Tổng quan luận án

Tình trạng kháng kháng sinh của vi khuẩn đang gia tăng do việc sử dụng kháng sinh không hợp lý trong cơ sở y tế kết hợp với lạm dụng trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản để điều trị, phòng bệnh và kích thích tăng trưởng. Khi các vi khuẩn gram âm đường ruột mang gen blaNDM-1 kháng carbapenem xuất hiện, carbapenem dần mất đi hiệu lực đối với các trường hợp nhiễm trùng nặng do vi khuẩn sinh enzym beta-lactamase phổ rộng (ESBLs). Trước tình hình đó, colistin (kháng sinh nhóm polypeptide) được tái sử dụng trên lâm sàng như giải pháp lựa chọn cuối cùng. Dù colistin từng bị ngừng chỉ định trên người từ những năm 1970 do độc tính trên thận và thần kinh, hoạt chất này vẫn được dùng phổ biến trong chăn nuôi. Năm 2015, Liu và cộng sự tại Trung Quốc đã phân lập chủng vi khuẩn Escherichia coli mang gen mcr-1 (mobilized colistin resistance-1 hay mediated colistin resistance-1) có khả năng đề kháng colistin và truyền ngang qua plasmid. Phát hiện này củng cố giả thuyết mcr-1 phát sinh từ sức ép chọn lọc của colistin trong đường ruột động vật nuôi rồi lan truyền sang người. Gen mcr-1 gắn liền với các yếu tố di truyền động như transposon Tn6330 (ISApl1-PAP2-mcr-1-ISApl1) và nhiều nhóm plasmid, tạo điều kiện cho các chủng E. coli tích lũy đồng thời nhiều gen kháng khác (blaNDM-9, fosA3, rmtB, blaCTX-M-65, floR).

Tại Việt Nam, các nghiên cứu ban đầu đã ghi nhận vi khuẩn mang gen mcr-1 trong bệnh viện, động vật và thực phẩm, song khu vực nông thôn miền Bắc chưa có khảo sát đồng bộ trên toàn bộ hệ sinh thái cộng đồng. Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết là việc thiếu hụt dữ liệu tổng thể về tình trạng mang gen mcr-1 của các chủng E. coli cùng lúc ở người, động vật nuôi, thực phẩm và nguồn nước trong cùng một quần thể dân cư, cũng như đặc tính sinh học phân tử và cơ chế truyền ngang của gen này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được đánh số cụ thể gồm:

  1. Xác định tỷ lệ chủng E. coli mang gen mcr-1 kháng colistin phân lập được từ phân người và vật nuôi, thực phẩm, nước tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, năm 2015.
  2. Xác định một số đặc điểm sinh học phân tử chủng E. coli mang gen mcr-1 đã phân lập được.

Đối tượng nghiên cứu là các chủng vi khuẩn E. coli phân lập từ 4 nhóm mẫu: phân người (PN), phân động vật nuôi (PĐVN), thực phẩm sống/thức ăn (TĂ) và nguồn nước sinh hoạt/môi trường (N). Phạm vi không gian được thực hiện tại các hộ gia đình thuộc xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Thời gian thu thập mẫu và triển khai nghiên cứu thực địa diễn ra trong năm 2015 (giai đoạn 2014-2015).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế về cơ chế kháng colistin và sự phân bố của gen mcr-1:

  • Liu và cộng sự (2015): Lần đầu tiên công bố phát hiện gen mcr-1 truyền qua plasmid ở E. coli và Klebsiella pneumoniae thu thập từ 5 thành phố của Trung Quốc giai đoạn 2011-2014. Tỷ lệ mang gen là 15% (78/523 mẫu thịt sống), 21% (166/824 mẫu từ động vật) và 1% (16/1322 mẫu từ bệnh nhân nội trú). Nhóm nghiên cứu giải trình tự 4 plasmid mang gen gồm pHNSHP45 (từ phân lợn) và 3 plasmid pE15004, pE15015, pE15017 (từ bệnh phẩm người), chỉ ra gen mã hóa phosphoethanolamine transferase làm biến đổi cấu trúc lipid A.
  • Fernandes MR và cộng sự (2016): Phân lập chủng E. coli mang mcr-1 từ bệnh nhân đái tháo đường nhiễm trùng bàn chân tại Brazil, xác định chủng thuộc Sequence Type 101 (ST101) và mang plasmid IncX4.
  • Wong, Sally CY và cộng sự (2016): Giám sát tại bệnh viện đại học ở Hồng Kông giai đoạn 2015-2016, phân lập 5 chủng Enterobacteriaceae mang mcr-1 (trong đó có 4 chủng E. coli, chiếm 0,4%) từ bệnh nhân từng điều trị bằng colistin.
  • Anjum MF và cộng sự: Phát hiện chủng E. coli và Salmonella mang mcr-1 tại trang trại nuôi lợn ở Anh, đồng thời mang enzym sinh ESBLs và yếu tố xen đoạn ISApl1.
  • Nghiên cứu tại Đan Mạch: Phân lập chủng E. coli mang mcr-1 từ máu bệnh nhân nhiễm trùng huyết, đồng mang gen blaCTX-M-55 và blaCMY-2; 5 chủng từ thịt gà mang blaSHV-12 và blaCMY-2.
  • Dan-xia Guo và cộng sự: Phát hiện K. pneumoniae và E. coli mang mcr-1 trong phân trẻ em bị tiêu chảy tại Trung Quốc.
  • Patrick McGann và cộng sự: Phân lập E. coli sinh ESBL mang mcr-1 từ bệnh nhân nhiễm trùng đường niệu tại Mỹ.
  • Yao, Xu và cộng sự: Ghi nhận chủng E. coli THSJ02 (ST167) từ cánh gà siêu thị Quảng Châu (Trung Quốc) kháng hầu hết kháng sinh ngoại trừ doxycycline và tigecycline, mang đồng thời mcr-1, blaNDM-9, fosA3, rmtB, blaCTX-M-65 và floR.
  • Các nghiên cứu tại Việt Nam:
    • Dương Thị Toan và cộng sự (2014): Điều tra 20 trại lợn thịt và 20 trại gà thịt tại Bắc Giang, ghi nhận 100% trang trại dùng kháng sinh với 17 loại khác nhau, colistin chiếm 45,0% tại trại lợn; 50% mẫu thức ăn chăn nuôi tồn dư kháng sinh.
    • Phạm Kim Đăng và cộng sự: Khảo sát tại Hải Phòng ghi nhận người nuôi dùng ít nhất 38 loại kháng sinh thuộc 10 nhóm; phát hiện việc sử dụng colistin, maduramycin và bambermycin trộn vào thức ăn để kích thích sinh trưởng.
    • Nguyễn T. Nhung và cộng sự: Điều tra 12 trang trại tại Tiền Giang, mức kháng colistin của E. coli ở gà và lợn lần lượt là 22,2% và 24,4%; tỷ lệ mang gen mcr-1 từ 19% đến 22%.
    • Surbhi Malhotra-Kumar và cộng sự (2016): Sàng lọc 24 chủng E. coli sinh ESBL phân lập năm 2014-2015 từ phết trực tràng lợn và gà tại Văn Lâm (Hưng Yên) và Hoài Đức (Hà Nội), ghi nhận 9/24 chủng (37,5%) mang mcr-1, MIC colistin 4 hoặc 8 mg/L, trình tự gen đồng nhất 100% với gen phát hiện tại Trung Quốc.

Vị trí của luận án: Nghiên cứu của Malhotra-Kumar và cộng sự mới khảo sát trên mẫu trực tràng gia súc, gia cầm tại trang trại, chưa đánh giá sự lây lan ra nguồn nước, thức ăn và người sinh sống cùng khu vực. Luận án của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai giải quyết khoảng trống này bằng cách thu thập đồng bộ các nguồn mẫu trong cùng hộ gia đình ở nông thôn miền Bắc, phân tích sâu cơ chế lan truyền qua plasmid và transposon bằng các kỹ thuật sinh học phân tử chuẩn hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết vi sinh học và dịch tễ học phân tử:

  • Cơ chế tác dụng của colistin: Colistin là phân tử polycationic tương tác tĩnh điện với lipopolysaccharid (LPS) và phospholipid màng ngoài tế bào vi khuẩn gram âm, cạnh tranh vị trí của các cation hóa trị hai $Ca^{2+}$ và $Mg^{2+}$, gây xáo trộn màng nguyên sinh chất, rò rỉ các thành phần nội bào dẫn đến tiêu diệt vi khuẩn.
  • Cơ chế đề kháng colistin: Đề kháng tự nhiên do đột biến trên nhiễm sắc thể ở hệ điều hòa hai thành phần (pmrAB, phoPQ, mgrB), làm thay đổi điện tích màng. Đề kháng thu được truyền ngang qua cơ chế chuyển gen ngang (HGT - Horizontal Gene Transfer) trung gian bởi plasmid mang các gen họ mcr (mcr-1 đến mcr-10), mã hóa enzym phosphoethanolamine transferase gắn nhóm phosphoethanolamine vào lipid A, làm giảm ái lực liên kết của colistin.
  • Hệ thống gen kháng kháng sinh: Các gen kháng thuốc được phân bố trên nhiễm sắc thể hoặc các yếu tố di truyền động (MGEs: plasmid, transposon, integron), tạo điều kiện cho vi khuẩn lan truyền dọc qua phân chia tế bào và truyền ngang giữa các cá thể cùng hoặc khác loài.
Nhóm kháng sinh Cơ chế tác động chính Gen đề kháng quan trọng theo ghi nhận của luận án
Polypeptid (Polymyxin/Colistin) Rối loạn chức năng màng nguyên tương, thay đổi tính thấm chọn lọc mcr-1 đến mcr-10, lpxA, lpxC, lpxD, đột biến pmrAB, phoPQ, mgrB
Beta-lactam Ức chế tổng hợp vách tế bào vi khuẩn qua gắn kết PBPs AmpC, ESBL (blaTEM, blaSHV, blaCTX-M), Carbapenemase (KPC, NDM, OXA, IMP, VIM)
Aminoglycosid Ức chế sinh tổng hợp protein qua gắn tiểu đơn vị ribosome 30S Methylase 16S rRNA (armA, rmtA-D, npmA), enzym AAC, ANT, APH
Quinolon Ức chế enzym ADN gyrase (gyrA, gyrB) và topoisomerase IV (parC, parE) Đột biến NST trên gyrA, parC; gen plasmid: qnrA, qnrB, qnrS, aac(6')-Ib-cr, qepA
Chloramphenicol Ức chế tổng hợp protein qua gắn tiểu đơn vị ribosome 50S catA, catB (acetyltransferase), bơm đẩy cmlA, floR (kháng florfenicol)
Sulfonamid & Trimethoprim Ức chế tổng hợp acid folic cần thiết cho chuyển hóa tế bào folP, sul1, sul2, sul3 (sulfonamid); folA, dfrA, dfrB, dfrK (trimethoprim)
Glycopeptid Ức chế trùng hợp peptidoglycan tạo vách vi khuẩn vanA, vanB (plasmid/NST); vanC1, vanC2/3, vanD, vanE, vanG (NST)

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được tác giả triển khai bao gồm:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích sinh học phân tử.
  • Thu thập mẫu: Lấy mẫu tại 69 hộ gia đình thuộc các thôn của xã Thanh Hà, thu nhận 4 loại bệnh phẩm: phân người (PN), phân động vật nuôi (PĐVN: lợn, gà, thủy cầm), thực phẩm (TĂ) và nguồn nước sinh hoạt/ao hồ (N).
  • Phân lập và định danh vi khuẩn: Mẫu được nuôi cấy trên các môi trường chọn lọc MacConkey/thạch dinh dưỡng; định danh khẳng định loài Escherichia coli bằng hệ thống máy phổ khối MALDI-TOF.
  • Kỹ thuật PCR: Khuếch đại đặc hiệu gen mcr-1 với cặp mồi chuyên biệt, phát hiện sản phẩm qua điện di trên thạch agarose.
  • Xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC): Thử nghiệm vi pha loãng canh thang hoặc pha loãng trên thạch theo hướng dẫn chuẩn của Viện Tiêu chuẩn Lâm sàng và Phòng xét nghiệm Hoa Kỳ (CLSI), nhằm đánh giá mức độ nhạy cảm của vi khuẩn với colistin và các kháng sinh thông dụng khác (ampicillin, ceftazidime, cefotaxime, cefepime, imipenem, meropenem, amikacin, gentamicin, ciprofloxacin...).
  • Kỹ thuật điện di xung trường (PFGE - Pulsed-Field Gel Electrophoresis): Sử dụng enzym giới hạn cắt toàn bộ hệ gen ADN vi khuẩn, điện di xung trường để so sánh mức độ tương đồng di truyền, xây dựng cây phả hệ kiểu gen.
  • Giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS - Whole Genome Sequencing): Phân tích trình tự ADN hệ gen xác định cấu trúc gen kháng thuốc, phân loại trình tự đa vị trí (MLST) xác định Sequence Type (ST), phân tích hệ gen lõi (core genome).
  • Phân tích plasmid và yếu tố di truyền di động: Phân loại nhóm replicon plasmid bằng PCR (PBRT) và WGS (nhóm IncI2, IncHI2/IncHI2A, IncN, IncX4); kỹ thuật Southern blot kết hợp enzym S1 (S1-PFGE) xác định vị trí gen mcr-1 nằm trên plasmid hay trên nhiễm sắc thể; phân tích cấu trúc transposon Tn6330 chứa các yếu tố xen đoạn ISApl1.
  • Thử nghiệm tiếp hợp (Conjugation assay): Đánh giá khả năng lan truyền gen kháng mcr-1 trung gian qua plasmid bằng cách lai giữa chủng E. coli cho phân lập từ thực địa với chủng nhận E. coli J53 (hoặc DH5-alpha), kiểm tra sự chuyển đổi kiểu hình kháng colistin trên môi trường chọn lọc kép.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở lý thuyết về kháng sinh và các cơ chế kháng thuốc của vi khuẩn: đột biến gen đích tác động, thay đổi mạng lưới chuyển hóa qua enzym phân hủy/biến đổi, giảm tính thấm của màng ngoài (porin), và hoạt hóa bơm đẩy (efflux pump). Tác giả làm rõ vai trò của truyền gen ngang (HGT) qua ba con đường biến nạp, tải nạp và tiếp hợp, nhấn mạnh tiếp hợp là phương thức phổ biến trong đường tiêu hóa thông qua các yếu tố di truyền động (plasmid mang gen tra, transposon chứa chuỗi lặp ngược chiều IR, và integron mang cassette gen kháng). Tiếp đó, chương phân tích đặc tính cấu trúc phân tử của colistin, cơ chế cạnh tranh ion gắn màng ngoài tế bào vi khuẩn, lịch sử sử dụng colistin trong thú y và sự tái sử dụng trong lâm sàng đối với các chủng vi khuẩn gram âm đường ruột kháng carbapenem mang gen blaNDM-1. Tác giả điểm lại chi tiết các phát hiện về gen mcr-1 trên thế giới (từ công bố đầu tiên năm 2015 của Liu và cộng sự đến hơn 30 quốc gia) và tại Việt Nam (các nghiên cứu tại Bắc Giang, Hải Phòng, Tiền Giang, Hà Nội, Hưng Yên). Cuối cùng, chương 1 trình bày nguyên lý của các kỹ thuật định danh, kỹ thuật kháng sinh đồ (khoanh giấy khuếch tán, E-test, vi pha loãng xác định MIC) và các công cụ sinh học phân tử (PCR, PFGE, MLST, S1-PFGE, WGS, thử nghiệm tiếp hợp).

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm được tiến hành tại xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam trong năm 2015. Quần thể nghiên cứu gồm các mẫu lấy tại 69 hộ gia đình thuộc các thôn trên địa bàn xã. Thiết kế nghiên cứu là mô tả cắt ngang kết hợp thực nghiệm phân tử. Các bước kỹ thuật được tác giả chuẩn hóa:

  • Thu thập mẫu phân người, phân vật nuôi, mẫu thức ăn và mẫu nước;
  • Nuôi cấy chọn lọc và định danh vi khuẩn E. coli bằng máy MALDI-TOF;
  • Tách chiết ADN, thực hiện phản ứng PCR để sàng lọc gen mcr-1;
  • Xác định giá trị MIC của colistin và các kháng sinh đại diện cho các nhóm beta-lactam, aminoglycosid, quinolon theo hướng dẫn CLSI;
  • Phân tích mối liên hệ kiểu gen bằng kỹ thuật PFGE sau khi cắt ADN bằng enzym giới hạn thích hợp;
  • Thực hiện giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS) trên các chủng đại diện để xác định Sequence Type (MLST), lập bản đồ core genome, phân tích các nhóm gen kháng thuốc đồng hiện diện;
  • Sử dụng enzym S1 kết hợp điện di xung trường và Southern blot để phân biệt vị trí định vị của gen mcr-1 trên nhiễm sắc thể hay trên plasmid;
  • Xác định nhóm replicon plasmid mang gen mcr-1;
  • Tiến hành thử nghiệm tiếp hợp in vitro với chủng nhận E. coli J53 để chứng minh khả năng truyền ngang tính kháng colistin;
  • Khống chế sai số qua kiểm chuẩn chủng chứng, quy trình bảo quản mẫu và tuân thủ các quy định về đạo đức nghiên cứu sinh học y học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu của luận án được trình bày qua 3 hợp phần chính:

  1. Tỷ lệ vi khuẩn E. coli mang gen mcr-1 kháng colistin: Luận án ghi nhận tỷ lệ xuất hiện chủng E. coli mang gen mcr-1 trên 4 loại mẫu (phân người, phân động vật nuôi, thực phẩm và nước). Phân tích heatmap tại 69 hộ gia đình chỉ ra sự phân bố của gen kháng kháng sinh colistin trong quần thể. Thử nghiệm MIC colistin cho thấy đa số các chủng mang gen mcr-1 có biểu hiện kiểu hình kháng colistin với MIC vượt ngưỡng nhạy cảm. Đánh giá vị trí định vị cho thấy phần lớn gen mcr-1 nằm trên plasmid, đồng thời ghi nhận một tỷ lệ gen đã tích hợp vào nhiễm sắc thể vi khuẩn. Thử nghiệm với các kháng sinh khác cho thấy vi khuẩn mang mcr-1 có tỷ lệ đa kháng cao, đề kháng với nhiều kháng sinh thông thường.
  2. Đặc điểm sinh học phân tử của các chủng E. coli mang gen mcr-1: Kết quả WGS và PCR xác định sự đồng hiện diện của các gen kháng beta-lactam (các biến thể ESBLs), aminoglycosid, quinolon, phenicol, sulfonamid và trimethoprim. Cây phả hệ kiểu gen từ kỹ thuật PFGE và phân tích core genome cho thấy tính đa dạng di truyền cao giữa các chủng phân lập. Phân tích MLST phát hiện nhiều sequence types (STs) khác nhau lưu hành trong quần thể. Tác giả phát hiện các chủng E. coli mang gen mcr-1 có cùng ST xuất hiện đồng thời ở các loại mẫu khác nhau (giữa phân người và phân vật nuôi, hoặc giữa thực phẩm và nước) trong cùng một hộ gia đình.
  3. Đặc điểm plasmid, cơ chế lan truyền và cấu trúc di truyền động: Xác định các nhóm replicon plasmid chính mang gen mcr-1 gồm plasmid IncI2 và IncHI2/IncHI2A/IncN (thể hiện qua biểu đồ Venn). Thử nghiệm tiếp hợp khẳng định plasmid mang gen mcr-1 có khả năng truyền thành công sang chủng nhận E. coli J53, biến chủng nhận thành vi khuẩn kháng colistin. Phân tích cấu trúc di truyền động transposon Tn6330 trên plasmid và nhiễm sắc thể ở 6 mẫu đại diện làm rõ vai trò của trình tự xen đoạn ISApl1 trong cơ chế chuyển vị và tích hợp gen mcr-1.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích ý nghĩa của các phát hiện:

  • Mức độ lưu hành mcr-1 trong cộng đồng: Tác giả so sánh tỷ lệ phân lập E. coli mang gen mcr-1 tại xã Thanh Hà với các dữ liệu quốc tế (như nghiên cứu của Liu tại Trung Quốc, các báo cáo tại châu Âu, Nam Mỹ) và các nghiên cứu tại Việt Nam (nghiên cứu của Malhotra-Kumar, Dương Thị Toan, Nguyễn T. Nhung). Việc xuất hiện đồng thời gen kháng ở người, vật nuôi, thực phẩm và nguồn nước phản ánh chu trình khép kín của tính kháng thuốc qua chuỗi thức ăn và vệ sinh môi trường nông thôn.
  • Mối liên hệ dịch tễ học phân tử trong hộ gia đình: Sự trùng khớp về Sequence Type (ST) giữa các chủng phân lập từ phân người và phân vật nuôi hoặc nguồn nước trong cùng một hộ gia đình cung cấp bằng chứng về sự lây truyền ngang giữa các mắt xích của hệ sinh thái nông thôn.
  • Vai trò của plasmid IncI2, IncHI2 và transposon ISApl1: Bàn luận làm rõ khả năng tiếp hợp truyền gen kháng qua plasmid IncI2 và IncHI2 là nguyên nhân giúp gen mcr-1 lan rộng nhanh chóng. Phân tích cấu trúc transposon cho thấy sự hiện diện hoặc khuyết thiếu của các yếu tố chèn ISApl1 ở hai đầu cấu trúc di truyền động liên quan mật thiết đến sự ổn định hoặc khả năng chuyển vị của gen mcr-1 từ plasmid vào nhiễm sắc thể của vi khuẩn.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án nêu rõ các đóng góp mới về mặt lý thuyết khoa học và thực tiễn:

  • Về mặt khoa học và lý thuyết:
    1. Đây là công trình đầu tiên tại miền Bắc Việt Nam khảo sát đồng bộ sự hiện diện của gen mcr-1 trên vi khuẩn E. coli trong toàn bộ các thành tố của hệ sinh thái cộng đồng nông thôn (người, gia súc/gia cầm nuôi, thực phẩm, nguồn nước) tại cùng một địa bàn nghiên cứu (xã Thanh Hà, Hà Nam).
    2. Cung cấp bằng chứng dịch tễ học phân tử thông qua kỹ thuật giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS), PFGE và MLST, chứng minh các chủng E. coli mang gen mcr-1 có cùng Sequence Type (ST) tồn tại đồng thời giữa người, động vật nuôi và môi trường xung quanh trong cùng một hộ gia đình.
    3. Xác định đặc tính phân tử của các plasmid mang gen mcr-1 tại thực địa, chỉ ra các nhóm replicon plasmid chủ đạo là IncI2 và IncHI2/IncHI2A/IncN, đồng thời chứng minh bằng thực nghiệm khả năng truyền ngang gen kháng colistin sang chủng E. coli nhận qua cơ chế tiếp hợp.
    4. Làm rõ cấu trúc phân tử của transposon Tn6330 mang gen mcr-1 và các yếu tố xen đoạn ISApl1 định vị cả trên plasmid và nhiễm sắc thể ở các chủng vi khuẩn đại diện tại Việt Nam.
  • Về mặt thực tiễn và ứng dụng:
    1. Cung cấp số liệu dịch tễ học thực địa về mức độ kháng kháng sinh, tình trạng đa kháng thuốc và mức độ nhạy cảm MIC colistin của vi khuẩn đường ruột tại cộng đồng.
    2. Cung cấp bằng chứng thực tế phục vụ các nhà quản lý y tế và nông nghiệp trong việc kiểm soát lạm dụng colistin trong chăn nuôi thú y, bảo vệ hiệu lực của colistin trong điều trị lâm sàng trên người.

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  • Cần thắt chặt quy chế quản lý và ngừng sử dụng colistin với mục đích phòng bệnh hoặc kích thích tăng trưởng trong chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam;
  • Xây dựng hệ thống giám sát dịch tễ học kháng kháng sinh liên ngành theo mô hình tiếp cận Một sức khỏe (One Health), bao gồm đồng thời y tế dự phòng, thú y và môi trường nông thôn;
  • Tăng cường truyền thông cho người dân nông thôn về thực hành vệ sinh ăn uống, rửa tay, xử lý chất thải chuồng trại và nguồn nước sinh hoạt để ngăn chặn chu trình lây truyền vi khuẩn mang gen kháng qua chuỗi thực phẩm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu được tác giả nêu tại trang 113 của văn bản:

  • Phạm vi địa bàn: Nghiên cứu được triển khai tập trung tại một xã nông thôn thuần túy (xã Thanh Hà, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam), do đó số liệu chưa đại diện cho các vùng sinh thái khác nhau của miền Bắc hoặc trên quy mô toàn quốc.
  • Thời gian cắt ngang: Mẫu nghiên cứu được thu thập tại một thời điểm cắt ngang (năm 2015), chưa theo dõi dọc được biến động theo thời gian về tỷ lệ lưu hành của gen mcr-1 và sự biến đổi của các dòng plasmid mang gen sau khi có các chính sách điều chỉnh sử dụng kháng sinh.
  • Cỡ mẫu giải trình tự: Số lượng chủng vi khuẩn được thực hiện giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS) và phân tích cấu trúc transposon chi tiết mới dừng lại ở một số chủng đại diện.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng quy mô điều tra dịch tễ học phân tử của vi khuẩn mang gen mcr-1 và các biến thể họ gen mcr mới (mcr-2 đến mcr-10) tại nhiều tỉnh thành trên toàn quốc;
  • Thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc thuần tập tại cộng đồng để đánh giá động học đào thải hoặc tích lũy gen mcr-1 trong hệ vi sinh đường ruột của người và vật nuôi;
  • Phân tích sâu hơn cơ chế biểu hiện gen và sự tương tác giữa plasmid mang mcr-1 với các plasmid mang gen kháng carbapenem (blaNDM) trong điều kiện áp lực kháng sinh thực địa.

Giá trị tham khảo

Nội dung luận án có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm độc giả học thuật và chuyên môn:

  • Nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Vi sinh y học, Thú y, Công nghệ sinh học: Tham khảo phương pháp luận kết hợp giữa dịch tễ học vi sinh truyền thống và dịch tễ học phân tử; quy trình thực nghiệm đồng bộ từ nuôi cấy, MALDI-TOF, PCR, đo MIC, PFGE đến WGS, phân tích nhóm replicon plasmid và thử nghiệm tiếp hợp.
  • Giảng viên, cán bộ nghiên cứu y - dược học: Sử dụng tài liệu để giảng dạy về cơ chế kháng kháng sinh nhóm polymyxin, cơ chế lây truyền ngang qua plasmid và transposon, cũng như thực trạng kháng thuốc của vi khuẩn gram âm đường ruột tại Việt Nam.
  • Cán bộ y tế dự phòng và chuyên gia chính sách: Cung cấp cứ liệu thực chứng về sự tồn tại của vi khuẩn đa kháng mang gen mcr-1 ngay trong môi trường sinh hoạt nông thôn, hỗ trợ thiết kế các chương trình giám sát One Health và ban hành quy định cấm hoặc hạn chế colistin trong thức ăn chăn nuôi.

Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản gồm quy trình phân loại replicon plasmid, bản phân tích cấu trúc transposon Tn6330 kết hợp yếu tố xen đoạn ISApl1, và số liệu đối chiếu chủng vi khuẩn có cùng Sequence Type (ST) giữa các nguồn mẫu trong cùng hộ gia đình.

Câu hỏi thường gặp

1. Gen mcr-1 trên các chủng vi khuẩn E. coli phân lập được trong nghiên cứu định vị ở đâu trong tế bào? Kết quả phân tích bằng kỹ thuật S1-PFGE và Southern blot cho thấy gen mcr-1 phân bố chủ yếu trên các plasmid của vi khuẩn. Ngoài ra, nghiên cứu cũng ghi nhận sự hiện diện của gen mcr-1 đã tích hợp vào nhiễm sắc thể (NST) ở một số chủng E. coli phân lập từ phân người, động vật và thức ăn.

2. Các chủng plasmid mang gen mcr-1 thuộc những nhóm replicon nào và có khả năng truyền ngang không? Các plasmid mang gen mcr-1 phân lập tại xã Thanh Hà chủ yếu thuộc nhóm replicon IncI2 và nhóm IncHI2/IncHI2A/IncN. Qua thử nghiệm tiếp hợp in vitro với chủng vi khuẩn nhận E. coli J53, các plasmid này đã chuyển gen mcr-1 thành công sang chủng nhận, chứng minh tính truyền ngang của tính kháng colistin trong quần thể vi khuẩn.

3. Nghiên cứu có tìm thấy bằng chứng về sự lây truyền E. coli mang gen mcr-1 giữa các thành tố trong cùng hộ gia đình không? Có. Phân tích kiểu gen bằng giải trình tự toàn bộ hệ gen (WGS) và phân loại MLST đã phát hiện các chủng E. coli mang gen mcr-1 có cùng Sequence Type (ST) chung xuất hiện đồng thời trong các loại mẫu khác nhau (giữa phân người và phân vật nuôi, hoặc giữa thực phẩm và nước) tại cùng một hộ gia đình.

4. Ngoài tính kháng colistin, các chủng vi khuẩn E. coli mang gen mcr-1 có mang thêm các gen kháng kháng sinh nào khác không? Các chủng vi khuẩn này thể hiện kiểu hình đa kháng kháng sinh. Phân tích hệ gen WGS ghi nhận sự đồng hiện diện của nhiều gen kháng thuộc các nhóm beta-lactam (các gen sinh ESBLs), aminoglycosid, quinolon, phenicol, sulfonamid và trimethoprim nằm cùng trên plasmid hoặc nhiễm sắc thể vi khuẩn.

5. Cấu trúc yếu tố di truyền di động mang gen mcr-1 được tác giả xác định như thế nào? Gen mcr-1 gắn liền với cấu trúc transposon Tn6330 gồm trình tự ISApl1-PAP2-mcr-1-ISApl1. Phân tích 6 mẫu đại diện cho thấy sự hiện diện của các đoạn xen ISApl1 ở dạng nguyên vẹn hoặc bị mất đoạn ở một đầu, đóng vai trò chính trong quá trình chuyển vị và cố định gen kháng giữa plasmid và nhiễm sắc thể.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Tuyết Mai đã xác định được tỷ lệ lưu hành của vi khuẩn Escherichia coli mang gen mcr-1 kháng colistin trên 4 nhóm mẫu phân người, phân vật nuôi, thực phẩm và nguồn nước tại xã Thanh Hà, tỉnh Hà Nam năm 2015. Bằng việc kết hợp các kỹ thuật vi sinh truyền thống và sinh học phân tử như MALDI-TOF, đo MIC, PFGE, MLST và WGS, công trình đã làm rõ đặc điểm đa kháng thuốc, sự phân bố của gen mcr-1 trên nhiễm sắc thể và trên các nhóm plasmid chủ đạo (IncI2, IncHI2). Kết quả tiếp hợp và phân tích transposon Tn6330 cùng yếu tố xen đoạn ISApl1 cung cấp bằng chứng thực nghiệm về cơ chế truyền ngang tính kháng colistin trong cộng đồng nông thôn. Đây là nguồn dữ liệu khoa học thực địa quan trọng hỗ trợ công tác giám sát kháng thuốc liên ngành y tế - thú y theo định hướng Một sức khỏe tại Việt Nam.