CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Lý luận chung về môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm môi trường kinh doanh Theo Nguyễn Như Ý, môi trường là tất cả những gì bao quanh sự vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh, có tác động trực tiếp lên sự sinh sống, phát triển và sinh sản của sự vật [33]. Từ điển Ngôn ngữ học Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học lại nêu, môi trường là i) nơi xảy ra một hiện tượng hoặc diễn ra một quá trình, trong quan hệ với hiện tượng, quá trình ấy, ii) toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sự vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, sự vật ấy [24].
Qua hai định nghĩa trên, có thể nói môi trường là tất cả những gì bao quanh sự vật, hiện tượng, quá trình mà tại đó sự vật, hiện tượng, quá trình được diễn ra và kết thúc, đồng thời giữa chúng có mối quan hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau. Như vậy, MTKD được hiểu như thế nào? Theo Báo cáo Phát triển thế giới năm 2005, Môi trường đầu tư (đồng nhất với MTKD) là tập hợp các yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để DN đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất [52, tr. Theo Chu Tiến Quang (2008), MTKD là toàn bộ các yếu tố có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động của các DN, cũng có nghĩa là các điều kiện để cho khu vực tư nhân phát triển một cách thuận lợi [25, tr. Theo Mai Ngọc Cường (1996), MTKD là tổng hợp những yếu tố, điều kiện mà chủ thể kinh doanh sử dụng để tiến hành toàn bộ quá trình kinh doanh.
Đó là tổng thể những điều kiện, những yếu tố bên trong và bên ngoài DN nhằm đảm bảo cho DN hoạt động bình thường có hiệu quả [17, tr. Theo Jauch và Glueck (1988), MTKD là tập hợp những điều kiện bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến hoạt động sản xuất và kinh doanh của các DN. Theo đó có những tầng mức MTKD khác nhau. Tầng mức môi trường nội tại bao gồm một số yếu tố bên trong mà DN có thể kiểm soát được như vốn, lao động, 9 thông tin, ý tưởng, đất đai, thiết bị, và quyết định sản lượng.
Tầng mức môi trường bên ngoài liên quan đến các yếu tố ngành (điều kiện chung cho tất cả các DN hoạt động cùng ngành), quốc gia (hệ thống các yếu tố rộng và bao quát những ngành hoạt động khác nhau của nền kinh tế như ngân hàng, giáo dục, thương mại, công nghiệp, …), khu vực và thế giới (các điều kiện ảnh hưởng đến quốc gia). Đây là tầng mức môi trường mà DN không thể kiểm soát được mà chỉ có thể phản hồi hoặc tương tác lại. Các DN sẽ điều chỉnh những thành tố môi trường nội tại để nắm bắt được những cơ hội cũng như để đối mặt với những thách thức từ môi trường bên ngoài [26, tr. Theo Porter (2008), MTKD của một quốc gia là kết quả tích luỹ của các chính sách nhà nước ở tất cả các thang bậc địa lý khác nhau [26, tr.
Tóm lại, MTKD là tập hợp hữu cơ những yếu tố bên trong và bên ngoài của một DN hoặc một dự án đầu tư có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hiệu quả, hiệu suất hoạt động của DN hoặc của dự án đầu tư đó. MTKD quyết định việc lựa chọn địa điểm, ngành nghề, cách thức kinh doanh, đầu tư của doanh nhân, NĐT và phản ánh mức độ phát triển về kinh tế - chính trị - văn hóa – pháp luật – tâm lý kinh doanh – thể chế hành chính của một địa phương hoặc một quốc gia, khu vực. MTKD được chia thành hai mảng lớn: mảng bên trong và mảng bên ngoài. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả tập trung đi sâu tìm hiểu MTKD bên ngoài.
Và từ đây trở đi, cụm từ MTKD sẽ hàm ý nội dung là tập hợp hữu cơ những yếu tố bên ngoài DN hoặc dự án đầu tư có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hiệu quả, hiệu suất hoạt động của DN hoặc của dự án đầu tư đó. Cạnh tranh và Năng lực cạnh tranh Đại Từ điển Tiếng Việt giải thích cạnh tranh là sự ganh đua giữa những cá nhân, thực thể có chức năng như nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình [33]. Từ điển Ngôn ngữ học Tiếng Việt cũng có cách giải thích tương tự, cạnh tranh là cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm lợi ích như nhau [24]. Thêm nữa, Đại Từ điển Tiếng Việt cũng giải nghĩa năng lực là i) những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì, ii) khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc.
10 Từ những trích dẫn trên, ta hiểu năng lực cạnh tranh là những điều kiện đủ hoặc vốn có để giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những thực thể có cùng chức năng. Chẳng hạn, nếu thực thể là các DN, ta có năng lực cạnh tranh DN; nếu thực thể là các địa phương trong một quốc gia thì ta có năng lực cạnh tranh địa phương; và nếu thực thể đó là các quốc gia thì ta có năng lực cạnh tranh quốc gia. Năng lực cạnh tranh cũng bao gồm cả việc phải biết cách hợp tác để sử dụng tốt nhất các nguồn lực. Trở lại vấn đề nội dung của “năng lực cạnh tranh”.
Trong giới nghiên cứu, nhiều học giả đã sử dụng cụm từ “sức cạnh tranh” với hàm nghĩa là “năng lực cạnh tranh”. Đồng thời, cũng có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “sức cạnh tranh”. Xét phạm vi quốc gia, một số người coi sức cạnh tranh là một hiện tượng kinh tế vĩ mô, do các biến số như tỉ giá hối đoái, lãi suất và mức thâm hụt ngân sách chính phủ điều khiển [5, tr. Số khác lại lập luận rằng, sức cạnh tranh là một hàm số của lao động giá rẻ và dồi dào [5, tr.
Một quan điểm khác cho rằng sức cạnh tranh phụ thuộc vào việc sở hữu những nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú [5, tr. Gần đây nhất, nhiều người tranh luận rằng, chính sách của chính phủ có tác động lớn nhất tới sức cạnh tranh [5, tr. Một cách lý giải phổ biến cuối cùng về sức cạnh tranh là những khác biệt trong phương pháp quản lý. Tổng hợp các luận điểm trên, Michael E.
Porter đã chỉ ra rằng sức cạnh tranh quốc gia là chính là năng suất sử dụng các nguồn lực (nhân công và vốn) [5, tr. Khi đó, “năng lực cạnh tranh” hay “sức cạnh tranh” quốc gia sẽ chuyển thành năng suất quốc gia. Tóm lại, năng lực cạnh tranh là khả năng chiếm lĩnh phần hơn về mình giữa các chủ thể cạnh tranh. Xét ở khía cạnh quốc gia, để có năng suất quốc gia thì trước tiên phải có năng suất DN và năng suất từng địa phương, và sự tác động giữa ba thực thể ấy.
Nghĩa là, tạo được năng lực cạnh tranh cao cho DN ở địa phương thì địa phương đó có năng lực cạnh tranh cao, và khi nhiều địa phương có sức cạnh tranh cao thì quốc gia sẽ có năng suất cao. Và công cụ để thực hiện quá trình ấy chính là MTKD. Địa phương có MTKD tốt, DN tại đó sẽ có năng lực cạnh tranh cao. Các yếu tố cấu thành môi trường kinh doanh Như đã phân tích, MTKD là tập hợp hữu cơ những yếu tố bên ngoài DN hoặc dự án đầu tư có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến hiệu quả, hiệu suất hoạt động của DN hoặc của dự án đầu tư đó.
Vậy, MTKD có những yếu tố cấu thành sau: Thứ nhất, hệ thống pháp luật về kinh doanh. Yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp đến chủ thể hoạt động kinh doanh ở cả hai khía cạnh. Nếu luật pháp phù hợp với thực tiễn, luật pháp sẽ có tác động tích cực. Ngược lại, nếu luật pháp lạc hậu so với thực tiễn, thì sẽ có tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển của hoạt động kinh doanh.
Vì có tính chất quan trọng, nên trong nhiều nghiên cứu khác nhau về MTKD, luật pháp luôn là yếu tố được nhắc đến đầu tiên. Chẳng hạn, tác giả Chu Tiến Quang (2008) xác định luật pháp là yếu tố cơ bản cấu thành MTKD [25, tr. Lê Danh Vĩnh (2009) nhấn mạnh yếu tố hệ thống pháp luật về kinh doanh và các quy tắc về xã hội điều chỉnh các mối quan hệ kinh doanh được pháp luật thừa nhận của một quốc gia là yếu tố thứ nhất của MTKD [32, tr. Thứ hai, chính trị - xã hội.
Tình hình chính trị - xã hội là cơ sở thực tiễn cho việc hình thành nên pháp luật. Sự ảnh hưởng của chính trị - xã hội không chỉ thể hiện qua sự tác động của luật pháp, mà còn thể hiện qua quan điểm và tư tưởng thực hiện hoạt động kinh doanh của các chủ thể tham gia vào MTKD. Theo Lê Danh Vĩnh (2009), bản chất của yếu tố chính trị - xã hội chính là các cơ chế, phương pháp, thủ tục thực hiện các hoạt động kinh doanh và quản lý, điều hành hệ thống kinh doanh [32, tr. Rất khó nhận ra sự khác nhau giữa hai yếu tố luật pháp và chính trị - xã hội, tuy nhiên, nếu xem xét kĩ thì luật pháp chỉ ra các phương pháp và thủ tục của MTKD, còn chính trị - xã hội hình thành nên cơ chế hoạt động của MTKD.
Sự giao thoa giữa luật pháp và chính trị xã hội biểu hiện rõ nhất qua sự hoạt động của nền hành chính nhà nước. Thứ ba, môi trường kinh tế vĩ mô (GDP, lạm phát, tỷ giá, sức mua của thị trường). Yếu tố này có vai trò tương tự như yếu tố chính trị xã hội, nhưng có mức độ ảnh hưởng lớn hơn. Các NĐT khi tìm kiếm cơ hội đầu tư tại một quốc gia đều nghiên cứu rất kĩ về yếu tố này, đặc biệt là tiềm năng phát triển kinh tế và những điều kiện kinh tế vĩ mô.
Theo Vũ Huy Từ (1996), yếu tố kinh tế còn có thể hiểu là các thị trường 12 đang hoạt động trong MTKD như thị trường vật tư, thị trường lao động, thị trường tài chính, thị trường đất đai, thị trường tiêu thụ [17, tr.15] Thứ tư, yếu tố vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên. Đây là yếu tố truyền thống của MTKD. Nó có thể là lợi thế hoặc cũng có thể là hạn chế ảnh hưởng đến kinh doanh và đầu tư.