Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật về đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần ở Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về pháp nhân 1. Khái niệm pháp nhân Khi nói về chủ thể của pháp luật, ngoài chủ thể là thể nhân – con người cụ thể hoặc chủ thể được coi như thể nhân còn có các thực thể pháp lý khác có tư cách chủ thể, đó chính là pháp nhân.
Nhu cầu tạo ra thực thể pháp lý có tư cách chủ thể độc lập với thể nhân là một tất yếu đối với các hệ thống pháp luật nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và của các nhà đầu tư. Bởi lẽ, các thực thể pháp lý đó có thể do một tổ chức, cá nhân hoặc nhiều tổ chức, cá nhân tạo lập, nhưng các hoạt động kinh doanh do các thực thể này thực hiện mang lại hiệu quả cao mà thể nhân đơn lẻ khó có thể thực hiện được. Khi nghiên cứu về pháp nhân, Giáo sư Jean Claude Ricci chỉ ra hai lợi ích cơ bản sau đây: - Thứ nhất, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được đơn giản hóa. Pháp nhân cho phép đơn giản hóa pháp luật.
Chúng ta hãy đặt giả thiết là không có pháp nhân mà chỉ có các thể nhân. Khi đó, mỗi thể nhân thành viên đều sẽ phải tham gia vào việc ký kết các giao dịch pháp lý. Hậu quả sẽ rất phức tạp. - Thứ hai, việc hình thành pháp nhân làm cho đời sống pháp luật được ổn định lâu dài.
Đây là một yếu tố hết sức quan trọng. Người ta thường hay nói rằng, pháp nhân không gặp phải những thay đổi bất ngờ như thể nhân. Thời gian tồn tại của một pháp nhân thường dài hơn cuộc sống của một con người. Và hoạt động của pháp nhân có thể kéo dài, thậm chí rất dài.
Pháp nhân không bị ảnh hưởng bởi những biến cố xảy ra đối với thành viên của nó [57, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Harold Arthur Jonh Ford trong công trình “Principles of Company Law” cũng nhấn mạnh rằng “Trong bất kỳ hệ thống pháp luật hoàn chỉnh nào cũng có nhu cầu tạo ra thực thể pháp lý, có thể thụ hưởng các quyền và chịu nghĩa vụ cơ bản giống như con người, thực thể đó được gọi là pháp nhân” [65]. Về đặc tính và bản chất pháp lý của pháp nhân, cho đến này người ta vẫn còn tranh luận, và luật pháp các quốc gia thường có sự khác biệt về tiêu chí xác định pháp nhân. Tuy nhiên, tư cách pháp nhân của từng loại hình công ty thường được pháp luật công ty xác định một cách trực tiếp mà không cần phải có một thủ tục công nhận riêng.
Maurice cozian và Alain Viandier đã ví von pháp nhân như một cái vỏ ốc và công ty là con dã tràng sống trong đó. Ở Việt Nam, nếu tính từ năm 1975, thuật ngữ pháp nhân được nhắc đến lần đầu tiên trong Thông tư 525-HĐ ngày 23-6-1975 của Hội đồng trọng tài kinh tế nhà nước hướng dẫn việc thực hiện bản điều lệ về chế độ hợp đồng kinh tế quy định ban hành kèm theo Nghị định số 54-CP ngày 10-3-1975 của Hội đồng Chính phủ quy định quy cách pháp nhân của các bên ký kết hợp đồng kinh tế: Các đơn vị, tổ chức, cơ quan tham gia giao kết hợp đồng kinh tế. Đó là những đơn vị có đủ tư cách pháp nhân được nhà nước thành lập hoặc thừa nhận, có tài sản riêng và có trách nhiệm độc lập về tài sản đó, có tài khoản tại ngân hàng. các tổ chức xã hội có đủ tư cách pháp nhân phải là những tổ chức được nhà nước công nhận và cũng có tài khoản ở ngân hàng [27].
Năm 1990, Nghị định 17-HĐBT ngày 16/1/1990 của Hội đồng Bộ trưởng quy định chi tiết pháp lệnh hợp đồng kinh tế quy định: Pháp nhân là một tổ chức có đủ điều kiện sau đây: 1. Được thành lập một cách hợp pháp; 2. Có tài sản riêng và chịu trách 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm một cách độc lập bằng các tài sản đó; 3. Có quyền quyết định một cách độc lập về các hoạt động sản xuất kinh doanh của mình; 4.
Có quyền tự mình tham gia các quan hệ pháp luật [28]. Các điều kiện này đang được quy định trong bộ luật dân sự hiện hành. Trong Luật công ty của Úc, tại điều 57A đưa ra định nghĩa pháp nhân theo kiểu liệt kê các chủ thể được gọi là pháp nhân “Pháp nhân bao gồm công ty, công ty sở hữu chủ.9 Luật mẫu về công ty kinh doanh của Mỹ cũng đưa ra cách định nghĩa tương tự nhưng có bổ sung một số tổ chức như Bang, Liên Bang và Chính phủ nước ngoài là pháp nhân. Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN quy định: Pháp nhân có nghĩa là bất kỳ thực thể pháp lý nào được thành lập hoặc tổ chức một cách hợp pháp theo luật hiện hành, vì lợi nhuận hoặc không vì lợi nhuận, thuộc sở hữu tư nhân hay sở hữu nhà nước, bao gồm mọi công ty, tập đoàn, liên danh, liên doanh, công ty một chủ hoặc hiệp hội [2, Điều 1].
Theo Hiệp định thương mại giữa Chính phủ nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ về thương mại: Pháp nhân là một thực thể pháp lý bất kỳ được thiết lập hay tổ chức một cách hợp pháp theo luật áp dụng, bất kể vì mục đích lợi nhuận hay phi lợi nhuận, và dưới hình thức sở hữu tư nhân hay Nhà nước, bao gồm mọi công ty, công ty tín thác, công ty hợp danh, liên doanh, doanh nghiệp một chủ hay hiệp hội [12, chương 3 điều 11]. Như vậy, pháp nhân là một khái niệm để chỉ một loại chủ thể pháp luật độc lập, dùng để phân biệt với chủ thể là con người. Pháp nhân được tạo lập bởi ý chí của một hoặc nhiều con người cụ thể. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cơ sở triết học về vấn đề đại diện của pháp nhân Như chúng ta đã biết, triết học và phương pháp luận khoa học đã hỗ trợ các khoa học khác giải quyết những vấn đề của chúng. Qua đó, triết học thúc đẩy tiến bộ khoa học trong đó có khoa học pháp lý phát triển. Trong triết học con người là trung tâm, do vậy, tự do của con người là hạt nhân, tạo ra nguồn cảm hứng chủ yếu cho những phát minh. Triết học xã hội tham gia vào việc giải quyết những vấn đề chính trị, kinh tế xã hội.
đóng góp đáng kể vào mọi thành tựu của loài người. Pháp luật dân sự là một trong những thành tựu đáng được nhắc đến, nó ghi nhận nguyên tắc tự do ý chí. Vũ Văn Mẫu cho rằng, “về phương diện triết học, các lý thuyết tự do sở dĩ coi ý chí là căn bản của các nghĩa vụ, là vì tin tưởng rằng khi các cá nhân được tự do thương thuyết không vướng mắc một trở ngại nào thị sự quyết định của họ phản chiếu sự công bằng” [32, tr. Về phương diện triết học, pháp nhân được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí.
Với tư cách là một chủ thể độc lập, pháp nhân được thụ hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ. Tuy nhiên, nó có thể thực hiện các quyền năng bằng cách nào khi nó là một thực thể pháp lý. Đây là vấn đề mấu chốt luận giải về người đại diện theo pháp luật của pháp nhân. Từ giữa thế kỷ 19, các án lệ của các nước theo truyền thống thông luật đã khẳng định rằng, công ty chỉ có thể hành động thông qua các giám đốc– tức những người quản lý công ty và hành động của cá nhân cổ đông sẽ không ảnh hưởng gì, không ràng buộc trách nhiệm của pháp nhân công ty – với tư cách là một thực thể pháp lý độc lập [24].
Pháp nhân, dù được nhân cách hóa, không phải là con người cụ thể và do đó, không thể tự mình xử sự…Suy cho cùng, pháp nhân luôn phải được đại diện bởi con người cụ thể, từ khi thành lập cho 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đến khi chấm dứt, trong tất cả các hoạt động của mình. Năng lực hành vi của pháp nhân thực ra là năng lực hành vi mà pháp nhân vay mượn của những con người mà pháp nhân hóa thân vào [21, tr. Trên cơ sở nguyên tắc tự do ý chí, con người luôn đòi hỏi xã hội đáp ứng những nhu cầu của mình về tự do lập hội và tự do kinh doanh đảm bảo quyền con người. Vì thế, xuất pháp từ bản chất pháp lý của việc hình thành pháp nhân là quan hệ hợp đồng giữa các thành viên sáng lập nhằm tạo ra một thực thể cụ thể để đáp ứng hoạt động kinh doanh nhằm mục tiêu chung mà các sáng lập viên xác định khi giao kết hợp đồng.
Sự ra đời của pháp nhân trên cơ sở học thuyết tự do ý chí và tự do lập hội dựa trên nền tảng của tự do cá nhân, không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm một việc gì đó ngoài ý muốn của họ. Các cá nhân tự do lựa chọn mô hình pháp nhân để thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình, và tự do lựa chọn người đại diện theo pháp luật, trên cơ sở sự ủy thác của các chủ sở hữu pháp nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ của người quản lý pháp nhân trong hoạt động nội bộ, các hoạt động kinh doanh. Người đại diện theo pháp luật chịu sự điều chỉnh của quy định của pháp luật và các quy chế của pháp nhân, trong quá trình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Như vậy, pháp nhân với tư cách là một thực thể pháp lý, được tạo nên bởi ý chí của một hoặc nhiều người cụ thể và chỉ có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ thông qua con người cụ thể.
Căn cứ xác lập tư cách đại diện của pháp nhân theo pháp luật Việt Nam Có nhiều quan điểm cho rằng, quyết định thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) là căn cứ xác lập tư cách người đại diện pháp luật của pháp nhân.