Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIỚI TỪ TIẾNG VIỆT 1. Khái niệm giới từ Thuật ngữ giới từ đã được một số tác giả sử dụng trong nhiều công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt như đã nêu. Điều đáng chú ý là thuật ngữ này được dùng theo những nghĩa khác nhau. Để tránh nhầm lẫn nội dung khái niệm và để xác định phạm vi khái niệm trong khi sử dụng, dưới đây chúng tôi tạm thời phân ra các “nghĩa” của thuật ngữ này ở hai bình diện: ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Bình diện ngữ pháp 1. Nghĩa thứ nhất: Giới từ là tiếng “dùng để liên lạc một tiếng với tiếng túc từ của nó”, “làm nhiệm vụ liên kết hai từ hay hai bộ phận từ ngữ với nhau”, “có tác dụng nối liền từ phụ (hoặc từ tổ phụ) với từ chính (hoặc từ tổ chính)”, giới từ “có khả năng đi kèm với đoản ngữ. , nối đoản ngữ với một đơn vị nào đấy ở trước để tạo thành một đơn vị lớn hơn”, “cho biết ngữ đoạn đi sau nó là phụ”. Tiêu biểu cho cách hiểu này là các tác giả Trần Trọng Kim – Bùi Kỷ – Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn.
Theo nghĩa này, giới từ dùng để nối các thành tố trong một cụm từ (ngữ, từ tổ, ngữ đoạn) và đối lập với liên từ về mặt quan hệ ngữ pháp trong nội bộ một cụm từ (giới từ biểu thị quan hệ chính phụ, liên từ biểu thị quan hệ đẳng lập). Nghĩa thứ hai : Giới từ là những từ có nhiệm vụ “liên kết các từ với nhau hoặc các vế trong câu”, “diễn đạt mối quan hệ giữa các thực từ, các vế câu, dùng để nối các từ, các kết hợp từ, các câu và đoạn văn có quan hệ với nhau”; tức là “cũng được dùng để nối những cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn câu”. Tiêu biểu cho quan niệm này là Diệp Quang Ban, Bùi Tất Tươm – Hoàng Xuân Tâm – Nguyễn Văn Bằng, Hoàng Văn Thung. Theo nghĩa này, giới từ có thể dùng để nối các thành tố trong một cụm từ, các vế trong một câu, các câu trong một đoạn.
Như vậy, ở trường hợp này giới từ không được phân biệt với liên từ về mặt chức năng và quan hệ ngữ pháp bởi vì giới từ cùng với lớp từ thường được ngữ pháp truyền thống gọi là “liên từ phụ thuộc” nhập thành một loại, được gọi chung là quan hệ từ chính phụ, kết từ chính phụ, từ nối chính phụ. Bình diện ngữ nghĩa 1. Nghĩa thứ nhất : Giới từ là một loại hư từ cú pháp, “không có nghĩa sở chỉ, sở biểu” mà chỉ là những từ chức năng dùng để “diễn đạt các mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy”, “chỉ sự tương quan giữa ý nghĩa của hai từ ngữ và hai mệnh đề”. Đây là quan niệm của Bùi Đức Tịnh, Đinh Văn Đức và Lê Biên.
Theo nghĩa này, giới từ không có ý nghĩa từ vựng. Nghĩa thứ hai : Giới từ là “những từ trợ nghĩa ngữ pháp. để giới hạn hành động hay sự kiện về địa điểm cụ thể, thời gian cụ thể hoặc biểu thị nguyên nhân, mục đích, đối tượng, phương tiện và cách thức cụ thể diễn ra hành động trong câu”. Đây là quan niệm của Nguyễn Văn Thành.
Tác giả đã dẫn ý kiến của nhà ngôn ngữ học người Nga A.A Reformatskij để thừa nhận rằng : các từ trợ nghĩa (trong đó có giới từ) là những từ mà “ý nghĩa từ vựng của chúng trùng với ý nghĩa ngữ pháp của chúng. chức năng ngữ pháp trong các từ trợ nghĩa ngữ pháp đã hàm chứa bản chất từ vựng của chúng” 41, tr. Cần nói thêm là, Nguyễn Văn Thành không chấp nhận các khái niệm thực từ, hư từ mà quan niệm hệ thống từ loại tiếng Việt bao gồm hai mảng lớn là các từ đủ nghĩa và các từ trợ nghĩa. Rõ ràng, quan niệm về nghĩa của thuật ngữ giới từ rất khác nhau.
Có thể tạm thời rút ra một số nhận xét như sau: a. Về mặt ngữ pháp: Các tác giả một cách không tường minh đã cho rằng giới từ không có khả năng đảm nhận bất kỳ chức vụ cú pháp gì ở trong câu, không độc lập hành chức mà chỉ có vai trò “nối”, “liên kết” các kiểu cấu trúc ngữ pháp. Giới từ dùng để biểu thị quan hệ chính phụ giữa các thành tố hoặc ở bậc cụm từ hoặc ở cả bậc câu. Sự khác nhau của từng quan niệm là do các tác giả mở rộng hay thu hẹp chức năng biểu thị quan hệ chính phụ của giới từ.
Điều này tất yếu đưa đến hệ quả: có tác giả xem giới từ là một loại từ loại độc lập, đối lập với liên từ về mặt quan hệ ngữ pháp: giới từ biểu thị quan hệ chính phụ, còn liên từ biểu thị quan hệ đẳng lập bất kể kết cấu ngữ pháp mà chúng tham gia là ngữ đoạn (cụm từ) hay câu. Có tác giả chỉ coi giới từ là một tiểu loại của quan hệ từ, khác biệt với liên từ về mặt chức năng (giới từ chỉ dùng để nối các thành tố trong một ngữ đoạn còn liên từ có thể dùng để nối các thành tố trong một ngữ đoạn, các vế trong câu, các câu) và một phần nào đó “đồng chất” với liên từ về mặt quan hệ ngữ pháp (trong tương quan với liên từ phụ thuộc – là liên từ nhưng biểu thị quan hệ chính phụ). Về mặt ngữ nghĩa: Các nghĩa nêu trên hoàn toàn đối lập nhau: nghĩa thứ nhất khẳng định giới từ không có ý nghĩa từ vựng. Nghĩa thứ hai thừa nhận sự tồn tại (một cách ngầm ẩn) ý nghĩa từ vựng của giới từ, cho ý nghĩa từ vựng của giới từ trùng với ý nghĩa ngữ pháp của nó.
Trong đề tài này, thuật ngữ giới từ được hiểu theo nghĩa như sau: Giới từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng, dùng để biểu thị quan hệ chính phụ trong một ngữ đoạn (từ tổ, cụm từ) và / hoặc dẫn nhập thành phần phụ (trạng ngữ) trong cấu trúc cú pháp của câu. Thuật ngữ giới từ (preposition) được dùng theo quan niệm là từ thường đứng trước danh ngữ, động ngữ, đại từ để báo trước một bổ ngữ. Cách hiểu này là theo đặc điểm của các ngôn ngữ dùng trật tự S-V-O như tiếng Việt. Trong khi đó, ở một số ngôn ngữ khác như tiếng Nhật, tiếng Thổ, vị trí của lớp từ này có chức năng tương tự nhưng thường đứng sau danh từ nên được gọi là hậu trí từ (postposition).
Cương vị của giới từ trong hệ thống từ loại tiếng Việt 1. Nhìn chung, trong các sách viết về ngữ pháp tiếng Việt từ trước đến nay đều có một phần dành riêng cho vấn đề từ loại tiếng Việt. Chẳng hạn, ở giai đoạn đầu, Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm [23] phân định vốn từ tiếng Việt thành 13 loại: danh từ, mạo từ, loại từ, chỉ định từ, đại danh từ, tính từ, động từ, trạng từ, giới từ, liên từ, tán thán từ, trợ ngữ từ, từ đệm. Bùi Đức Tịnh 43 phân các “tự ngữ” thành 8 từ loại: danh từ, đại từ, trạng từ, động từ, phó từ, liên từ, giới từ và giới ngữ, hiệu từ.
Ở giai đoạn này, tuy các tác giả không đưa ra những cơ sở để phân định từ loại nhưng có thể thấy bình diện ngữ nghĩa của từ đã được sử dụng ở một mức độ nhất định để làm cơ sở phân chia từ loại. Trong quan niệm của các tác giả này, giới từ được tách thành một từ loại riêng, phân biệt với các từ loại khác. Ở các công trình về sau, vấn đề phân định từ loại đã được xem xét một cách kỹ lưỡng và khoa học hơn. Các tác giả đã căn cứ cả vào mặt ý nghĩa lẫn mặt ngữ pháp của từ để phân chia từ loại tiếng Việt.
Nhìn chung, đa số các tác giả trước hết đều phân vốn từ tiếng Việt thành hai loại lớn: thực từ và hư từ. Theo cách hiểu phổ biến, thực từ là những từ có nghĩa thực (hoặc nghĩa từ vựng) về sự vật, hiện tượng; là loại nghĩa mà nhờ nó, có thể làm được sự liên hệ giữa từ với sự vật, hiện tượng nhất định; còn hư từ là những từ có nghĩa hư, loại nghĩa mà không thể nhờ nó làm sự liên hệ với sự vật, hiện tượng; cho nên khi nói đến nghĩa hư là nói đến vai trò ngữ pháp của hư từ. Cần nói thêm rằng, bên cạnh việc phân chia như vậy, một số tác giả còn phân từ vốn từ tiếng Việt ra một lớp từ khác độc lập so với thực từ và hư từ. Đó là lớp từ biểu thị mối quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn và quan hệ của phát ngôn với thực tại.
Lớp từ đó Nguyễn Kim Thản gọi là ngữ thái từ, Đinh Văn Đức gọi là tình thái từ. Vậy, giới từ – đối tượng khảo sát của đề tài này – nằm ở vị trí nào trong các cách phân loại nói trên ? 1. Trước hết, nói về cơ sở phân định từ loại: Theo suy nghĩ của chúng tôi, trong số các quan niệm về từ loại như đã nêu ở trên, Đinh Văn Đức là người đã đề ra những tiêu chuẩn để phân định từ loại rõ ràng hơn cả. Theo tác giả này, vốn từ tiếng Việt được phân chia thành các từ loại là căn cứ vào một tập hợp các tiêu chuẩn sau : a.
Tiêu chuẩn ý nghĩa: Trong cách xem xét bản chất ý nghĩa của từ loại, Đinh Văn Đức cho rằng ý nghĩa từ loại là ý nghĩa khái quát, trong đó có sự thống nhất giữa các yếu tố từ vựng và yếu tố ngữ pháp, nói một cách khác, đó là ý nghĩa từ vựng – ngữ pháp. Tác giả nói rõ thêm : “Yếu tố từ vựng, có mặt trong ý nghĩa từ loại là do chức năng phản ánh thực tại của các khái niệm. Ý nghĩa sự vật của danh từ, ý nghĩa vận động của động từ, ý nghĩa tính chất của tính từ. là những ý nghĩa phạm trù vì có tính chất khái quát hóa cao, nhưng đó lại là kết quả của một quá trình trừu tượng hóa hàng loạt cái cụ thể (.), ý nghĩa khái quát trở thành nòng cốt của ý nghĩa từ loại” 15, tr.
Tiêu chuẩn khả năng kết hợp: Xét đến mối quan hệ của từ với từ trong ngữ lưu, Đinh Văn Đức cho rằng : đối với tiếng Việt, bản chất của khả năng kết hợp từ là sự phân bố các vị trí trong bối cảnh. Trong khi áp dụng tiêu chuẩn này, Đinh Văn Đức đã sử dụng khái niệm đoản ngữ do Nguyễn Tài Cẩn đề xuất để mô tả, nhận xét.