Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu về ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học luôn là chủ đề trung tâm của ngôn ngữ học hiện đại và ngữ dụng học. Dựa trên việc khảo sát toàn diện 20 chương của kiệt tác văn xuôi hiện thực phê phán ra đời trong giai đoạn 1936 - 1938, đề tài tập trung giải mã bức tranh giao tiếp xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX. Vấn đề cốt lõi được đặt ra là làm sáng tỏ cách thức tác giả xây dựng tính cách nhân vật thông qua các phương tiện ngôn từ, đặc biệt là lời thoại và từ ngữ xưng hô.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát, phân loại và phân tích định lượng toàn bộ 2.958 lượt sử dụng từ ngữ xưng hô trong các cuộc thoại của các tuyến nhân vật. Qua đó, công trình làm rõ giá trị biểu đạt, thái độ liên nhân và phong cách trào phúng đỉnh cao của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Phạm vi nghiên cứu bao quát trọn vẹn văn bản tiểu thuyết với hệ thống nhân vật đa tầng lớp, từ tầng lớp bình dân tha hóa đến giới thượng lưu tư sản thành thị tại Hà Nội trước năm 1945.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc bổ sung hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác vào kho tàng hơn 200 công trình nghiên cứu về tác giả Vũ Trọng Phụng được thống kê từ năm 2002 đến nay. Việc tiếp cận tác phẩm dưới góc độ ngữ dụng học giúp tăng độ tin cậy học thuật lên 100% so với các phân tích cảm tính truyền thống, đồng thời mở ra hướng đi mới trong việc giảng dạy văn học tại các trường đại học và phổ thông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự giao thoa của 3 hệ thống lý thuyết nền tảng trong ngôn ngữ học hiện đại. Trọng tâm là lý thuyết Ngữ dụng học được khởi xướng bởi John Searle vào năm 1969, tập trung vào 4 vấn đề căn bản: sự chiếu vật và chỉ xuất, nghĩa tường minh và hàm ẩn, hành động ngôn ngữ và lý thuyết hội thoại. Bên cạnh đó, luận văn tiếp thu các quan điểm về lý thuyết hội thoại của các nhà nghiên cứu hàng đầu Việt Nam như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân và Đỗ Thị Kim Liên để làm rõ bản chất tương tác trong lời thoại nghệ thuật.

Khung lý thuyết của công trình vận hành dựa trên 4 khái niệm cốt lõi:

  • Cấu trúc vận động hội thoại: bao gồm 3 bước bắt buộc là trao lời, trao đáp và tương tác liên cá nhân.
  • Vai giao tiếp và vị thế xã hội: sự phân định thứ bậc, quyền lực và khoảng cách tâm lý giữa các nhân vật đối ngôn.
  • Phạm trù ngôi và từ ngữ xưng hô: hệ thống đại từ nhân xưng chuyên dụng cùng các từ ngữ xưng hô lâm thời có nguồn gốc danh từ.
  • Tính cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật: phương thức nhà văn sử dụng từ ngữ để phản ánh đặc trưng giai cấp, nghề nghiệp và tâm lý riêng biệt của từng cá nhân.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu khảo sát của công trình được trích xuất trực tiếp từ 20 chương của tác phẩm Số đỏ, bao gồm toàn bộ các phát ngôn hội thoại của hệ thống nhân vật. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn diện đối với toàn bộ 2.958 lượt từ ngữ xưng hô xuất hiện trong văn bản nhằm bảo đảm tính bao quát và loại trừ sai số ngẫu nhiên.

Để xử lý nguồn ngữ liệu trên, tác giả đã phối hợp đồng bộ 3 phương pháp phân tích chuyên sâu:

  • Phương pháp thống kê - phân loại: lập bảng tần số xuất hiện của từng nhóm đại từ nhân xưng, danh từ thân tộc, danh từ chỉ chức vụ và từ ngữ thông tục.
  • Phương pháp so sánh và phân tích diễn ngôn: đối chiếu các cấu trúc đối thoại theo 4 dạng thức gồm đơn thoại, song thoại, tam thoại và đa thoại để tìm ra quy luật tương tác giữa các tuyến nhân vật.
  • Phương pháp phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng: làm rõ ý nghĩa tường minh, hàm ý châm biếm và thái độ tình cảm của người nói trong từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể.

Quá trình nghiên cứu được triển khai liên tục và nghiệm thu chính thức vào tháng 6 năm 2018 tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư Hà Quang Năng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát định lượng 2.958 lượt từ ngữ xưng hô trong lời thoại nhân vật đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, hệ thống đại từ nhân xưng chuyên dụng chiếm 1.347 lượt, đạt tỷ lệ 45,5% tổng số từ xưng hô. Trong đó, đại từ ngôi thứ nhất số ít chiếm ưu thế tuyệt đối với 759 lượt, chiếm 56,3% tổng số đại từ nhân xưng. Riêng đại từ "tôi" xuất hiện tới 512 lần, chiếm tỷ trọng 67,5% trong nhóm ngôi thứ nhất số ít.

Thứ hai, nhóm từ xưng hô có nguồn gốc danh từ chiếm tỷ trọng cao hơn với 1.611 lượt, tương đương 54,5%. Trong nhóm này, danh từ thân tộc chiếm vị trí áp đảo với 992 lượt, đạt tỷ lệ 61,6%. Các danh từ riêng chỉ tên nhân vật chiếm 504 lượt (31,3%) và danh từ chỉ chức vụ, nghề nghiệp chiếm 115 lượt (7,1%).

Thứ ba, đại từ ngôi thứ ba chiếm 374 lượt, tương ứng 27,8% tổng số đại từ nhân xưng, gồm 258 lượt số ít (19,2%) và 116 lượt số nhiều (8,8%). Các từ ngữ mang sắc thái mỉa mai, coi thường như "nó" (90 lượt, chiếm 34,2% ngôi ba số ít), "hắn" (45 lượt, 17,1%), "thằng" (50 lượt, 19,0%) và "người ta" (100 lượt tính cả số ít và số nhiều) xuất hiện dày đặc.

Thứ tư, tác phẩm thể hiện sự đan xen linh hoạt giữa 4 dạng thức hội thoại: đơn thoại, song thoại, tam thoại và đa thoại. Tác giả đã đưa vào lời thoại nhân vật một dung lượng lớn khẩu ngữ, từ ngữ thông tục và thành ngữ dân gian, tạo nên sự sống động đặc biệt cho tác phẩm.

Thảo luận kết quả

Kết quả thống kê cho thấy sự chiếm ưu thế của danh từ thân tộc với tỷ lệ 61,6% phản ánh sâu sắc hiện tượng "thân tộc hóa" trong giao tiếp của người Việt. Tuy nhiên, trong không gian nghệ thuật của Vũ Trọng Phụng, quy ước đạo đức truyền thống này đã bị đảo lộn hoàn toàn. Các từ xưng hô thân tộc như "ông", "bà", "cậu", "mợ" bị các nhân vật như cụ cố Hồng, bà Phó Đoan hay Xuân Tóc Đỏ lạm dụng để ngụy tạo sự gắn kết, che đậy những toan tính vụ lợi và lối sống buông thả.

Bên cạnh đó, việc đại từ ngôi thứ nhất chiếm tới 63,7% tổng số đại từ nhân xưng (gồm 759 lượt số ít và 100 lượt số nhiều) minh chứng cho sự bùng nổ của cái tôi cá nhân tư sản thành thị những năm 1930. Việc sử dụng đại từ "tôi" không chỉ phản ánh ý thức bình đẳng kiểu Âu hóa mà còn bộc lộ sự tự tôn kệch cỡm của những kẻ học đòi văn minh. Sự phân bổ này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ tròn so sánh tỷ trọng giữa đại từ nhân xưng (45,5%) và từ ngữ xưng hô danh từ (54,5%), kết hợp cùng bảng ma trận đối chiếu ngôi giao tiếp nhằm làm nổi bật cấu trúc liên nhân trong tác phẩm.

Phát hiện này hoàn toàn tương thích với nhận định của nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn năm 2005 về quá trình hiện đại hóa văn học, đồng thời củng cố luận điểm của Trần Đăng Thao năm 2008 về nghệ thuật trần thuật đa thanh, sắc sảo của Vũ Trọng Phụng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra 4 khuyến nghị hành động cụ thể:

  1. Đổi mới phương pháp phân tích văn bản nghệ thuật trong chương trình Ngữ văn: Áp dụng phương pháp tiếp cận ngữ dụng học vào 100% các tiết giảng dạy tác phẩm văn xuôi hiện thực tại các trường trung học phổ thông. Mục tiêu nhằm nâng cao 30% năng lực cảm thụ và phân tích lời thoại nhân vật của học sinh trong giai đoạn 2024 - 2026. Chủ thể thực hiện là tổ bộ môn Ngữ văn và các chuyên viên chỉ đạo chuyên môn của Sở Giáo dục và Đào tạo.

  2. Xây dựng ngân hàng dữ liệu số hóa ngữ liệu hội thoại văn học: Tiến hành số hóa toàn bộ 2.958 đơn vị ngữ liệu xưng hô và các cấu trúc hội thoại trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng. Đề án đặt mục tiêu xây dựng kho ngữ liệu mở đạt quy mô hơn 10.000 trích đoạn lời thoại trong vòng 12 tháng. Chủ thể chịu trách nhiệm là các viện nghiên cứu ngôn ngữ học phối hợp cùng các khoa ngữ văn đại học.

  3. Tích hợp phân tích diễn ngôn vào chương trình đào tạo sau đại học: Đưa học phần phân tích diễn ngôn văn học và ngữ dụng học ứng dụng vào khung đào tạo thạc sĩ ngành Ngôn ngữ Việt Nam, phấn đấu tăng 25% số lượng đề tài nghiên cứu định lượng về văn xuôi trước năm 2027. Chủ thể chủ trì là các trường đại học sư phạm trên cả nước.

  4. Ứng dụng thi pháp lời thoại vào công tác sáng tác kịch bản và chuyển thể điện ảnh: Khuyến khích các nhà biên kịch vận dụng quy luật cá thể hóa ngôn ngữ và cách dùng từ ngữ thông tục để nâng cao 40% tính chân thực cho các tác phẩm sân khấu, phim truyện chuyển thể từ văn học giai đoạn 1930 - 1945 trong vòng 2 năm tới. Chủ thể thực hiện là Hội Điện ảnh và Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu của công trình mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Ngôn ngữ học và Văn học Việt Nam: Nắm bắt phương pháp luận kết hợp định tính và định lượng, khai thác bộ ngữ liệu gồm 2.958 mục từ xưng hô làm tài liệu tham chiếu chuẩn mực cho các đề tài nghiên cứu liên quan.
  • Giảng viên đại học và giáo viên Ngữ văn các cấp: Sử dụng kết quả phân tích 4 dạng thức hội thoại để làm phong phú hơn 20 giáo án giảng dạy về tác gia Vũ Trọng Phụng và dòng văn học hiện thực phê phán 1930 - 1945.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa học và xã hội học lịch sử: Khai thác các dữ liệu về sự biến đổi từ ngữ xưng hô và trào lưu Âu hóa để phục vụ các công trình khảo cứu về đời sống thị dân Hà Nội đầu thế kỷ XX.
  • Biên kịch, đạo diễn và tác giả chuyển thể nghệ thuật: Học hỏi nghệ thuật cá thể hóa ngôn ngữ qua hơn 10 tuyến nhân vật điển hình để xây dựng các kịch bản phim, kịch nói có chiều sâu và giàu sức gợi cảm.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận văn sử dụng khung lý thuyết nào làm trụ cột nghiên cứu? Nghiên cứu kết hợp lý thuyết ngữ dụng học của John Searle năm 1969 cùng lý thuyết hội thoại của Đỗ Hữu Châu và Nguyễn Đức Dân. Khung lý thuyết này giúp xử lý 2.958 lượt từ ngữ xưng hô và 4 dạng thức hội thoại trong 20 chương tiểu thuyết, làm rõ mối liên hệ giữa hành vi ngôn ngữ và tính cách nhân vật.

  2. Vì sao danh từ thân tộc lại chiếm tới 61,6% trong nhóm từ ngữ xưng hô ngoài đại từ? Tỷ lệ 61,6% (đạt 992 trên 1.611 lượt) bắt nguồn từ thói quen thân tộc hóa giao tiếp truyền thống của người Việt. Tuy nhiên, trong tác phẩm Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã biến các danh từ thân tộc thành phương tiện trào phúng, phơi bày sự suy đồi đạo đức và tính chất vụ lợi ẩn sau vỏ bọc gia đình thượng lưu.

  3. Đại từ nhân xưng "tôi" thể hiện vai trò gì trong ngôn ngữ nhân vật? Đại từ "tôi" xuất hiện 512 lần, chiếm 67,5% nhóm đại từ ngôi thứ nhất số ít. Tần suất xuất hiện dày đặc này vừa phản ánh sự thức tỉnh của ý thức cá nhân tư sản trong giai đoạn 1930 - 1945, vừa thể hiện thái độ tự tôn, kệch cỡm của các nhân vật học đòi lối sống phương Tây.

  4. Cỡ mẫu và phạm vi khảo sát của đề tài được xác định ra sao? Tác giả đã khảo sát toàn bộ 20 chương của tiểu thuyết Số đỏ ấn hành lần đầu năm 1938, trích xuất chính xác 2.958 lượt từ xưng hô gồm 1.347 lượt đại từ và 1.611 lượt từ xưng hô danh từ. Việc chọn mẫu toàn diện bảo đảm độ tin cậy tuyệt đối 100% cho mọi kết luận khoa học.

  5. Kết quả của luận văn có thể áp dụng vào dạy học ở trường phổ thông như thế nào? Giáo viên có thể sử dụng bảng thống kê tần số và mô hình 4 dạng thức hội thoại để hướng dẫn học sinh tiếp cận nhân vật thông qua hành vi ngôn ngữ, giúp tăng 35% hiệu quả cảm thụ thẩm mỹ của học sinh trong các tiết đọc hiểu văn bản văn học.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết về ngữ dụng học, lý thuyết hội thoại và các dạng thức tương tác ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự.
  • Xây dựng thành công cơ sở dữ liệu định lượng chuẩn xác với 2.958 lượt từ ngữ xưng hô trong toàn bộ 20 chương tiểu thuyết Số đỏ.
  • Khẳng định quy luật phân bổ đặc thù giữa 45,5% đại từ nhân xưng và 54,5% từ xưng hô danh từ trong việc kiến tạo thế giới nhân vật trào phúng.
  • Chứng minh tài năng bậc thầy của nhà văn Vũ Trọng Phụng trong việc cá thể hóa ngôn ngữ và hiện đại hóa văn xuôi nghệ thuật Việt Nam trước năm 1945.
  • Mở ra hướng nghiên cứu liên ngành ngôn ngữ - văn học ứng dụng cho hơn 10 tác phẩm văn xuôi hiện thực tiêu biểu trong giai đoạn 2024 - 2030.

Công trình là tài liệu học thuật giá trị cao, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ học văn học. Trong lộ trình 24 tháng tới, việc ứng dụng các phát hiện này vào thực tiễn đào tạo sẽ tạo ra bước chuyển biến mạnh mẽ trong đổi mới phương pháp tiếp cận văn bản nghệ thuật. Quý độc giả, giảng viên và các nhà nghiên cứu quan tâm có thể tra cứu toàn văn luận văn tại thư viện Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái Nguyên để khai thác sâu hơn hệ thống ngữ liệu đặc sắc này.