PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng vai trò và vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội của mỗi quốc gia, khu vực DNNVV đã và đang chiếm ưu thế trong phát triển kinh tế - xã hội trên thế giới, kể cả các nước có trình độ phát triển cao như Nhật Bản, Đức… DNNVV được coi là động lực của nền kinh tế, là bộ phận cấu thành không thể tách rời với các doanh nghiệp (DN) lớn, đặc biệt trong việc tạo dựng công nghiệp bổ trợ và mạng lưới phân phối sản phẩm. Do đó, CP của các nước này đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích đầu tư cũng như trợ giúp cộng đồng các DNNVV phát triển. DNNVV ở Việt Nam (VN) hiện nay chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số DN, mặc dù DNNVV cũng có một số khó khăn như quy mô nhỏ, trình độ lao động thấp, quản trị chưa tốt, khả năng tiếp cận thị trường, vốn vay và hệ thống pháp luật còn hạn chế nhưng đã đóng góp phần không nhỏ vào tăng trưởng, phát triển, tạo việc làm, tăng thu nhập cho dân cư.
Nhận thức được tầm quan trọng của các DNNVV trong thúc đẩy phát triển và hiện đại hóa nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã và đang có những chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm hỗ trợ loại hình DN này, nhờ vậy, trong những năm gần đây các DNNVV ở nước ta đã đạt được sự phát triển mạnh mẽ. Theo số liệu thống kê thì cả nước hiện có hơn 500 nghìn DN, chiếm tổng 98% tổng số DN, trong giai đoạn 2010-2015, DNNVV đóng góp bình quân hàng năm khoảng 45% GDP, đóng góp khoảng 31% tổng thu ngân sách nhà nước (181 nghìn tỉ đồng vào năm 2010, 177 nghìn tỉ đồng năm 2011, 184,6 nghìn tỉ vào năm 2013…), hàng năm giải quyết việc làm cho hơn 50% lực lượng lao động của khối DN, có vai trò lớn trong giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, đồng thời, có vai trò to lớn trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đóng góp tích cực vào quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế của VN. Trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh trong những năm vừa qua, số lượng DN tăng nhanh, đến nay, tổng số DN trên địa bàn là 5.122 DN, tốc độ tăng bình quân hàng năm thời kỳ 2005-2015 đạt 21,35%, số DN thành lập giai đoạn 2011-2015 tăng 2 44% so với giai đoạn 2006-2010, riêng năm 2016 có 650 DN được thành lập mới, trong tổng số DN trên địa bàn có hơn 98% là DNNVV. Hệ thống các DNNVV trên địa bàn đã có những đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương như trong giai đoạn 2012-2016, DNNVV đóng góp bình quân hàng năm khoảng 16,5% GDP, đóng góp khoảng 21,2% tổng thu ngân sách nhà nước, bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho gần 50.000 lao động, trong đó có 16.088 lao động nữ chiếm 29,7% với thu nhập bình quân đầu người là 43 triệu đồng/năm.
Nhưng qua rà soát hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV trên địa bàn Hà Tĩnh cho thấy DN vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong năm 2016, có 1200 DN bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký DN do DN bỏ địa điểm kinh doanh, đồng thời, tỉ lệ DN hoạt động có lãi qua các năm có xu hướng giảm (phân tích 1.841 báo cáo tài chính DN năm 2013, 1.355 DN năm 2015 cho thấy tỉ lệ DN hoạt động có lãi năm 2013 là 73,6%, Formatted: Condensed by 0.1 pt năm 2014 là 70,8%, năm 2015 là 65,8%), đối với các DN hoạt động có lãi thì mức lợi nhuận trước thuế đạt dưới 500 triệu đồng chiếm đến 85%. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DNNVV trên địa bàn tỉnh thấp do phát triển tự phát, năng lực cạnh tranh thấp, chưa có nhiều sản phẩm tạo được thương hiệu; thiếu liên doanh, liên kết; hạn chế về năng lực quản trị cũng như kiến thức, nhận thức và tư duy hội nhập, trình độ lao động thấp, ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến trong sản xuất kinh doanh còn ít, tiếp cận thị trường, tiếp cận nguồn vốn vay khó khăn. Đứng trước thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, những hạn chế yếu kém cơ bản này, cộng đồng DN của tỉnh sẽ gặp nhiều khó khăn thách thức trong thời gian tới. Do đó, tìm ra các giải pháp thúc đẩy phát triển DNNVV tại Hà Tĩnh cả về số lượng và chất lượng là vấn đề cấp bách cần được giải quyết.
Từ thực tiễn đó, tôi chọn đề tài “Phát triển DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh” làm đề tài nghiên cứu. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Liên quan đến nội dung phát triển DNNVV, trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, để hoàn thành đề tài nghiên cứu của mình, tôi đã tham khảo một số tài liệu sau: 3 Cuốn sách chuyên khảo của Hồ Xuân Phương và cộng sự (2002) về “Tài chính hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa” nghiên cứu thực trạng DNNVV và chính sách tài chính trong việc phát triển DNNVV, qua đó đưa ra một số giải pháp tài chính chủ yếu nhằm hỗ trợ phát triển DNNVV. Công trình nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp tổng hợp, phương pháp khảo sát. Hạn chế của tài liệu này là chỉ nghiên cứu về nguồn tài chính của DN và các nhóm giải pháp hướng đến nguồn tài chính.
Cuốn sách chuyên khảo của nhóm tác giá Lê Xuân Bá, Trần Kim Hào, Nguyễn Hữu Thắng (2006) về “Doanh nghiệp nhỏ và vừa của VN trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” đã trình bày tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế và những tác động tới các DNNVV ở VN, nêu lên những trở ngại, những khó khăn đối với DNNVV từ đó đề cập đến việc đổi mới nhận thức, quan điểm, một số giải pháp và định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV ở VN thời kỳ hội nhập. Công trình nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp phân tích, phương pháp chuyên gia. Hạn chế của tài liệu là nêu những vấn đề chung của DNNVV nhưng không đi sâu vào phân tích thực trạng của DNNVV trên địa bàn Hà Tĩnh Cuốn sách chuyên khảo của tác giả Nguyễn Trường Sơn (2014) về “Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa ở VN hiện nay” đã tổng hợp những vấn đề lý luận chung về DNNVV trong nền kinh tế, đặc biệt sự phát triển lý luận và các nghiên cứu chuyên sâu về các đặc trưng của DNNVV xuất phát từ cấu trúc bên trong của DN, phát hiện và lượng hóa các nhân tố tác động quá trình phát triển của DN thông qua việc khảo sát thực tiễn các DN hiện tại từ đó đi sâu phân tích, giải quyết các vấn đề đặc thù của DNNVV ở VN là vấn đề quản trị, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, nguồn tài chính của DN. Công trình còn đề cập đến vấn đề quản lý Nhà nước đối với DNNVV của VN trong thời kỳ hội nhập.
Công trình nghiên cứu này đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, phương pháp khảo sát và so sánh. 4 Hạn chế của công trình này là chỉ khảo sát DNNVV tại VN, không khảo sát và tổng hợp những vấn đề khó khăn của các DNNVV trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh. Cuốn sách chuyên khảo của nhóm tác giả Phạm Quang Trung, Vũ Đình Chiến, Lê Thị Lan Hương (2009) về “Tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội” trình bày lý luận về năng lực cạnh tranh của DN trong điều kiện hội nhập quốc tế, phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV trên địa bàn Hà Nội sau khi VN gia nhập WTO. Hạn chế của công trình nghiên cứu này là chỉ đề cập đến các DNNVV trên địa bàn Hà Nội với những đặc trưng riêng có ở đó.
Luận án Tiến sỹ kinh tế của Mẫu Bá Đạt (2009) về “Quá trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ngoài quốc doanh ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2003 - thực trạng, kinh nghiệm và giải pháp” đã hệ thống lý luận về phát triển DNNVV, nghiên cứu sự phát triển của DNNVV ngoài quốc doanh ở Bắc Ninh giai đoạn 1997-2003 để thấy được những thành công và hạn chế nhằm tìm ra giải pháp thúc đẩy sự phát triển của DNNVV ngoài quốc doanh ở đây. Hạn chế của công trình nghiên cứu này là chỉ đề cập tới các DNNVV tại tỉnh Formatted: Condensed by 0.2 pt Bắc Ninh nên các giải pháp có thể không phù hợp với DNNVV ở các địa phương khác. Luận án Tiến sỹ kinh tế của Nguyễn Duy Phúc (2011) về “Tạo lập và thúc đẩy quan hệ lao động lành mạnh tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Hà Nội” đã hệ thống lý luận về quan hệ lao động trong nền kinh tế thị trường, nhận biết những đặc trưng và nguyên nhân dẫn tới quan hệ lao động thiếu lành mạnh ở các DNNVV trên địa bàn Hà Nội, từ đó đề xuất mô hình và giải pháp thích hợp nhằm thúc đẩy tính lành mạnh trong quan hệ lao động ở các DN này. Hạn chế công trình này là chỉ tập trung vào nghiên cứu yếu tố lao động của các DNNVV.
Luận án Tiến sĩ kinh tế của Phạm Thu Hương (2017) về “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội” đã hệ thống cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh của DNNVV và các nhân tố ảnh hưởng, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các DNNVV VN. 5 Hạn chế của công trình này là chỉ tập trung các giải pháp cải thiện năng lực cạnh tranh của các DNNVV đựa đưa ra dựa trên kết quả khảo sát các DNNVV trên địa bàn thành phố Hà Nội nên không phản ánh đặc trưng của các DNNVV ở các địa phương khác. Tóm lại, các nghiên cứu trước đây đã đề cập đến một số khía cạnh khác nhau tác động đến sự phát triển của các DNNVV, như nguồn tài chính, lao động, thách thức và cơ hội, năng lực cạnh tranh. nhưng chưa có nghiên cứu nào đề cập chi tiết, tổng hợp các nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến sự phát triển của các DNNVV.
Do đó, các giải pháp chưa mang tính toàn diện. Một số nghiên cứu đã thực hiện lâu nên không còn phù hợp với điều kiện mới.