nguyên tắc sau[3]: Bảo đảm tính hệ thống: Môi trường là một hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử hợp thành. Các phần tử có bản chất tự nhiên và xã hội khác nhau. Trên cơ sở thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin về hoạt động các đối tưởng trong hệ thống môi trường, nhiệm vụ của quản lý môi trường là đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhằm thúc đẩy các phần tử cấu thành hoạt động đều đặn, cân đối, hài hòa hướng tới mục tiêu đã định. Bảo đảm tính tổng hợp: Các hoạt động phát triển thường diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, dù dưới hình thức nào, quy mô và tốc độ hoạt động ra sao, mỗi loại hoạt động đều gây ra tác động tổng hợp lên hệ thống môi trường.
Vì thế, trong khi hoạch định chính sách quản lý môi trường cần phải tính đến tác động tổng hợp và hậu quả của chúng. Bảo đảm tính liên tục và nhất quán: Môi trường là một hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trình trao đổi vật chất, năng lượng. Đặc tính này quy định tính nhất quán và tính liên tục của tác động quản lý lên môi trường, đòi hỏi không ngừng nâng cao năng lực dự đoán và xử lý tổng hợp cũng như năng lực quản lý vĩ mô Nhà nước. Bảo đảm tập trung dân chủ: Quản lý môi trường được thực hiện nhiều cấp khác nhau.
Vì thế, cần phải bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý môi trường. Tập trung phải thực hiện trên cơ sở bàn bạc, quyết định các vấn đề có liên quan tới môi trường theo phương châm “dân biết, dân bàn, 6 dân làm, dân kiểm tra”. Ngược lại, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ tập trung, không mâu thuẫn, đối với tập trung, lãng phí nguồn lực xã hội. Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ: Mỗi thành phần môi trường như không khí, nước, đất, âm thanh, ánh sáng,.
thường do từng ngành quản lý và sử dụng, nhưng thành phần môi trường có thể chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau. Do đó nếu không kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ thì sẽ làm giảm hiệu lực và hiệu quả của quản lý môi trường. Kết hợp hài hòa các lợi ích: Quản lý môi trường là quản lý các hoạt động phát triển do con người tiến hành, tổ chức và phát huy tính tích cực của hoạt động vì mục đích phát triển bền vững. Các cá nhân, tập thể hay cộng đồng, đều có những lợi ích, nguyện vọng, nhu cầu nhất định.
Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý môi trường là chú ý đến lợi ích của con người, để khuyến khích có hiệu quả hành vi và thái độ ứng xử phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường. Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý kinh tế, quản lý xã hội Để đạt tới mục tiêu phát triển bền vững, hướng đến một xã hội bền vững trong tương lai, ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển, phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý kinh tế, quản lý xã hội thông qua việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển đúng đắn, có tầm bao quát và tính tổng hợp, thông qua quá trình hòa nhập các kế hoạch và đầu tư về môi trường vào các kế hoạch đầu tư kinh tế - xã hội ở tất cả các khâu, các cấp quản lý Nhà nước. Tiết kiệm và hiệu quả Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt liên quan chặt chẽ với nhau của quản lý môi trường, đảm bảo khai thác và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả. Thông qua việc hoạch định chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường quốc 7 gia để đảm bảo tiêu hao năng lượng, tiết kiệm lao động, đảm bảo đầu tư vật chất và tài chính có trọng điểm.Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23 tháng 6 năm 2014; - Luật Thuế bảo vệ môi trường số 57/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010; - Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2012.
- Thông tư số 152/2011/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thi hành Nghị định số 67/NĐ-CP ngày 08 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế bảo vệ môi trường, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2012. - Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2012; - Nghị định số 201/2013/N Đ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên nước; - Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; - Thông tư liên tịch số 63/2013/TTLT-BTC-BTNMT ngày 15 tháng 5 năm 2013 của Bộ Tài chính – Bộ Tài nguyên và Môi trường Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 25/2013/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải; - Luật Khai thác khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 15 tháng 11 năm 2010; - Nghị định số 15/2012/NĐ-CP ngày 9 tháng 2 năm 2012 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Khoáng sản; - Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; 8 - Thông tư số 158/2011/TT-BTC ngày 16 tháng 11 năm 2011 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 74/2011/NĐ-CP ngày 25 tháng 8 năm 2011 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; - Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn; - Thông tư số 39/2008/TT - BTC ngày 19 tháng 5 năm 2008 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ-CP ngày 29 tháng 11 năm 2007 của Chính phủ về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn; - Các tiêu chuẩn, quy chuẩn Việt Nam về môi trường do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Quản lý môi trường bằng các công cụ kinh tế 1. Khái niệm công cụ kinh tế Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là các công cụ chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường[3].
Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường có tác động trực tiếp tới thu nhập hoặc hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm ngăn ngừa tác động tiêu cực tới môi trường. Công cụ kinh tế có thể tác động trực tiếp vào các sản xuất dưới dạng thuế môi trường, phí xả thải hoặc trực tiếp vào người tiêu thụ dưới dạng phí sử dụng. Trong tất cả các trường hợp đó, công cụ kinh tế đều có mục đích chung là hạn chế lượng chất thải phát sinh và giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên, năng lượng. Các công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả từ đó làm thay đổi chi phí hoặc lợi ích của các chủ thể.
Việc sử dụng công cụ kinh tế để kích thích các chủ thể hoạt động có lợi cho môi trường theo hai nguyên tắc: BPP (người 9 hưởng lợi phải trả tiền) và PPP (người gây ô nhiễm phải trả tiền). Theo nguyên tắc PPP thì ở mức ô nhiễm cao sẽ phải chịu phạt về tài chính cao hơn, còn ở mức ô nhiễm thấp hơn thì chịu phạt thấp hơn, hoặc được hưởng. Đối với nguyên tắc BPP thì người sử dụng phải trả toàn bộ chi phí xã hội cho sự cung cấp nguồn lực đó (ví dụ phí nước thải và phí dịch vụ liên quan đến việc xử lý nước thải).