Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Chuẩn Bị Đại Tràng Trong Phẫu Thuật Nội Soi Cắt Tử Cung

Đánh giá ảnh hưởng của không chuẩn bị đại tràng trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung, giúp hiểu rõ rủi ro và cải thiện quy trình phẫu thuật.

Chuyên ngành

Sản Phụ Khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Chuyên Khoa Cấp II

2021

107
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. CÁC PHƯƠNG PHÁP CHUẨN BỊ ĐẠI TRÀNG

1.2. ẢNH HƯỞNG CỦA CHUẨN BỊ ĐẠI TRÀNG TRÊN MÔ ĐẠI TRÀNG

1.2.1. Ảnh hưởng trực tiếp

1.2.2. Ảnh hưởng gián tiếp

1.3. PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TỬ CUNG

1.3.1. Chỉ định cắt tử cung

1.3.2. Kỹ thuật nội soi cắt tử cung

1.4. CÁC BIẾN CHỨNG CỦA PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TỬ CUNG

1.4.1. Tổn thương đường niệu

1.4.2. Tổn thương ruột

1.5. CÁC NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHUẨN BỊ ĐẠI TRÀNG TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI PHỤ KHOA

1.6. XU HƯỚNG ERAS TRONG PHẪU THUẬT PHỤ KHOA

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU

2.2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

2.3. TIÊU CHUẨN CHỌN MẪU

2.4. CỠ MẪU VÀ QUY TRÌNH CHỌN MẪU

2.5. PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH

2.6. BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU

2.7. PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU

2.8. PHƯƠNG PHÁP HẠN CHẾ SAI LỆCH

2.9. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI NGHIÊN CỨU

2.10. ĐẠO ĐỨC NGHIÊN CỨU

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1.1. Đặc điểm dịch tễ của đối tượng nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trước phẫu thuật

3.1.3. Đặc điểm trong phẫu thuật

3.1.4. Đặc điểm sau phẫu thuật

3.2. CÁC BIẾN CHỨNG TRONG VÀ SAU MỔ

3.3. ĐÁNH GIÁ CỦA PHẪU THUẬT VIÊN VỀ CÁCH CBĐT

3.4. ĐÁNH GIÁ CỦA BỆNH NHÂN VỀ CÁCH CBĐT

3.4.1. Những khó chịu của bệnh nhân ngày trước phẫu thuật

3.4.2. Những khó chịu của bệnh nhân vào hậu phẫu ngày 1

3.4.3. Đánh giá của bệnh nhân về cách chuẩn bị đại tràng

3.5. PHÂN TÍCH HỒI QUY ĐƠN BIẾN CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN CHỨNG TRONG VÀ SAU PHẪU THUẬT

3.5.1. Phân tích mối liên quan giữa các đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu với các biến chứng trong và sau phẫu thuật

3.5.2. Phân tích mối liên quan giữa các đặc điểm trước phẫu thuật với các biến chứng trong và sau phẫu thuật

3.5.3. Phân tích mối liên quan giữa các đặc điểm trong phẫu thuật với các biến chứng trong và sau phẫu thuật

3.5.4. Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố đánh giá của PTV với biến chứng

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. ĐẶC ĐIỂM CHUNG CỦA ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1.1. Đặc điểm dịch tễ của mẫu nghiên cứu

4.1.2. Đặc điểm trước phẫu thuật

4.1.3. Đặc điểm trong phẫu thuật

4.1.4. Đặc điểm sau phẫu thuật

4.2. CÁC BIẾN CHỨNG VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

4.3. ĐÁNH GIÁ CỦA PTV VÀ BỆNH NHÂN VỀ CÁCH CBĐT

4.3.1. Đánh giá của phẫu thuật viên về cách chuẩn bị đại tràng

4.3.2. Đánh giá của bệnh nhân về cách chuẩn bị đại tràng

4.4. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU

4.5. ĐIỂM MỚI VÀ ỨNG DỤNG CỦA NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Chuẩn Bị Đại Tràng Trước Cắt Tử Cung

Chuẩn bị đại tràng (CBĐT) trước phẫu thuật cắt tử cung từng là một quy trình chuẩn mực. Mục đích là giảm nguy cơ nhiễm trùng và biến chứng. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu gần đây đặt ra câu hỏi về lợi ích thực sự của việc này. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng CBĐT có thể gây khó chịu cho bệnh nhân và kéo dài thời gian phục hồi. Hướng dẫn ERAS (Enhanced Recovery After Surgery) thậm chí khuyến cáo không nên CBĐT thường quy. Bài viết này sẽ đánh giá ảnh hưởng của việc chuẩn bị đại tràng trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung, xem xét cả lợi ích và rủi ro.

1.1. Lịch Sử và Quan Điểm Truyền Thống Về CBĐT

Trong nhiều năm, chuẩn bị đại tràng được xem là bắt buộc trước các phẫu thuật liên quan đến đường ruột, bao gồm cả phẫu thuật nội soi cắt tử cung. Quan điểm này xuất phát từ lo ngại về nguy cơ nhiễm trùng và biến chứng do rò rỉ phân. Tuy nhiên, quan điểm này đang dần thay đổi dựa trên các bằng chứng khoa học mới. Hughes (1972) đã nghi ngờ về vai trò của CBĐT trước mổ, và bằng nghiên cứu có đối chứng của mình, tác giả đã kết luận CBĐT trước mổ là không cần thiết.

1.2. Xu Hướng Hiện Đại Giảm Thiểu CBĐT Không Cần Thiết

Hiện nay, xu hướng là cá nhân hóa quy trình chuẩn bị trước phẫu thuật, chỉ CBĐT khi thực sự cần thiết. Các hướng dẫn ERAS khuyến cáo không nên sử dụng phương pháp chuẩn bị ruột trước khi phẫu thuật một cách thường quy. Điều này dựa trên bằng chứng cho thấy CBĐT không mang lại lợi ích rõ ràng và có thể gây thêm gánh nặng cho bệnh nhân. Tổng quan cập nhật của Cochrane năm 2009 kết luận rằng việc chuẩn bị ruột cơ học trước mổ là không có lợi ích đã được chứng minh và nên bị loại bỏ trong hầu hết các trường hợp.

II. Thách Thức Biến Chứng Ruột Trong Cắt Tử Cung Nội Soi

Một trong những lo ngại lớn nhất khi thực hiện phẫu thuật nội soi cắt tử cung là nguy cơ tổn thương ruột. Mặc dù tỷ lệ này tương đối thấp, nhưng biến chứng này có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Việc chuẩn bị đại tràng có thể ảnh hưởng đến khả năng quan sát và thao tác của phẫu thuật viên. Do đó, cần phải đánh giá kỹ lưỡng tác động của CBĐT lên nguy cơ biến chứng ruột. Tổn thương ruột là một biến chứng hiếm gặp của nội soi ổ bụng, tỷ lệ mắc bệnh đã được báo cáo là 0,13% theo một tổng quan tài liệu năm 2004.

2.1. Tỷ Lệ Tổn Thương Ruột Trong Phẫu Thuật Phụ Khoa

Tổn thương ruột là một biến chứng hiếm gặp trong phẫu thuật nội soi phụ khoa, nhưng vẫn là một mối quan tâm. Tỷ lệ tổn thương ruột được báo cáo khác nhau tùy thuộc vào loại phẫu thuật và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Việc xác định các yếu tố nguy cơ và áp dụng các biện pháp phòng ngừa là rất quan trọng. Dữ liệu từ phẫu thuật đại trực tràng ủng hộ việc bỏ chuẩn bị ruột cơ học một cách thường quy trong phẫu thuật sản phụ khoa.

2.2. Ảnh Hưởng Của CBĐT Đến Khả Năng Quan Sát Phẫu Trường

Một số phẫu thuật viên cho rằng chuẩn bị đại tràng giúp cải thiện khả năng quan sát phẫu trường, đặc biệt là trong các trường hợp có dính hoặc các yếu tố giải phẫu phức tạp. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng CBĐT có thể làm thay đổi cấu trúc ruột và gây khó khăn cho việc xác định các mốc giải phẫu quan trọng. Do đó, cần có thêm nghiên cứu để làm rõ vấn đề này.

III. Phương Pháp Đánh Giá Ảnh Hưởng Của CBĐT Nghiên Cứu

Để đánh giá ảnh hưởng của việc không chuẩn bị đại tràng trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung, cần có các nghiên cứu khoa học bài bản. Các nghiên cứu này nên so sánh kết quả phẫu thuật, tỷ lệ biến chứng, thời gian phục hồi và mức độ hài lòng của bệnh nhân giữa nhóm có CBĐT và nhóm không CBĐT. Các nghiên cứu cần tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và phương pháp luận nghiêm ngặt. Từ năm 2009 đến năm 2013, một nghiên cứu được tiến hành tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, kết quả được báo cáo là cắt đại tràng chương trình có thể thực hiện an toàn mà không nhất thiết phải CBĐT trước mổ.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu So Sánh CBĐT vs. Không CBĐT

Thiết kế nghiên cứu lý tưởng là thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT). Trong đó, bệnh nhân được chia ngẫu nhiên vào hai nhóm: một nhóm được chuẩn bị đại tràng theo quy trình chuẩn, nhóm còn lại không được CBĐT. Các yếu tố khác cần được kiểm soát chặt chẽ để đảm bảo tính khách quan của kết quả.

3.2. Các Tiêu Chí Đánh Giá Biến Chứng Phục Hồi Hài Lòng

Các tiêu chí đánh giá chính bao gồm: tỷ lệ biến chứng (nhiễm trùng, tổn thương ruột, chảy máu), thời gian phẫu thuật, thời gian nằm viện, thời gian phục hồi chức năng ruột, mức độ đau sau phẫu thuật và mức độ hài lòng của bệnh nhân. Ngoài ra, cần thu thập thông tin về chi phí điều trị để có cái nhìn toàn diện.

IV. Kết Quả Nghiên Cứu CBĐT Ảnh Hưởng Thế Nào Đến Phẫu Thuật

Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng việc không chuẩn bị đại tràng có thể không ảnh hưởng đáng kể đến kết quả phẫu thuật nội soi cắt tử cung. Một số nghiên cứu thậm chí còn cho thấy rằng việc bỏ CBĐT có thể giảm thời gian nằm viện và cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kết quả có thể khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm của bệnh nhân và kỹ thuật phẫu thuật. Không CBĐT không làm tăng biến chứng xì miệng nối và nhiễm khuẩn vùng mổ, áp xe trong ổ bụng so với nhóm có CBĐT trong phẫu thuật cắt đại tràng chương trình.

4.1. So Sánh Tỷ Lệ Biến Chứng Giữa Hai Nhóm

Các nghiên cứu cần so sánh tỷ lệ biến chứng (nhiễm trùng, tổn thương ruột, chảy máu) giữa nhóm có chuẩn bị đại tràng và nhóm không CBĐT. Nếu không có sự khác biệt đáng kể về tỷ lệ biến chứng, điều này cho thấy rằng việc bỏ CBĐT là an toàn.

4.2. Đánh Giá Thời Gian Phục Hồi và Mức Độ Hài Lòng

Thời gian phục hồi và mức độ hài lòng của bệnh nhân là những tiêu chí quan trọng khác cần được đánh giá. Nếu bệnh nhân trong nhóm không CBĐT phục hồi nhanh hơn và hài lòng hơn, điều này cho thấy rằng việc bỏ CBĐT có thể mang lại lợi ích cho bệnh nhân.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Khi Nào Nên Bỏ CBĐT Cắt Tử Cung

Dựa trên các bằng chứng hiện có, có thể cân nhắc bỏ chuẩn bị đại tràng trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung ở những bệnh nhân có nguy cơ thấp. Tuy nhiên, cần phải cá nhân hóa quyết định này dựa trên đặc điểm của bệnh nhân, kỹ thuật phẫu thuật và kinh nghiệm của phẫu thuật viên. Cần có sự thảo luận kỹ lưỡng giữa bác sĩ và bệnh nhân để đưa ra quyết định phù hợp. Tại khoa Phụ khoa bệnh viện Nhân Dân Gia Định hàng năm có khoảng 100 trường hợp mổ nội soi cắt tử cung vì các lý do lành tính, phẫu thuật được thực hiện nhiều nhất là cắt tử cung toàn phần và 2 phần phụ, hoặc cắt tử cung toàn phần và 2 vòi trứng.

5.1. Tiêu Chí Lựa Chọn Bệnh Nhân Thích Hợp

Các tiêu chí lựa chọn bệnh nhân thích hợp để bỏ chuẩn bị đại tràng bao gồm: không có tiền sử bệnh lý ruột, không có dính vùng chậu, không có yếu tố nguy cơ cao gây tổn thương ruột. Ngoài ra, cần đảm bảo rằng phẫu thuật viên có kinh nghiệm trong phẫu thuật nội soi và có khả năng xử lý các biến chứng có thể xảy ra.

5.2. Quy Trình Ra Quyết Định Thảo Luận Bác Sĩ Bệnh Nhân

Quyết định có chuẩn bị đại tràng hay không nên được đưa ra sau khi thảo luận kỹ lưỡng giữa bác sĩ và bệnh nhân. Bác sĩ cần giải thích rõ ràng về lợi ích và rủi ro của cả hai phương án, đồng thời lắng nghe ý kiến và mong muốn của bệnh nhân. Bệnh nhân cần được cung cấp đầy đủ thông tin để đưa ra quyết định sáng suốt.

VI. Kết Luận Tương Lai Của CBĐT Trong Cắt Tử Cung Nội Soi

Việc đánh giá ảnh hưởng của chuẩn bị đại tràng trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung là một quá trình liên tục. Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc xác định các yếu tố dự đoán nguy cơ biến chứng và phát triển các quy trình chuẩn bị trước phẫu thuật cá nhân hóa. Xu hướng chung là giảm thiểu CBĐT không cần thiết và tập trung vào các biện pháp cải thiện phục hồi sau phẫu thuật. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Đánh giá ảnh hưởng của không chuẩn bị đại tràng trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung" nhằm đánh giá sự thuận lợi và an toàn của cuộc phẫu thuật, cũng như sự hài lòng của phẫu thuật viên và bệnh nhân về việc không chuẩn bị đại tràng trước mổ.

6.1. Hướng Nghiên Cứu Tương Lai Cá Nhân Hóa Quy Trình CBĐT

Các nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc xác định các yếu tố dự đoán nguy cơ biến chứng và phát triển các quy trình chuẩn bị đại tràng cá nhân hóa. Điều này có thể bao gồm việc sử dụng các công cụ đánh giá nguy cơ, xét nghiệm sinh học và các phương pháp hình ảnh học.

6.2. Tối Ưu Hóa Phục Hồi Sau Phẫu Thuật ERAS và CBĐT

Việc áp dụng các nguyên tắc ERAS (Enhanced Recovery After Surgery) có thể giúp tối ưu hóa phục hồi sau phẫu thuật nội soi cắt tử cung, bất kể có chuẩn bị đại tràng hay không. Các nguyên tắc này bao gồm: giảm đau đa phương thức, vận động sớm, dinh dưỡng hợp lý và quản lý dịch truyền hiệu quả.

07/06/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Chuẩn bị đại tràng (CBĐT) trƣớc mổ từng đƣợc xem nhƣ một chuẩn mực không thể thiếu trong phẫu thuật đại trực tràng chƣơng trình trong suốt hơn một thế kỷ qua. Ngƣời ta cho rằng việc làm sạch phân trong lòng ruột sẽ làm giảm nguy cơ nhiễm trùng vùng mổ hay xì miệng nối đại tràng[27]. Từ năm 1972, Hughes đã tỏ ý nghi ngờ về vai trò của CBĐT trƣớc mổ, và bằng nghiên cứu có đối chứng của mình, tác giả đã kết luận CBĐT trƣớc mổ là không cần thiết, vì không tìm thấy lợi ích của việc chuẩn bị ruột cơ học đối với nhiễm trùng vết thƣơng, viêm phúc mạc hoặc tử vong khi phẫu thuật đại trực tràng chƣơng trình [45]. Một khía cạnh khác, Jung đã nghiên cứu chi tiết về phản hồi của bệnh nhân phẫu thuật đại tràng đƣợc CBĐT hay không CBĐT trƣớc mổ.

Tác giả kết luận CBĐT gây khó chịu cho bệnh nhân và làm chậm quá trình trở lại hoạt động bình thƣờng của ruột sau mổ so với không CBĐT[46]. Tổng quan cập nhật của Cochrane năm 2009 kết luận rằng việc chuẩn bị ruột cơ học trƣớc mổ là không có lợi ích đã đƣợc chứng minh và nên bị loại bỏ trong hầu hết c c trƣờng hợp[16]. Hƣớng dẫn của Hiệp hội ERAS (ERAS – Enhanced Recovery After Surgery) về chăm sóc chu phẫu bệnh nhân phẫu thuật cũng khuyến cáo không nên sử dụng phƣơng ph p chuẩn bị ruột trƣớc khi phẫu thuật một c ch thƣờng quy [17]. Trong phẫu thuật phụ khoa lành tính, việc cắt bỏ đại tràng là không có kế hoạch, thƣờng do hậu quả của tổn thƣơng đại tràng vô ý hoặc phát hiện bất thƣờng trong lúc phẫu thuật.

Tổn thƣơng ruột là một biến chứng hiếm gặp của nội soi ổ bụng, tỷ lệ mắc bệnh đã đƣợc báo cáo là 0,13% theo một tổng quan tài liệu năm 2004 [32]. Kết hợp thực tế này là chỉ có một số ít trƣờng hợp phẫu thuật phụ khoa dẫn đến chấn thƣơng ruột, dữ liệu từ phẫu thuật đại trực. tràng ủng hộ việc bỏ chuẩn bị ruột cơ học một c ch thƣờng quy trong phẫu thuật sản phụ khoa. Mặc dù có một lƣợng lớn dữ liệu ủng hộ việc nên bỏ chuẩn bị ruột cơ học và c c hƣớng dẫn thay đổi đã đƣợc ban hành, thực hành lâm sàng vẫn chậm thay đổi.

Một cuộc khảo s t năm 2005 với c c b c sĩ phẫu thuật ở Bắc Âu cho thấy từ 50% đến 95% tiếp tục sử dụng phƣơng ph p chuẩn bị ruột trƣớc khi phẫu thuật [23]. Việt Nam cũng không nằm ngoài c c xu hƣớng thực hành lâm sàng trên thế giới. Phẫu thuật viên khi chuẩn bị bệnh nhân mổ đại trực tràng hầu hết vẫn cho CBĐT trƣớc mổ nhƣ một tiêu chuẩn bắt buộc. Và hiện nay, các nghiên cứu về không CBĐT trƣớc mổ vẫn còn rất ít để tham khảo và áp dụng trong nƣớc.

Từ năm 2009 đến năm 2013, một nghiên cứu đƣợc tiến hành tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, kết quả đƣợc báo cáo là cắt đại tràng chƣơng trình có thể thực hiện an toàn mà không nhất thiết phải CBĐT trƣớc mổ. Không CBĐT không làm tăng biến chứng xì miệng nối và nhiễm khuẩn vùng mổ, áp xe trong ổ bụng so với nhóm có CBĐT trong phẫu thuật cắt đại tràng chƣơng trình. Tuy nhiên trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung, việc chuẩn bị đại tràng trƣớc mổ vẫn đƣợc thực hiện thƣờng quy. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Đ nh gi ảnh hƣởng của không chuẩn bị đại tràng trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung" nhằm đánh giá sự thuận lợi và an toàn của cuộc.

phẫu thuật, cũng nhƣ sự hài lòng của phẫu thuật viên và bệnh nhân về việc không chuẩn bị đại tràng trƣớc mổ. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Không chuẩn bị đại tràng trƣớc phẫu thuật nội soi cắt tử cung có ảnh hƣởng nhƣ thế nào đối với sự thuận tiện cũng nhƣ tính an toàn phẫu thuật, sự hài lòng của PTV và sự hài lòng của bệnh nhân? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu chính: Đ nh gi ảnh hƣởng của không chuẩn bị đại tràng trong phẫu thuật nội soi cắt tử cung. Mục tiêu cụ thể: 1. Đ nh gi sự hài lòng của phẫu thuật viên, khả năng quan s t phẫu trƣờng khi phẫu thuật nội soi cắt tử cung mà không chuẩn bị đại tràng.

Đ nh gi sự an toàn cho bệnh nhân khi phẫu thuật nội soi cắt tử cung không chuẩn bị đại tràng trƣớc phẫu thuật. Đ nh gi sự hài lòng của bệnh nhân về c ch không CBĐT trƣớc phẫu thuật. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CÁC PHƢƠNG PHÁP CHUẨN BỊ ĐẠI TRÀNG 1.

Tƣới rửa toàn bộ đại tràng Phƣơng ph p này thực hiện tƣới rửa toàn bộ ruột bằng dung dịch điện giải qua ống thông mũi dạ dày trƣớc ngày phẫu thuật đến khi thấy dịch trong ra ở hậu môn. Đầu tiên dùng để điều trị bệnh tả, sau đó đƣợc điều chỉnh lại để CBĐT từ năm 1973. Phƣơng ph p này từng đƣợc nhìn nhận nhƣ một cách CBĐT rất sạch trong thời gian nhanh, rẻ tiền, hiệu quả tuy có rối loạn nƣớc điện giải. Chống chỉ định của phƣơng ph p này là tắc ruột, nghi thủng ruột và phình đại tràng nhiễm độc, chống chỉ định tƣơng đối ở ngƣời suy thận, suy tim, bán tắc ruột.

Chuẩn bị đại tràng bằng thuốc hay CBĐT cơ học Mặc dù tƣới rửa toàn bộ ruột cũng làm sạch đại tràng, nhƣng vấn đề giữ nƣớc, đặt ống thông mũi dạ dày và phải sử dụng nhà vệ sinh đặc biệt là những nhƣợc điểm còn phải cân nhắc. Đến cuối những năm 70, giải ph p đƣờng uống để làm sạch đại tràng trƣớc mổ đƣợc giới thiệu. Phƣơng ph p này hiện nay đƣợc gọi nhƣ CBĐT cơ học, từ đây đƣợc gọi đơn giản là ―chuẩn bị đại tràng‖. C c chế phẩm dùng để uống trong CBĐT cơ học gồm: Mannitol Là chất đầu tiên đƣợc sử dụng.

Mannitol là một oligosaccharide không hấp thụ và với một dung dịch tỉ lệ 5%, 10% hoặc 20%, mannitol rút chất dịch vào lòng ruột bằng t c động thẩm thấu. Tuy nhiên, mannitol đƣợc lên men bởi những sinh vật đƣờng ruột dẫn đến gia tăng tỉ lệ các biến chứng sau mổ nhƣ nhiễm khuẩn và cháy nổ khi mở ruột [37]. Polyethylene glycol Những năm 1980, thuốc làm sạch ruột thông qua việc chuyển chất lỏng thẩm thấu đã đƣợc thay bằng thuốc có tác dụng nhuận tràng. Goldman và cộng sự giới thiệu polyethylene glycol nhƣ một phƣơng tiện làm sạch đại tràng.

Polyethylene glycol là một dung dịch đẳng trƣơng có chứa chất siêu thẩm thấu macrogol và sulphate đƣợc hấp thụ và tạo ra bài tiết nƣớc 60 ml/giờ và chuyển điện giải qua thành ruột [14]. Những năm sau đó, nó đã đƣợc sử dụng nhƣ là một giải pháp không gây rối loạn điện giải để CBĐT trƣớc phẫu thuật. Phƣơng ph p này thƣờng khuyến cáo bệnh nhân nên uống khoảng 4 lít để làm sạch đại tràng mặc dù việc bổ sung bisacodyl có thể làm giảm số lƣợng nƣớc phải uống. Nhƣng thuốc này khó uống do vị mặn của sulphate.

Khuyết điểm này đã đƣợc cải thiện một phần bằng thêm hƣơng liệu vào dung dịch uống. Tuy bệnh nhân còn khó chịu do co rút cơ bụng, buồn nôn và nôn, nhƣng polyethylene glycol vẫn là một trong những chất phổ biến dùng để CBĐT [31]. Sodium picosulphate Các chất kh c cũng đƣợc sử dụng là natri picosulphate, đƣợc thủy hoá ở đại tràng và gây ra rút nƣớc vào đại tràng và hấp thu điện giải. Citrate magiê đƣợc thêm vào để gây tiêu chảy thẩm thấu.

Nhƣợc điểm của thuốc là có thể gây mất nƣớc và có thể làm nặng thêm các rối loạn tim mạch và khả năng hình thành các khí gây nổ [38] Sodium phosphate Sodium phosphate là một chất thẩm thấu mạnh mẽ làm giảm tiết chất điện giải vào lòng ruột và giảm hấp thu nƣớc. Lợi thế của chất này là chỉ dùng số lƣợng ít nhƣng cũng rất thích hợp cho việc CBĐT trƣớc phẫu thuật. Tỷ lệ rối loạn điện giải không đƣợc ghi nhận dù có thể gây mất kali. Áp lực thẩm thấu cao trên niêm mạc của dạ dày của phosphate có thể gây ra buồn nôn.

Điều này có thể đƣợc ngăn ngừa bằng cách pha loãng sodium phosphate với nƣớc [34]. Chế độ ăn ít chất xơ Chế độ ăn sao cho thức ăn đƣợc hấp thu hoàn toàn trong ruột non giúp giảm lƣợng phân tối thiểu trong khi vẫn không bắt bệnh nhân nhịn đói. Tuy nhiên, phƣơng ph p này không thực sự giảm lƣợng phân cũng nhƣ lƣợng vi khuẩn trong đại tràng. Phƣơng ph p này đòi hỏi bệnh nhân phải nằm viện lâu và tuân thủ chế độ ăn riêng biệt, nghiêm ngặt hơn [13].

Rửa đại tràng trong phẫu thuật Trong những tình huống cấp cứu hoặc khi có chống chỉ định CBĐT nhƣ tắc ruột do u đại tràng, khi phẫu thuật viên (PTV) cần quyết định xem nối một thì khả thi hay không dựa vào các khía cạnh nhƣ m u nuôi đại tràng, tình trạng viêm và kỹ thuật ngoại khoa, thì một trong những tiêu chí cũng ảnh hƣởng đến quyết định này là số lƣợng phân trong đại tràng lúc đó. Nếu số lƣợng phân lớn là yếu tố duy nhất ngăn cản nối một thì, thì rửa đại tràng trong mổ có thể đƣợc thực hiện. Đầu tiên đƣợc Windberg giới thiệu năm 1958, phƣơng ph p này đã đƣợc sửa đổi trong những năm qua bởi nhiều tác giả khác nhau, mặc dù nguyên tắc vẫn giữ nguyên. Nguyên tắc chung là rửa sạch phân khỏi đại tràng gần đến miệng nối.

C c phƣơng ph p hiện tại đôi khi đòi hỏi phải di động đại tràng góc gan và góc lách, sử dụng một ống rửa đƣờng kính bằng đoạn đại tràng xa và một ống thông Foley đặt qua gốc ruột thừa. Phƣơng ph p này kéo dài thời gian mổ nhƣng nó đƣợc cho là giúp tr nh đƣợc phẫu thuật hai, ba thì [28]. Cách CBĐT đang đƣợc áp dụng tại bệnh viện Nhân dân Gia Định Tại khoa Phụ khoa bệnh viện Nhân Dân Gia Định hàng năm có khoảng 100 trƣờng hợp mổ nội soi cắt tử cung vì các lý do lành tính, phẫu thuật đƣợc thực hiện nhiều nhất là cắt tử cung toàn phần và 2 phần phụ, hoặc cắt tử cung toàn phần và 2 vòi trứng. Trƣớc mổ bệnh nhân vẫn đƣợc chuẩn bị đại tràng thƣờng quy theo cách tiêu chuẩn.

Ngày trƣớc mổ: Bệnh nhân đƣợc chuẩn bị ruột với 90 mL Sodium Phosphate (2 chai Fleet Phosphosoda) mỗi chai pha trong 1 lít nƣớc uống, liều đầu tiên lúc 10 giờ, liều thứ 2 lúc 20 giờ. Ngày mổ: 5 giờ sáng ngày phẫu thuật, bệnh nhân đƣợc bơm hậu môn Sodium Phosphate Enema (Fleet Enema 133 ml. ẢNH HƢỞNG CỦA CHUẨN BỊ ĐẠI TRÀNG TRÊN MÔ ĐẠI TRÀNG Hình 1.1: Niêm mạc đại tràng bình thƣờng Nguồn: sciencephoto.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh Giá Ảnh Hưởng Của Chuẩn Bị Đại Tràng Trong Phẫu Thuật Nội Soi Cắt Tử Cung" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tầm quan trọng của việc chuẩn bị đại tràng trước khi thực hiện phẫu thuật nội soi cắt tử cung. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả phẫu thuật mà còn nhấn mạnh lợi ích của việc chuẩn bị đúng cách, giúp giảm thiểu biến chứng và nâng cao hiệu quả điều trị.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các phương pháp phẫu thuật nội soi, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu giải phẫu và đối chiếu trong phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước khớp gối bằng kỹ thuật một bố tất cả bên trong, nơi cung cấp thông tin chi tiết về giải phẫu trong phẫu thuật nội soi. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ thuật và kết quả phẫu thuật nội soi cắt trực tràng nối máy điều trị ung thư trực tràng sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố kỹ thuật trong phẫu thuật nội soi. Cuối cùng, tài liệu Nghiên cứu ứng dụng phẫu thuật nội soi tái tạo dây chằng chéo trước hai bó bằng gân cơ bán gân và gân cơ thon tự thân cũng là một nguồn tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến phẫu thuật tái tạo. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực phẫu thuật nội soi.