Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài liên quan đến đề tài Các nghiên cứu về vai trò, cơ hội và thách thức của các nước đang phát triển khi gia nhập WTO Công trình của World Trade Organization (2014), Trade Policy Review: Vietnam 2013 [167]. Các tác giả cuốn sách chỉ rõ, các hiệp định của WTO chứa đựng nhiều điều khoản đem lại cho những nước kém phát triển nhiều quyền lợi đặc biệt hoặc ưu đãi - “đối xử đặc biệt và ưu đãi”, như: Thêm thời gian cho các nước đang phát triển thực hiện cam kết; những điều khoản tăng cơ hội thương mại của các nước đang phát triển thông qua tiếp cận thị trường nhiều hơn; những điều khoản yêu cầu các thành viên WTO bảo vệ quyền lợi của các nước đang phát triển khi thực hiện những biện pháp trong nước và quốc tế (ví dụ: chống bán phá giá, hàng rào kỹ thuật…); những điều khoản về các hình thức hỗ trợ các nước đang phát triển (thực hiện các cam kết về tiêu chuẩn an toàn vật nuôi, cây trồng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phát triển lĩnh vực truyền thông nội địa) [167, tr.
Công trình của World Trade Organization (2015), Understanding the WTO [169]. Các tác giả cho rằng: Các quy tắc thương mại của WTO đã quan tâm đặc biệt tới nhu cầu của các nước đang phát triển; các hiệp định của WTO có rất nhiều điều khoản đưa ra những quyền lợi ưu đãi cho các nước đang phát triển, bao gồm việc kéo dài thời gian thực hiện các hiệp định; WTO cũng mong muốn đảm bảo rằng các nước đang phát triển được trang bị những kiến thức cần thiết để tham gia vào hệ thống thương mại đa phương qua các chương trình hỗ trợ kỹ thuật. Đặc biệt, Hội 10 nghị Bộ trưởng tại Bali năm 2013, các Bộ trưởng đã đưa ra các quyết định quan trọng, bao gồm đưa ra một cơ chế điều hành để thực hiện các điều khoản đối xử đặc biệt và thiết lập các chỉ dẫn để các nhà xuất khẩu từ các nước kém phát triển hơn có thể tham gia tiếp cận thị trường ưu đãi thông qua các quy định về xuất xứ minh bạch hơn. Đồng thời, các tác giả của công trình cũng nhấn mạnh việc các nước đang phát triển cần chủ động đề xuất những cải cách trong chính sách thương mại của WTO nhằm giảm bớt những khó khăn mà họ đang gặp phải.
Bài viết của Virginia Greasley (2004), “Việt Nam và Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)” [156]. Tác giả làm rõ những thách thức đối với các nước đang phát triển khi gia nhập WTO, thể hiện trên một số vấn đề sau: Các nước công nghiệp phát triển có tiếng nói quyết định trong chính sách và luật lệ của WTO và việc thực thi các quyết định cũng do các nước chi phối; Cơ quan quản lý tranh chấp được thành lập có trách nhiệm đưa ra phán quyết, nhưng việc thực hiện phán quyết của ủy ban này lại phụ thuộc vào từng nước cụ thể thông qua biện pháp áp đặt trừng phạt thương mại. Do vậy, nước lớn (ví dụ: Hoa Kỳ) có thể phá hủy nền kinh tế của một nước nhỏ nếu quyết định áp dụng trừng phạt thương mại [156, tr.159]; Hiệp định liên quan đến thương mại của các quyền sở hữu trí tuệ của WTO cũng rất có lợi cho các tập đoàn, công ty đa quốc gia; các nước công nghiệp phát triển nắm giữ; trong lĩnh vực nông sản, các nước giàu, có sức mạnh đàm phán để bảo đảm chắc chắn các nước nghèo phải mở cửa nền kinh tế của họ, trong khi các nước giàu không chịu thực hiện nghĩa vụ của mình. Các nghiên cứu về đổi mới chính sách đối ngoại của Việt Nam và vấn đề Việt Nam gia nhập WTO Cuốn sách của Carlyle A.
Thayer, Ramses Amer (1998), Vietnamese Foreign Policy in Transition [159]. Các tác giả phân tích, luận giải chính sách 11 đối ngoại đa phương hóa của Việt Nam được đánh dấu từ Nghị quyết 13 của BCT (5 - 1988) đến Đại hội lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam (6 - 1996). Bên cạnh đó, tác giả cũng làm rõ mục tiêu và nguồn gốc trong chính sách đối ngoại Việt Nam, đó là: Việt Nam mong muốn đạt được môi trường hòa bình và ổn định để có thể thực hiện tiến trình đổi mới trong nước. Một môi trường hòa bình mà Việt Nam tìm kiếm đã dựa trên cơ sở của “chủ nghĩa đa phương” và “đưa Việt Nam gia nhập với khu vực và cộng đồng quốc tế”, một mục tiêu đã được nhìn nhận ngay từ ban đầu khi đề cập đến các tổ chức kinh tế như APEC và WTO [159, tr.90]; Về nguồn gốc của những mục tiêu trong chính sách đối ngoại Việt Nam được tác giả chỉ ra là: Thể hiện ở những biến số bên ngoài mang tính hệ thống, như biến động tại các quốc gia Đông Âu và việc Việt Nam nằm trong một khu vực phát triển kinh tế năng động trong suốt hơn một thập kỷ qua; những biến số nội bộ theo các tác giả là những thay đổi trong nhận thức của các nhà lãnh đạo, những nhà hoạch định chính sách.
Đồng thời, các tác giả cũng cho rằng “Chính sách đối ngoại đa phương hóa của Việt Nam đã thay thế chính sách đối ngoại nặng về ý thức hệ trong những thập kỷ trước” [159,tr. Bên cạnh đó, các tác giả cũng phân tích những lợi ích từ chính sách đa phương hóa như: Bảo đảm môi trường quốc tế hòa bình nhằm giữ vững an ninh quốc gia của Việt Nam chống lại các đe dọa từ bên ngoài; đảm bảo điều kiện bên ngoài thuận lợi để tiến hành đổi mới kinh tế; tăng cường vị thế mặc cả của Việt Nam với các quốc gia khác, đặc biệt là Trung Quốc và Mỹ. Bài viết của Ero Palmujoki (1999), Ideology and Foreign Policy: Marxism - Leninism in Vietnam and global change 1986-1996 [160]. Tác giả đã làm rõ những thay đổi trong chính sách đối ngoại của Việt Nam từ Đại hội VII (1991) đến Đại hội VIII (1996) và nhận định: Chính sách đối ngoại của Việt Nam “Giờ đây, nhấn mạnh vào sự hội nhập của Việt Nam vào nền kinh tế khu vực và thế giới, được viết đầu tiên là chuẩn bị gia nhập vào khu vực mậu 12 dịch tự do ASEAN- AFTA, và sau đó là vào APEC và WTO” [160, tr.
Đồng thời, tác giả cho rằng: Trung tâm của quan hệ đối ngoại được Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện trên quan hệ kinh tế quốc tế chứ không phải là liên minh trên cơ sở ý thức hệ [160, tr.43] Cuốn sách của Kym Anderson (1999), Vietnam’s transforming economy and WTO’s accession:implications for agricultural and rural development [163]. Trong nội dung cuốn sách, tác giả lý giải việc Việt Nam nộp đơn xin gia nhập WTO bắt nguồn từ những nguyên nhân: Trở thành thành viên của WTO sẽ tạo điều kiện để Việt Nam thoát khỏi nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung và tiến lên nền kinh tế thị trường; tạo điều kiện cho nư ớc phát triển muộn như Việt Nam có thể nhập khẩu công nghệ mới từ các nền kinh tế tiên tiến hơn; WTO cũng buộc các nước phải cam kết với việc mở cửa thị trường và cắt giảm trợ cấp; tạo ra cơ hội để Việt Nam có thể đa phương hóa các thỏa thuận tự do thương mại với các nước khác trên thế giới; Việt Nam sẽ có tiếng nói nhất định trong các chương trình nghị sự của WTO [163, tr. Tác giả cũng đề xuất một số cải cách mà Việt Nam cần thực hiện trước khi bắt đầu quá trình đàm phán gia nhập WTO, đặc biệt trên lĩnh vực nông nghiệp và nêu một số chính sách, giải pháp cần thiết hỗ trợ cho việc gia nhập WTO, như: Đào tạo nhân lực có trình độ cao nhằm tránh cho Việt Nam không bị rơi vào “bẫy” xuất khẩu mặt hàng có sử dụng nhiều nhân công trình độ thấp; cần phải có chính sách phát triển vùng nhằm giảm cách biệt giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị; tiếp tục triển khai chính sách hỗ trợ lao động mất việc làm, do việc gia nhập WTO làm gia tăng cạnh tranh sẽ buộc các doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả cắt giảm lao động. Bài viết của Virginia Greasley (2004), Việt Nam và Tổ chức Thương mại thế giới [156].
Trong bài viết, tác giả làm rõ các lợi ích của việc gia nhập WTO đối với Việt Nam như: Việc gia nhập WTO sẽ giúp Việt Nam gỡ bỏ mác nền 13 kinh tế phi thị trường và tạo điều kiện để các quốc gia xóa bỏ những biện pháp phòng vệ và chống bán phá giá với Việt Nam; gia nhập WTO tạo điều kiện cho Việt Nam mở rộng thị trường, tăng cường hợp tác thương mại dịch vụ với các nước thành viên WTO; Việt Nam có thể xuất khẩu những nông sản không đe dọa đến sản xuất nội địa của các nước giàu [156, tr.165]; việc thực hiện các chính sách đổi mới thương mại sẽ thể hiện được cam kết của Việt Nam trong việc theo đuổi một nền kinh tế theo hướng thị trường… Bên cạnh đó, tác giả đã nêu lên những thách thức mà kinh tế Việt Nam phải đối mặt khi trở thành thành viên của WTO như: Tốc độ tự do hóa nhanh của đổi mới trong thương mại sẽ gây ra những mâu thuẫn với tiến độ thực hiện đổi mới các lĩnh vực khác, bao gồm việc cơ cấu hóa lại các doanh nghiệp nhà nước và các ngân hàng nhà nước; Việt Nam có thể trở thành nơi tràn ngập các sản phẩm được trợ cấp quá mức của các nước giàu bán phá giá, gây thiệt hại nghiêm trọng đến nông dân sản xuất nhỏ [156, tr. Tác giả đã làm rõ cơ hội đối với Việt Nam khi gia nhập WTO, đó là: Doanh nghiệp nước ngoài sẽ có động lực hơn khi đầu tư vào Việt Nam với một môi trường kinh doanh ổn định và minh bạch hơn. Đồng thời, tư cách thành viên WTO sẽ cải thiện quan hệ của Chính phủ Việt Nam với chính phủ các nước thành viên vì đàm phán song phương cũng như khu vực sẽ thuận lợi hơn khi các thiết chế thương mại được hình thành và hoạt động theo các luật chơi chung đã thống nhất trong WTO [94, tr. Tác giả cũng nêu lên những khó khăn của Việt Nam khi gia nhập WTO với vị thế nền kinh tế phi thị trường, như: Việt Nam sẽ chịu nhiều thiệt hại khi bị áp dụng các quy định đối với nền kinh tế phi thị trường, đặc biệt đối với các sản phẩm cá da trơn, xe đạp và da giầy, do các sản phẩm này lần lượt bị áp dụng biện pháp chống bán phá giá [94, tr.