Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động sản xuất kinh doanh tại Việt Nam đã trải qua quá trình chuyển dịch mang tính bước ngoặt từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986). Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh của công dân được đề cao, đòi hỏi Nhà nước phải thiết lập một hành lang pháp lý minh bạch nhằm quản lý sự gia nhập thị trường của các chủ thể kinh doanh. Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) là thủ tục pháp lý bắt buộc đầu tiên, đóng vai trò như "giấy khai sinh" ghi nhận sự tồn tại hợp pháp của doanh nghiệp, đồng thời là công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước nhằm kiểm soát điều kiện gia nhập thị trường, loại bỏ các chủ thể yếu kém và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Cùng với tiến trình cải cách thủ tục hành chính, hoạt động ĐKKD và đăng ký thuế đã được hợp nhất thành một thủ tục duy nhất, gắn liền với việc cấp một mã số doanh nghiệp duy nhất, chuyển đổi thuật ngữ pháp lý từ "đăng ký kinh doanh" sang "đăng ký doanh nghiệp". Trải qua các thời kỳ lập pháp với các đạo Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014 và 2020, hệ thống quy phạm pháp luật về ĐKKD đã liên tục được sửa đổi, chuyển dần từ cơ chế "xin phép" mang nặng tính "xin – cho" sang cơ chế "đăng ký" nhằm công khai, minh bạch hóa quyền tự do kinh doanh. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn bộc lộ nhiều bất cập, sự thiếu đồng bộ giữa luật chung và luật chuyên ngành, cơ chế tiền kiểm - hậu kiểm chưa tối ưu và việc kiểm soát tính hợp pháp của hồ sơ đăng ký qua mạng còn nhiều khoảng trống. Do đó, việc nghiên cứu đề tài "Pháp luật về đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay" mang tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:

  • Mục tiêu chung: Làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về ĐKKD đối với doanh nghiệp tại Việt Nam, phân tích khách quan thực trạng điều chỉnh pháp luật, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ĐKKD và pháp luật về ĐKKD; làm rõ vai trò, chức năng và tác động kinh tế - xã hội của pháp luật ĐKKD.
    2. So sánh các quy định về điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục ĐKKD trong Luật Doanh nghiệp năm 1999, 2005, 2014 và 2020; đánh giá thực trạng triển khai và tính khả thi của các quy định mới.
    3. Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp bảo đảm thực thi có hiệu quả trên thực tế.

Nhiệm vụ nghiên cứu (đánh số theo văn bản):

  1. Nhiệm vụ thứ nhất: Làm rõ vấn đề lý luận của pháp luật về ĐKKD đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay (khái niệm, đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng, nội dung và ý nghĩa của pháp luật về ĐKKD).
  2. Nhiệm vụ thứ hai: Phân tích thực trạng pháp luật về ĐKKD và thực trạng thực thi trên thực tế thông qua so sánh, đánh giá sự phát triển hoạt động ĐKKD qua các đạo Luật Doanh nghiệp 1999, 2005, 2014, 2020; chỉ ra các điểm nổi bật, hạn chế, cơ hội và thách thức.
  3. Nhiệm vụ thứ ba: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp bảo đảm thực thi hiệu quả pháp luật về ĐKKD trên cơ sở lý luận và thực tiễn.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp ở Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động ĐKKD đối với doanh nghiệp tại Việt Nam và quá trình thực hiện các quy định này trong thực tiễn.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Các văn bản pháp luật về ĐKKD đối với doanh nghiệp từ Luật Doanh nghiệp năm 1999 đến Luật Doanh nghiệp năm 2020 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành; các số liệu thống kê thực tiễn áp dụng đến Quý 1/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý luận về quyền tự do kinh doanh được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và các nguyên lý của khoa học luật kinh tế về quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trung tâm được tác giả trích dẫn và phân tích gồm:

  • Các đạo luật cơ bản: Luật Doanh nghiệp (năm 1999, 2005, 2014, 2020), Luật Đầu tư (năm 2005, 2014, 2020), Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Luật sư, Luật Các tổ chức tín dụng.
  • Các văn bản hướng dẫn thi hành: Nghị định số 02/2000/NĐ-CP, Nghị định số 03/2000/NĐ-CP, Quyết định số 19/2000/QĐ-TTg, Nghị định số 88/2006/NĐ-CP, Nghị định số 43/2010/NĐ-CP, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, Nghị định số 108/2018/NĐ-CP, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP; Thông tư số 215/2016/TT-BTC, Thông tư số 28/2018/TT-NHNN.
  • Tài liệu quốc tế: Báo cáo Doing Business 2020 của Ngân hàng Thế giới (World Bank - WB); quy định pháp luật và mô hình cơ quan ĐKKD tại New Zealand (Đạo luật Công ty năm 1993), Singapore (Đạo luật Bồi thường thương tật công việc - WICA, hệ thống Bizfile+ của ACRA), Đan Mạch, Hồng Kông, Hàn Quốc và Hoa Kỳ.

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học và thống kê ứng dụng:

  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 3 để làm rõ các khái niệm, bản chất pháp lý, đặc điểm, ý nghĩa của ĐKKD và luận giải hệ thống giải pháp hoàn thiện thể chế.
  • Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 để so sánh các quy định về điều kiện, hồ sơ, thủ tục qua 4 thế hệ Luật Doanh nghiệp của Việt Nam, đồng thời đối chiếu cơ chế ĐKKD của Việt Nam với các quốc gia trên thế giới.
  • Phương pháp thống kê và sử dụng số liệu: Sử dụng tại Chương 2 để phân tích các số liệu thực tế về số lượng doanh nghiệp thành lập mới, quy mô vốn, cơ cấu ngành nghề và tỷ lệ lao động theo vùng lãnh thổ trong giai đoạn 2020 – Quý 1/2021, cũng như thứ hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam theo đánh giá của World Bank.
  • Phương pháp hệ thống và logic: Sử dụng xuyên suốt khóa luận để liên kết giữa cơ sở lý luận, thực trạng pháp lý, thực tiễn thi hành và kiến nghị chính sách.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sử dụng trong khóa luận bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật chính thức của Việt Nam; Báo cáo Doing Business năm 2009, 2019, 2020 của WB; số liệu công bố trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp; cùng các công trình nghiên cứu của các học giả trong nước (Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy, Luận văn Thạc sĩ của Phạm Phương Nam, các bài viết chuyên khảo của ThS. Đặng Thị Hàn Ni, tác giả Quang Lộc, tác giả Nguyễn Thị Mai Phương).


Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

Chương này tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp lý và ý nghĩa của ĐKKD, đồng thời phân tích các yếu tố tác động và bài học kinh nghiệm quốc tế:

  • Khái niệm và đặc điểm ĐKKD: ĐKKD là hoạt động pháp lý của người thành lập doanh nghiệp với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm ghi nhận sự ra đời của mô hình kinh doanh, xác lập quyền và nghĩa vụ pháp lý của chủ thể đó trên thị trường. Tác giả tiếp cận ĐKKD dưới 4 phương diện: kinh tế (xác lập chi phí gia nhập, tạo giá trị vô hình trên Cổng thông tin quốc gia), quản lý nhà nước (biện pháp quản lý kinh tế vĩ mô đầu vào), chính trị (thực hiện quyền tự do kinh doanh hiến định) và pháp lý (tạo lập tư cách chủ thể). ĐKKD có 3 đặc điểm: (1) Là thủ tục đầu tiên để gia nhập thị trường; (2) Là phương thức thể hiện quyền tự do kinh doanh; (3) Là phương thức bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Bao gồm yếu tố chính trị (đường lối của Đảng, vai trò quản lý vĩ mô, năng lực xây dựng văn bản hướng dẫn), yếu tố kinh tế - xã hội (yêu cầu hội nhập quốc tế, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, chiến lược phát triển kinh tế tư nhân 2021-2030) và sự phát triển của công nghệ thông tin.
  • Nội dung của pháp luật về ĐKKD: Điều chỉnh quy định về chủ thể (cá nhân từ đủ 18 tuổi có năng lực hành vi dân sự, tổ chức có tài sản riêng và thẩm quyền hợp pháp); thủ tục ĐKKD (3 giai đoạn: chuẩn bị, tiến hành đăng ký, sau khi cấp phép); ngành nghề kinh doanh (phân định ngành nghề cấm kinh doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện); đăng ký chi nhánh, văn phòng đại diện; giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (tích hợp đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế và đăng ký đầu tư); thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.
  • Ý nghĩa: Phân tích cụ thể ý nghĩa đối với Nhà nước (quản lý, giám sát, điều tiết chính sách), đối với chủ thể kinh doanh (xác lập tư cách pháp nhân, bảo hộ quyền tài sản, tạo dựng niềm tin với đối tác) và đối với xã hội (tạo việc làm, thiết lập cơ chế giám sát chéo).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Nghiên cứu quy trình ĐKKD trực tuyến tại New Zealand (đăng ký qua Companies Office, bảo lưu tên 20 ngày, cấp giấy chứng nhận qua email trong vòng chưa tới 1 ngày, phí 10 NZD đặt tên + 105 NZD thành lập), Singapore (qua hệ thống Bizfile+ của ACRA, bảo lưu tên 120 ngày, xử lý trong 15 phút, phí 15 SGD + 300 SGD, tích hợp bảo hiểm WICA).
Quốc gia Xếp hạng môi trường kinh doanh Cơ quan tiến hành đăng ký kinh doanh
New Zealand 1 Một cơ quan ĐKKD duy nhất cấp quốc gia (Companies Office)
Singapore 2 Cơ quan ĐKKD duy nhất (ACRA)
Hồng Kông 3 Một cơ quan ĐKKD duy nhất cấp quốc gia
Đan Mạch 4 Một cơ quan ĐKKD duy nhất cấp quốc gia
Hàn Quốc 5 Cơ quan ĐKKD ở từng khu vực
Hoa Kỳ 6 Cơ quan ĐKKD ở Liên bang và cơ quan ĐKKD ở tiểu bang

Bảng: Cơ cấu tổ chức cơ quan đăng ký kinh doanh một số nước trên thế giới (Tổng hợp theo Bảng 1.1 của khóa luận).

Từ kinh nghiệm quốc tế, tác giả rút ra 2 bài học then chốt cho Việt Nam: (1) Ứng dụng triệt để hệ thống đăng ký qua mạng điện tử và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trực tuyến hoàn toàn qua thư điện tử; (2) Quy định cơ chế tìm kiếm, đăng ký và bảo lưu tên doanh nghiệp trực tuyến trong một khoảng thời gian nhất định.


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM

Chương này đi sâu phân tích tiến trình lập pháp điều chỉnh hoạt động ĐKKD qua các đạo Luật Doanh nghiệp, đồng thời đánh giá thực trạng thực hiện và tổng hợp các số liệu thực tế:

  • Lịch sử pháp luật ĐKKD: Khái quát từ Nghị định số 489/TTg (năm 1955), Nghị định số 005/TTg (năm 1960), giai đoạn kinh tế kế hoạch hóa tập trung (1976-1985) không áp dụng quy chế ĐKKD tư nhân, đến bước ngoặt của Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990 và Hiến pháp 1992 ghi nhận quyền tự do kinh doanh.
  • Tiến trình cải cách quy định về điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục:
Tiêu chí Luật Doanh nghiệp 1999 Luật Doanh nghiệp 2005 Luật Doanh nghiệp 2014 Luật Doanh nghiệp 2020
Cơ chế quản lý Bãi bỏ 84 giấy phép con (QĐ 19/2000/QĐ-TTg); gộp xin phép thành lập và ĐKKD. Tích hợp ĐKKD và đăng ký thuế thành một mã số (NĐ 43/2010/NĐ-CP). Nguyên tắc "chọn bỏ": Cấm 6 ngành nghề cụ thể theo Luật Đầu tư 2014. Bổ sung đối tượng cấm thành lập/quản lý DN nhằm tương thích với BLHS, BLDS.
Đối tượng bị cấm quản lý/thành lập 8 đối tượng bị cấm chi tiết theo Điều 9. Nhà đầu tư nước ngoài phải thường trú tại VN. Mở rộng quyền cho tổ chức, cá nhân nước ngoài theo Điều 13. Quy định rõ ràng nhóm cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang theo Điều 18. Bổ sung: công nhân công an, người có khó khăn trong nhận thức, người bị tạm giam, pháp nhân thương mại bị cấm hoạt động.
Thời hạn giải quyết cấp GCN 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 10 ngày làm việc (NĐ 43/2010 rút ngắn xuống 05 ngày làm việc). 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ. 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (NĐ 01/2021/NĐ-CP).
Hình thức nộp hồ sơ Nộp trực tiếp bằng văn bản giấy tại UBND cấp tỉnh. Nộp trực tiếp tại Phòng ĐKKD cấp tỉnh. Nộp trực tiếp hoặc nộp qua Cổng thông tin quốc gia về đăng ký DN. Mở rộng và chuẩn hóa quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng điện tử.
Quy định về con dấu Cơ quan công an cấp và quản lý con dấu. Cơ quan công an cấp và quản lý con dấu. Doanh nghiệp tự quyết định hình thức, số lượng và thông báo mẫu dấu. Bãi bỏ hoàn toàn thủ tục thông báo mẫu con dấu trước khi sử dụng.
  • Quy định về hồ sơ theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP: Phân định hồ sơ đăng ký đối với từng loại hình (DNTN tại Điều 21, công ty hợp danh tại Điều 22, công ty TNHH tại Điều 23, CTCP tại Điều 24; chia tách, hợp nhất tại Điều 25; chuyển đổi loại hình tại Điều 26-27; chi nhánh, văn phòng đại diện tại Điều 31). Cơ quan tiếp nhận phân cấp: Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh (Sở Kế hoạch và Đầu tư) xử lý hồ sơ doanh nghiệp; cơ quan ĐKKD cấp huyện xử lý hộ kinh doanh.
  • Thực trạng thực hiện và các chỉ số thống kê:
    • Theo Báo cáo Doing Business 2020 của WB, Việt Nam xếp hạng 70/190 nền kinh tế về mức độ thuận lợi kinh doanh.
    • Tình hình đăng ký doanh nghiệp thực tế được phân tích qua hệ thống biểu đồ tại Chương 2: Biểu đồ 2.1 (Tình hình đăng ký doanh nghiệp và vốn theo quý); Biểu đồ 2.2 (Đăng ký thành lập doanh nghiệp và vốn theo vùng lãnh thổ Quý 1/2021 so với Quý 1/2020); Biểu đồ 2.3 (Tỷ lệ lao động đăng ký theo vùng Quý 1/2021 so với Quý 1/2020); Biểu đồ 2.4 (Đăng ký theo ngành Quý 1/2021); Biểu đồ 2.5 (Số lượng doanh nghiệp thành lập mới Quý 1/2021 theo quy mô vốn).
  • Hạn chế và bất cập thực tiễn: Cán bộ tiếp nhận hồ sơ chỉ kiểm tra tính hợp lệ về mặt hình thức mà chưa có công cụ kiểm soát tính xác thực, hợp pháp của nội dung (dẫn đến rủi ro giả mạo giấy tờ, mạo danh thành lập doanh nghiệp); trách nhiệm của cán bộ cấp phép chưa được quy định chặt chẽ; thủ tục nhận kết quả vẫn yêu cầu nộp/đối chiếu hồ sơ giấy tại cơ quan ĐKKD; công tác hậu kiểm còn buông lỏng khiến nhiều doanh nghiệp không hoạt động tại trụ sở đăng ký hoặc lợi dụng tư cách pháp nhân để trốn thuế.

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ĐẢM BẢO THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH

Chương này trình bày định hướng và đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ:

  1. Sự cần thiết và phương hướng hoàn thiện: Thể chế hóa đầy đủ quyền tự do kinh doanh hiến định, bảo đảm tính thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp với các luật chuyên ngành, đáp ứng các cam kết trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) và chuyển đổi mạnh mẽ từ phương thức quản lý tiền kiểm sang hậu kiểm.
  2. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về ĐKKD:
    • Hoàn thiện điều kiện ĐKKD: Bổ sung các tiêu chí, văn bản hướng dẫn cụ thể để xác định chính xác các đối tượng bị cấm theo Luật Doanh nghiệp 2020 (như căn cứ xác định người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dựa trên quyết định tuyên bố của Tòa án; căn cứ xác định pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh dựa trên bản án có hiệu lực pháp luật).
    • Hoàn thiện trình tự, thủ tục ĐKKD: Đơn giản hóa hơn nữa các thành phần hồ sơ; thiết lập cơ chế tìm kiếm, đăng ký và bảo lưu tên doanh nghiệp trực tuyến có thời hạn trước khi nộp hồ sơ chính thức; hoàn thiện cơ chế liên thông điện tử đồng bộ giữa cơ quan ĐKKD, cơ quan Thuế, Bảo hiểm xã hội và cơ quan quản lý lao động.
  3. Giải pháp bảo đảm thực thi pháp luật về ĐKKD:
    • Mở rộng hình thức đăng ký qua mạng: Thực hiện chuyển giao hoàn toàn kết quả đăng ký kinh doanh bằng bản điện tử (có chữ ký số xác thực và đường liên kết tải văn bản), bãi bỏ yêu cầu người dân phải trực tiếp đến cơ quan ĐKKD để nhận bản giấy.
    • Tăng cường tuyên truyền, hỗ trợ pháp lý: Phổ biến sâu rộng các quy định mới của Luật Doanh nghiệp 2020 và Nghị định 01/2021/NĐ-CP cho cộng đồng khởi nghiệp.
    • Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật: Hoàn thiện Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp, nâng cao tính ổn định của hệ thống Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
    • Nâng cao hiệu quả công tác hậu kiểm: Tăng cường sự phối hợp, chia sẻ dữ liệu liên ngành giữa Cơ quan ĐKKD, cơ quan Thuế, Công an và Tòa án để kịp thời phát hiện các sai phạm sau đăng ký; thiết lập cơ chế xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi khai man hồ sơ, lập doanh nghiệp "ma".
    • Xây dựng chính sách theo vùng miền: Đề ra các phương hướng hỗ trợ ĐKKD linh hoạt, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương.
    • Nâng cao chất lượng cán bộ ĐKKD: Kiện toàn bộ máy, chuẩn hóa trình độ chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao đạo đức công vụ và quy định rõ ràng trách nhiệm pháp lý của cán bộ tiếp nhận, xử lý hồ sơ.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa tiến trình lập pháp ĐKKD: Khóa luận đã phân tích chi tiết sự tiến hóa của các quy phạm pháp luật ĐKKD tại Việt Nam từ năm 1955 đến năm 2021, làm nổi bật sự rút ngắn vượt bậc về thời hạn giải quyết thủ tục hành chính: từ 15 ngày làm việc (Luật Doanh nghiệp 1999), 10 ngày rồi 05 ngày (Luật Doanh nghiệp 2005 và Nghị định 43/2010/NĐ-CP), xuống còn 03 ngày làm việc (Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Doanh nghiệp 2020 và Nghị định 01/2021/NĐ-CP).
  • Làm rõ sự chuyển đổi tư duy lập pháp: Khóa luận phân tích sâu sắc quá trình chuyển dịch từ phương thức quản lý danh mục "chọn cho" sang phương thức "chọn bỏ" (quy định rõ 6 ngành nghề cấm đầu tư kinh doanh theo Luật Đầu tư 2014), bãi bỏ 84 giấy phép con theo Quyết định 19/2000/QĐ-TTg, gộp đăng ký kinh doanh với đăng ký thuế và xóa bỏ thủ tục thông báo mẫu con dấu.
  • Đánh giá thực trạng dựa trên dữ liệu văn bản: Tổng hợp và đối chiếu thứ hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam (xếp thứ 70/190 nền kinh tế theo Báo cáo Doing Business 2020) cùng bức tranh đăng ký doanh nghiệp trong Quý 1/2021 so với Quý 1/2020 theo vùng lãnh thổ, ngành nghề và quy mô vốn.
  • Đóng góp mới so với các công trình trước: Trong khi các công trình nghiên cứu trước đây (như Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Thủy hay Luận văn Thạc sĩ của Phạm Phương Nam) chỉ dừng lại ở phạm vi điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp 2014, khóa luận này là công trình nghiên cứu chuyên sâu cập nhật trực tiếp các điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2020 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP; đồng thời đề xuất giải pháp cấp thiết về đăng ký kinh doanh trực tuyến toàn trình và cơ chế xác thực pháp lý đối với hồ sơ điện tử.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tại thời điểm tác giả hoàn thành khóa luận (tháng 5 năm 2021), Luật Doanh nghiệp 2020 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP mới chính thức có hiệu lực thi hành chưa lâu (từ ngày 01/01/2021 và ngày 04/01/2021), do đó số liệu thực tiễn và các bản án/tranh chấp phát sinh từ các quy định mới chỉ được ghi nhận trong phạm vi Quý 1/2021, chưa có chuỗi dữ liệu thực thi dài hạn để đánh giá toàn diện tác động kinh tế - xã hội. Ngoài ra, nghiên cứu chưa khảo sát định lượng sâu tại từng địa bàn cụ thể ngoài các số liệu tổng hợp chung.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đánh giá hiệu quả thực thi thực tế của Luật Doanh nghiệp 2020 và Nghị định số 01/2021/NĐ-CP sau 3-5 năm áp dụng trên toàn quốc; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế xác thực danh tính điện tử, bảo mật dữ liệu và phòng chống rửa tiền trong hoạt động đăng ký doanh nghiệp trực tuyến hoàn toàn trên môi trường số.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại, Quản trị Kinh doanh cần tài liệu nghiên cứu về thể chế gia nhập thị trường và pháp luật doanh nghiệp.
    • Cán bộ, chuyên viên công tác tại Phòng Đăng ký kinh doanh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh, thành phố; cán bộ quản lý thuế và cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện.
    • Luật sư, chuyên viên tư vấn pháp lý và các nhà đầu tư, người sáng lập doanh nghiệp đang chuẩn bị thủ tục khởi sự kinh doanh.
  • Nội dung đáng tham khảo: Bảng đối chiếu tiến trình sửa đổi quy định ĐKKD qua các đạo Luật Doanh nghiệp 1999, 2005, 2014, 2020; hệ thống phân tích các bài học kinh nghiệm về ĐKKD trực tuyến của New Zealand, Singapore; và phần phân tích rủi ro pháp lý liên quan đến việc kiểm tra tính hợp lệ hình thức của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã bổ sung những đối tượng cụ thể nào vào diện cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp?

Căn cứ Luật Doanh nghiệp 2020 và nội dung phân tích tại Chương 2 của khóa luận, các đối tượng mới được bổ sung bao gồm: (1) Công nhân công an; (2) Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi; (3) Người đang bị tạm giam; (4) Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự.

2. Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp của cơ quan ĐKKD đã được cải cách rút ngắn như thế nào qua các thời kỳ?

Thời hạn giải quyết cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/doanh nghiệp đã được rút ngắn rõ rệt: theo Luật Doanh nghiệp 1999 là 15 ngày làm việc; theo Luật Doanh nghiệp 2005 là 10 ngày làm việc (sau đó Nghị định 43/2010/NĐ-CP rút xuống còn 05 ngày làm việc); và từ Luật Doanh nghiệp 2014 đến Luật Doanh nghiệp 2020 (Nghị định 01/2021/NĐ-CP) rút ngắn xuống chỉ còn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

3. Theo Báo cáo Doing Business 2020 của Ngân hàng Thế giới được trích dẫn trong khóa luận, môi trường kinh doanh của Việt Nam đạt thứ hạng bao nhiêu?

Trong Báo cáo Doing Business 2020 của Ngân hàng Thế giới (công bố ngày 24/10/2019), Việt Nam được xếp hạng thứ 70 trên tổng số 190 nền kinh tế được đánh giá về mức độ dễ dàng trong hoạt động kinh doanh.

4. Kinh nghiệm ĐKKD của New Zealand và Singapore có điểm gì nổi bật mà tác giả đề xuất Việt Nam cần học hỏi?

Khóa luận chỉ ra hai điểm nổi bật: (1) Áp dụng ĐKKD trực tuyến hoàn toàn và trả kết quả Giấy chứng nhận thành lập qua thư điện tử trong thời gian chưa tới 01 ngày (New Zealand xử lý trực tuyến, Singapore qua Bizfile+ xử lý trong khoảng 15 phút); (2) Cho phép tìm kiếm và bảo lưu tên doanh nghiệp trực tuyến (New Zealand cho phép bảo lưu tên tối đa 20 ngày làm việc, Singapore cho phép bảo lưu 120 ngày sau khi được phê duyệt).

5. Điểm bất cập lớn nhất trong quy trình kiểm tra hồ sơ đăng ký doanh nghiệp hiện nay được khóa luận chỉ ra là gì?

Bất cập lớn nhất là cán bộ cơ quan ĐKKD hiện chỉ kiểm tra tính hợp lệ về mặt hình thức (tính đầy đủ của danh mục giấy tờ) mà chưa có cơ chế, công cụ kiểm tra tính hợp pháp, chính xác thực chất của nội dung hồ sơ. Điều này dẫn đến nguy cơ khai man, làm giả hồ sơ, mạo danh cá nhân khác để thành lập doanh nghiệp hoặc chiếm đoạt quyền quản lý doanh nghiệp trên thực tế.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Pháp luật về đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Nguyễn Thị Thùy Dương đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, lịch sử lập pháp và thực trạng điều chỉnh pháp luật ĐKKD tại Việt Nam đến thời điểm áp dụng Luật Doanh nghiệp năm 2020. Tác phẩm đã phân tích rõ nét những bước tiến trong cải cách thủ tục hành chính, đồng thời chỉ ra các lỗ hổng thực tiễn trong công tác kiểm soát hồ sơ điện tử và cơ chế hậu kiểm. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, gắn liền với định hướng phát triển dịch vụ công trực tuyến toàn trình, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.