CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về đăng ký kinh doanh 1. Khái niệm, đặc điểm của đăng ký kinh doanh 1. Khái niệm đăng ký kinh doanh ĐKKD là một trong những thủ tục hành chính đầu tiên và quan trọng đối với mỗi chủ thể để gia nhập thị trường và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Đây được coi như “giấy khai sinh” ra doanh nghiệp, mục đích để Nhà nước ghi nhận sự ra đời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường, giúp đảm bảo quyền và lợi ích chính đáng khi tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh. “Đăng ký” được hiểu là hoạt động của một tổ chức hay cá nhân đứng ra khai báo với cơ quan quản lý để chính thức được công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ nào đó. Theo từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Khoa học xã hội và Trung tâm từ điển, năm 1994) định nghĩa: “Đăng ký là ghi vào sổ cơ quan quản lý để chính thức công nhận cho hưởng quyền lợi hay nghĩa vụ; Bằng chứng công nhận bẳt đầu sự tồn tại hoặc chấm dứt một sự kiện hoặc một hiện tượng pháp luật”. Thuật ngữ “kinh doanh” được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thứ nhất “kinh doanh nghĩa là mở mang thêm” và nghĩa thứ hai “tổ chức, sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời” (Theo từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên năm 1998) Dưới góc độ pháp lý: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” (Theo khoản 21 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020).
Theo định nghĩa trên, để một hành vi được coi là hành vi kinh doanh cần các dấu hiệu sau: - Hành vi phải mang tính chất nghề nghiệp, điều này có nghĩa hành vi này phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, ổn định và có tính chuyên nghiệp cao; ngoài ra hành vi này còn phải mang lại nguồn thu nhập chính cho người thực hiện hành vi. 9 - Hành vi phải được thực hiện một các độc lập. Chủ thể thực hiện hành vi phải nhân danh chính mình, tự quyết định mọi vấn đề liên quan và chịu mọi trách nhiệm về hành vi của mình. - Hành vi được chủ thể tiến hành với mục đích kiếm lời thường xuyên.
Tuy nhiên bên cạnh đó, có một số hành vi kinh doanh đặc biệt, mặc dù vẫn vì mục đích kiếm tiền nhưng mục đích vì xã hội được đề cao hơn ví dụ như kinh doanh dịch vụ vệ sinh môi trường, dịch vụ chăm sóc và duy trì cảnh quan,… Ngoài ra doanh nghiệp được hiểu là “tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” (Theo khoản 10 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020). “Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam” (Theo khoản 12 Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020). Từ những định nghĩa về “đăng ký, kinh doanh, doanh nghiệp” như trên, ta có thể tìm hiểu thuật ngữ ĐKKD dưới những góc độ sau: Theo phương diện kinh tế: ĐKKD là hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp, hoạt động này không trực tiếp tạo ra của cải vật chất tuy nhiên vẫn tạo ra những giá trị vô hình khi thông tin gia nhập thị trường của doanh nghiệp được đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, thu hút sự chú ý của đối tác và các bên liên quan. Chi phí trong quá trình ĐKKD của doanh nghiệp vẫn sẽ được tính vào danh mục chi phí, tuy nhiên phần chi phí này sẽ được khấu trừ khi tính thuế.
Theo phương diện quản lý Nhà nước: ĐKKD là hoạt động quản lý Nhà nước đầu tiên đối với doanh nghiệp. Đây là nền tảng cho các bước giám sát tiếp theo của Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua quá trình giám sát, Nhà nước sẽ điều chỉnh, ban hành các chính sách phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế, vì vậy ĐKKD được coi là biện pháp quản lý Nhà nước về kinh tế. Theo phương diện chính trị: ĐKKD là một trong những quyền tự do cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, tuy nhiên tự do này phải trong khuôn khổ pháp luật.
ĐKKD vừa là quyền và cũng đồng thời là nghĩa vụ khi chủ 10 thể muốn thành lập doanh nghiệp. Bất cứ tổ chức, cá nhân nào đáp ứng đầy đủ điều kiện kinh doanh (điều kiện chủ thể, vốn, loại hình kinh doanh, ngành nghề kinh doanh…) đều có thể đăng ký thành lập doanh nghiệp tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền mà không ai có thể ngăn cản trái phép. Theo phương diện pháp lý: Hiện nay, thuật ngữ “đăng ký kinh doanh” chưa được định nghĩa cụ thể trong Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn. Tuy nhiên, sự ra đời Nghị định số 43/2010/NĐ – CP đã tạo ra bước ngoặt trong rút ngắn thủ tục hành chính, đánh dấu sự tiến bộ trong tư duy lập pháp của nước nhà.
Quá trình ĐKKD được gộp với đăng ký thuế, doanh nghiệp sử dụng một mã số duy nhất để định danh doanh nghiệp. Khái niệm “đăng ký kinh doanh” được thay thế bằng khái niệm “đăng ký doanh nghiệp” từ Nghị định này và tiếp tục được quy định trong Nghị định số 01/2021/NĐ - CP về đăng ký doanh nghiệp. Về bản chất, hai thuật ngữ này đều được sử dụng để chỉ hoạt động “khai sinh” ra doanh nghiệp, tạo lớp áo pháp lý đầu tiên khi đi vào sản xuất, kinh doanh trên thị trường. Tuy nhiên, khi xét về mặt câu chữ, thì ĐKKD hướng đến việc xin phép cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để hoạt động kinh doanh; còn đăng ký doanh nghiệp hướng đến hậu quả pháp lý là doanh nghiệp được thành lập.
Việc sử dụng khái niệm đăng ký doanh nghiệp có sự ưu việt hơn vì có thể bao hàm cả việc ĐKKD và thể hiện sự tự do kinh doanh của công dân rõ ràng hơn. Theo Nghị định số 01/2021/NĐ – CP ngày 04 tháng 01 năm 2021 quy định: “Đăng ký doanh nghiệp là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký hoạt động chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định của Nghị định này”. Từ quy định trên ta có thể hiểu: ĐKKD là thủ tục pháp lý bắt buộc đối với chủ thể muốn thành lập doanh nghiệp.
Theo đó, người sáng lập phải khai báo chính xác về doanh nghiệp dự kiến thành lập với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật thì sẽ 11 được Nhà nước ghi nhận vào sổ ĐKKD và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là bằng chứng pháp lý chứng minh chủ thể tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hợp pháp và được Nhà nước công nhận, bảo hộ. Tuy nhiên, đối với các lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì ngoài Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN) thì còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện trong pháp luật đầu tư và luật chuyên ngành khác. Thông qua hoạt động ĐKKD chủ thể kinh doanh được Nhà nước đảm bảo quyền lợi và thực hiện các nghĩa vụ khi tiến hành hoạt động kinh doanh.
Bởi vậy, hoạt động ĐKKD không chỉ đối với chủ thể trong nước mà còn được thực hiện bởi chủ thể nước ngoài; không chỉ đối với thành lập mô hình kinh doanh là doanh nghiệp mà còn đối với hợp tác xã. Bên cạnh đó, quyền tự do kinh doanh ngày càng được đề cao, đòi hỏi hoạt động ĐKKD phải minh bạch, bình đằng, thủ tục gọn nhẹ, chi phí thấp…Nếu thực hiện được những điều này, chủ thể kinh doanh trong nước và nước ngoài sẽ dễ dàng tiếp cận thị trường, thu hút vốn đầu tư từ đó làm gia tăng lợi ích kinh tế của chính chủ thể đó và lợi ích kinh tế chung của quốc gia. Qua việc phân tích những thuật ngữ trên, có thể được hiểu một cách khái quát “ĐKKD là một hoạt động pháp lý của người thành lập doanh nghiệp với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm ghi nhận sự ra đời của mô hình kinh doanh, xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể kinh doanh đó trên thị trường”. Đặc điểm của đăng ký kinh doanh Thứ nhất, đăng ký kinh doanh là thủ tục đầu tiên để gia nhập thị trường, tiến hành hoạt động kinh doanh ĐKKD là thủ tục pháp lý quan trọng mà chủ thể kinh doanh phải thực hiện đăng ký với Nhà nước.
Chủ thể kinh doanh phải khai báo chính xác về doanh nghiệp dự định thành lập và chịu tất cả trách nhiệm với thông tin khai báo đó. Cơ quan Nhà nước sẽ xem xét tính hợp lý các thông tin ghi trong hồ sơ ĐKKD để cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Thông qua quy trình ĐKKD, Nhà nước ghi nhận sự tồn tại của doanh nghiệp trên thị trường, thống nhất quản lý các loài hình kinh doanh. Nhà nước bảo hộ 12 quyền lợi của các chủ thể, tạo môi trường minh bạch tránh những rủi ro như “cá lớn nuốt cá bé”, để những doanh nghiệp mới thành lập được tự do sáng tạo, cạnh tranh với các doanh nghiệp khác theo đúng quy định của pháp luật.
GCNĐKDN là văn bản mang tính chất pháp lý do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép chủ thể kinh doanh hoạt động trên thị trường. Việc quản lý cấp GCNĐKDN giúp Nhà nước nắm bắt được các doanh nghiệp đang hoạt động trong từng lĩnh vực, căn cứ thu thuế và là cơ sở ban đầu cho quản lý trong khâu hậu kiểm, thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô và tạo sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh ngay từ khâu ĐKKD. Thứ hai, đăng ký kinh doanh là phương thức thể hiện quyền tự do kinh doanh Tự do kinh doanh là một trong những quyền tự nhiên của con người và được ghi nhận trong Hiến pháp.