Mở đầu : trình bay cơ sở lý luận, mục tiêu, phương pháp và ý nghĩa nghiên cứu năng lực hoạt động của công ty : trình bày các khái niệm xung quanh quan tri kinh doanh, thực tiễn tình hình áp dụng quản trị kinh doanh ở Việt Nam. Đồng thời dựa vào những mô hình nghiên cứu trước đề lựa chọn biến phù hợp. Bên cạnh quản trị kinh doanh, phần này còn trình bày một số nội dung liên quan tới năng lực hoạt động của công ty như : năng lực hoạt động của công ty là gì ? Năng lực này có thể 11165753 Nguyễn Hữu Tùng Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế kinh doanh và năng lực hoạt động của công ty ? + Chương 2. Phương pháp nghiên cứu , chọn mau và thu thập dit liệu : chương 2 trình bày các nội dung liên quan tới việc chọn mẫu và mô hình phân tích + Chương 3.
Tổng quan về ngành bảo hiểm ở Việt Nam : chương này trình bày một cách sơ bộ tình hình hoạt động của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong những năm gan đây; Và kết quả nghiên cứu : nêu ra các kết quả phân tích sau khi áp dụng các nội dung lý thuyết đã nêu ở phần 2 đề phân tích số liệu thu thập được; + Phần cuối bao gồm các tài liệu đã được tham khảo dé thực hiện nghiên cứu này và phụ lục 11165753 Nguyễn Hữu Tùng Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế 1. QUAN TRI DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm về quản trị doanh nghiệp - Theo nghiên cứu của Nguyễn Trường Sơn ( Đại học Đà Nẵng ), khái niệm về quản trị doanh nghiệp là một khái niệm chưa được sử dụng một cách thống nhất giữa các quốc gia. Sự khác biệt này có thể bắt nguồn từ sự khác biệt về thể chế chính trị, văn hóa và sự phát triển thị trường tài chính ở mỗi nước.
“Tuy nhiên, có thé đưa ra một định nghĩa chung, dung hòa được sự khác nhau trong cách quan niệm về quản trị công ty như sau: Quản trị công ty là một hệ thống các cơ chế và quy định, thông qua đó công ty được định hướng điều hành và kiểm soát nhằm đáp ứng quyền lợi của nhà đầu tư, người lao động và những người điều hành công ty.” - Trong nghiên cứu này, các nhân té trong quản trị doanh nghiệp được tập trung phân tích là cơ chế của một công ty có ảnh hưởng thế nào tới hiệu quả hoạt động của công ty đó. Thực tiễn quản trị doanh nghiệp ở Việt Nam - Trên góc độ quản lý công : Năm 1990 có thé được đánh dấu là 1 năm quan trọng với thi trường doanh nghiệp với việc Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành. Thuật ngữ “doanh nghiệp” với ý nghĩa là đơn vị kinh doanh mới chính thức xuất hiện. Trước đó, năm 1988, Nghị định 50-HĐBT về ban hành Điều lệ Xí nghiệp công nghiệp quốc doanh vẫn gọi đơn vị kinh tế là “ xí nghiệp ” chứ chưa hề có thuật ngữ “ doanh nghiệp ”.
“ Luật doanh nghiệp Việt Nam giống như | sự pha trộn giữa công ty luật của Pháp và công ty luật của người Mỹ gốc Anh” — Chihiro Nunoi ( 2008 ). Qua đây có thé thấy rang các cơ quan chức năng đã gặp | chút van đề trong việc bắt kịp và quan lý thị trường hiện đại trong thời kì mới mở cửa. ( Ví dụ điển hình là nước ta đã lỗ một cách không thể sâu hơn trong thương vụ hợp tác với Coca Cola trong thời kì này. ) 11165753 Nguyễn Hữu Tùng Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế “ Sự sụp đồ của một số công ty lớn trên thế giới như Enron, WorldCom.
hay những vụ bê bối ở những doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam do hoạt động không hiệu quả, làm ăn thua lỗ đều có nguyên nhân sâu xa từ việc thực hiện quán trị doanh nghiệp không tốt” — Đỗ Tiến Thịnh ( 2014 ) ( Nhận định này có thé được thấy thông qua sự sụp đồ của tập đoàn Vinashin — một trong số những doanh nghiệp mang nhiều triển vọng nhất nhưng cũng mang lại vô cùng nhiều tổn thất cho Việt Nam ). + Với doanh nghiệp nói chung, nhà nước quản lý thông qua Luật doanh nghiệp 2005 dé quan lý các van đề liên quan tới quản trị doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp 2005 có thé được coi là một bước phát triển mạnh mẽ trong việc quản lý doanh nghiệp do trong bộ luật này, “ pháp luật về doanh nghiệp đã được thống nhất theo hướng không phân biệt thành phần kinh tế và tính chất sở hữu”. Bộ luật này đã quy định một cách đầy đủ và chỉ tiết các thành phần của bộ máy quản trị với 4 loại doanh nghiệp chủ yếu : doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cô phan.
“ Luật doanh nghiệp 2005 đã giải quyết những van dé cơ bản trong quản trị doanh nghiệp trên cơ sở áp dung các gợi ý, thông lệ quốc tế ( 1 phần trong đó là khuyến nghị quản lý doanh nghiệp hướng tới các nguyên tắc quản trị hiệu quả theo OECD 2004 ) và điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn ở thị trường Việt Nam. Một số cải thiện so với bộ luật năm 1999 có thể ké đến : “ bé sung mô hình công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên do cá nhân làm chủ sở hữu; nâng ty lệ biểu quyết thông qua quyết định trong công ty cỗ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn và quy định về phương thức bầu dồn phiếu trong công ty cô phần; bố sung các quy định nhằm nâng cao tính công khai hóa, minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp. ” Tuy nhiên, luật doanh nghiệp vẫn có thé được cải thiện ở một số điểm, vi dụ như tuổi tối thiểu của thành viên Ban kiểm soát ( hiện quy định là 21 ), 1 người không được cùng lúc làm giám đốc 2 công ty ( trên giấy tờ ) + Với các doanh nghiệp đặc thù, hệ thống pháp luật Việt Nam chia doanh nghiệp ra làm 2 nhánh chính dé quan lý: doanh nghiệp có vốn sở hữu của nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. ( Ngoài ra, Nhà nước còn chia doanh nghiệp đặc thu ra theo các ngành dé quan lý như luật, công chứng, chứng khoán, đã “ tạo bước ngoặt với hoạt động quản trị doanh nghiệp khu vực nay.” Những quy định về quản trị doanh nghiệp cho những doanh nghiệp Nhà nước được thể hiện tại các văn bản hướng dẫn phái sinh của luật doanh nghiệp 2005.
Những quy định 11165753 Nguyễn Hữu Tùng 10 Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế này bao gồm nhưng không giới hạn ở các vấn đề quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu Nhà nước, cơ chế giám sát hoạt động của doanh nghiệp, nghĩa vụ của đại diện vốn Nhà nước tại doanh nghiệp, v. Với một số ngành đặc thù, các điều luật phái sinh từ luật doanh nghiệp 2005 cũng có quy định rất rõ ràng ( chủ yếu ở các vấn đề : loại hình pháp lý mà doanh nghiệp được phép lựa chọn dé thành lập, tiêu chuẩn cho 1 số chức vụ quản lý ,. ) ví dụ như : + Luật các tổ chức tín dụng ( với “ tổ chức tín dụng ” được định nghĩa “ là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tat cả các hoạt động ngân hàng. ” ) quy định rất chặt chẽ việc quán lý các tổ chức này vì đây là loại doanh nghiệp đặc biệt, có ảnh hưởng rat lớn tới nền kinh tế va sự ồn định xã hội ( do có khả năng huy động va quyết định phân bé nguồn vốn của xã hội ).
Một cách cụ thể, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có nhiều quy định liên quan tới quản trị và điều hành tổ chức tín dụng. + Các công ty quản lý quỹ và các công ty chứng khoán, theo quy định của Luật doanh nghiệp, chỉ được tổ chức đưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cô phan. Các công ty này được cấp giấy phép thành lập và hoạt động ( loại đặc thù cho công ty chứng khoán & công ty quản lý quỹ) — giấy này đồng thời được coi là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Luật chứng khoán quy định việc quản lý quỹ của các công ty này.
+ Doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập, tô chức và hoạt động dựa theo các điều khoản của Luật kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, theo Luật kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm phải có dạng tổ chức năm trong số sau : { hiểm liên doanh, tổ chức bảo hiểm tương hỗ, doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài } ( trong khi các khái niệm “ doanh nghiệp nhà nước”, “ doanh nghiệp liên doanh”, “ đoanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài ” ở Luật doanh nghiệp không còn được sử dụng như một loại hình doanh nghiệp). Những yếu tố anh hướng tới hoạt động Quan trị doanh nghiệp 1. Hội đồng quản trị và tính chất của hội đồng quản trị - Định nghĩa chung : + Hội đồng quản trị là một nhóm người được bau ra bởi các cổ đông nhằm giám sát và đưa ra định hướng chiến lược cho ban giám đốc.
Ban giám đốc phải cung 11165753 Nguyễn Hữu Tùng Chuyên đề thực tập chuyên ngành Toán kinh tế cấp các thông tin cần thiết về hoạt động của công ty cho hội đồng này ( như báo cáo tài chính hay các báo cáo thường kỳ ) và chịu trách nhiệm trước hội đồng này. - Định nghĩa hội đồng quản trị và các đặc điểm phải có theo luật của hội đồng quản trị ( Theo luật doanh nghiệp) : + Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty cổ phần, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thâm quyền của Đại hội đồng cổ đông. trường hợp điều lệ công ty không có quy định khác ). + Số thành viên Hội đồng quan trị phải thường trú ở Việt Nam do Điều lệ công ty quy định.
Nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị là năm năm. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá năm năm; thành viên Hội đồng quản trị có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. + Hội đồng quản trị của nhiệm kỳ vừa kết thúc tiếp tục hoạt động cho đến khi Hội đồng quản trị mới được bầu và tiếp quản công việc.