CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu xương bả vai Xương bả vai dẹt hình tam giác nằm áp phía sau trên của lồng ngực, giới hạn trên dưới bởi đường ngang qua thân đốt sống ngực T2 – T7 (Hình 1. Xương bả vai có hai mặt, ba bờ và ba góc 11.1: Xương bả vai Nguồn: Warth RJ, 2015 12 Các mặt gồm có: (1) mặt trước (hay mặt sườn) lõm, còn gọi là hố dưới vai, trong hố tạo nhiều gờ chếch hình nan quạt giúp cơ dưới vai bám vào chắc hơn, (2) mặt sau (hay mặt lưng) có gai vai chạy chếch lên trên ra ngoài, đầu ngoài gai vai dẹt gọi là mỏm cùng vai, nơi có diện khớp mỏm cùng vai khớp nối với xương đòn. Ngay phía dưới mỏm cùng vai là khoang dưới mỏm cùng, một vị trí hẹp, nơi chạy ra vào của nhiều gân cơ quan trọng như gân trên gai, đầu dài cơ nhị đầu, bao hoạt dịch dưới mỏm cùng vai và có thể gặp nhiều bệnh lý.
Gai vai và mỏm cùng vai nằm rất nông có thể dễ dàng sờ thấy ngay dưới da và chia mặt sau làm hai hố: hố trên gai và hố dưới gai. 4 Các bờ: (1) bờ trên, (2) bờ ngoài và (3) bờ trong. Ở tư thế tay áp sát thân người, bờ trong tương đối song song với cột sống. Bờ trong đều 2 bên hay không, mở ra hay úp lại quá nhiều đều gợi ý bất thường trong thăm khám khi so sánh với bên đối diện 13.
Các góc: (1) góc trên hơi vuông, (2) góc dưới hơi tròn, góc dưới sờ được và là một phương pháp thuận tiện để xác định sự chuyển động của xương bả vai trong khi cánh tay nâng lên, (3) góc ngoài tạo một hõm khớp hình trái xoan gọi là ổ chảo, ổ chảo dính với thân xương bởi một chỗ xương thắt lại gọi là cổ xương bả vai 13. Sinh cơ học xương bả vai trong vận động vai 1. Tổng quan về các cử động thành phần của vai Các thành phần của vai bao gồm lồng ngực, xương đòn và xương bả vai và các khớp liên quan của chúng kết hợp lại hay thường được gọi là đai vai (hình 1. Xương đòn thông qua việc gắn vào xương ức ở khớp ức đòn có chức năng như một thanh chống cơ học hay một giá đỡ để giữ XBV ở một khoảng cách tương đối cố định so với thân.
Đầu ngoài xương đòn là khớp cùng đòn, cùng với các dây chằng khớp cùng đòn gắn XBV vào xương đòn. Mặt trước của xương bả vai tiếp xúc với lồng ngực được gọi là khớp bả vai lồng ngực 13. Mặc dù không phải là một khớp thực sự theo định nghĩa, vị trí và chuyển động của XBV trên lồng ngực (tức là vị trí và chuyển động của khớp bả vai lồng ngực) vẫn thường được mô tả trên lâm sàng và trong các tài liệu y văn, hơn là chỉ mô tả về những khớp thực sự tạo ra chuyển động cho khớp bả vai lồng ngực là khớp ức đòn (SC) và khớp cùng đòn (AC). Điều này một phần là do sự dễ dàng hơn trong việc quan sát và đo lường các vị trí và chuyển động của khớp bả vai lồng ngực.
Là các phân đoạn được liên kết với nhau, không thể tạo ra chuyển động của xương bả vai trên lồng ngực mà không có chuyển động của một trong hai hay thường là cả hai khớp SC và AC 14, 15. Bên cạnh đó, bề mặt của khung xương lồng ngực tạo nên hạn chế đối với vị trí và chuyển động có thể có của XBV. Như vậy, chuyển động khớp bả vai lồng ngực trong thực tế là chuyển động của phức hợp đai vai kết hợp lại để. 5 tối đa hóa tầm vận động tổng thể của vai trong khi vẫn duy trì đầu xương cánh tay nằm trong ổ chảo 16.2: Đai vai Nguồn: Warth RJ, 2015 12 Hình 1.3: Vị trí tương quan các xương của đai vai Nguồn: Kibler WB, 2017 17 1.
Vị trí và vận động của khớp ức đòn Khớp ức đòn (SC) cho phép chuyển động tương đối giữa xương đòn so với cán xương ức. Vị trí bình thường của xương đòn tại khớp ức đòn tạo với mặt phẳng trán một góc 20° về phía sau và với mặt phẳng ngang một góc nhỏ hơn 10° lên trên. Vận động của khớp SC bao gồm: nâng lên/hạ xuống, đưa ra trước/ra sau và xoay trước/xoay sau (hình 1. Vận động đưa ra trước/ra sau xảy ra xung quanh một trục thẳng đứng với tầm vận động tối đa là 15-30⁰ mỗi hướng 13, 17.
Vận động nâng lên/hạ xuống xảy ra theo trục trước sau với tầm vận động tối đa lần lượt là 45⁰ và 10⁰ 13, 17. Cuối cùng, vận động xoay trước/xoay sau thực hiện quanh trục trong ngoài với tầm vận động xoay sau là 20-35⁰ trong khi xoay trước bị giới hạn bởi xương ức 13, 17.4: Vận động khớp ức đòn Nguồn: Warth RJ, 2015 12 1. Vị trí và vận động của khớp cùng đòn Khớp cùng đòn (AC) cho phép chuyển động tương đối giữa đầu xa xương đòn và mỏm cùng vai. Chuyển động này thường được mô tả là sự di chuyển của xương bả vai hơn là của xương đòn.
Các vận động gồm xoay lên/xoay xuống, xoay trong/ngoài và nghiêng trước/nghiêng sau được dùng để mô tả ba chuyển động tại khớp AC (hình 1. Xoay lên / xoay xuống của khớp AC được mô tả theo trục chéo trước sau vuông góc với mặt phẳng của xương bả vai. Tầm vận động có thể có của khớp AC gần đây chưa được mô tả trong các tài liệu nghiên cứu 20. Tuy nhiên, khớp AC có thể xoay lên ít nhất 20° khi đo trong quá trình nâng cánh tay ở những đối tượng không có.
7 triệu chứng 18, làm cho xoay lên là một trong những chuyển động chính của khớp AC. Nghiêng trước và nghiêng sau khớp AC được mô tả theo trục song song với mặt phẳng XBV đi qua khớp. Tầm vận động có thể có của khớp AC khi nghiêng trước và nghiêng sau cũng chưa được mô tả gần đây trong các tài liệu nghiên cứu 20; tuy nhiên, nghiêng sau ít nhất 20° được đo trong quá trình nâng cánh tay ở những đối tượng không có triệu chứng 18. Độ lớn của chuyển động này làm cho nghiêng ra sau là một chuyển động chính của khớp AC ngoài chuyển động xoay lên.5: Vận động khớp cùng đòn Nguồn: Neumann DA, 2013 13 1.
Vị trí và vận động của khớp bả vai lồng ngực Vị trí và vận động của XBV thường được mô tả so với mặt phẳng trán. Vị trí giải phẫu của XBV thường ở giữa xương sườn 2 và 7 với bờ trong cách cột sống khoảng 6cm. Ở vị trí này, XBV nghiêng trước khoảng 10, xoay lên khoảng 5-10 và xoay trong khoảng 35-40 (hình 1. Mặc dù chuyển động của khớp bả vai lồng ngực là hệ quả trực tiếp của chuyển động khớp SC và AC, nó vẫn thường xuyên được mô tả trong y văn.
XBV vận động trong không gian 3 chiều, toàn bộ chuyển động là sự phối hợp vận động xoay quanh trục và dịch chuyển trượt theo bề mặt. 8 Hai vận động dịch chuyển là nâng lên/hạ xuống và dạng/khép (hình 1. Nâng lên/hạ xuống của xương bả vai trên ngực xảy ra thông qua chuyển động nâng lên/hạ xuống của xương đòn tại khớp SC. Trong khi đó, vận động dạng/khép hoạt động nhờ sự đưa ra trước hay ra sau của khớp SC.
Khi những vận động dịch chuyển này của XBV xảy ra thông qua sự đưa ra trước/ra sau hoặc nâng lên/hạ xuống của khớp SC, sẽ có những điều chỉnh cần thiết tại khớp AC để phù hợp với xương bả di chuyển trên bề mặt cong của lồng ngực 13. Ba vận động xoay gồm: xoay lên/xoay xuống quanh trục vuông góc với thân XBV, xoay trong/xoay ngoài quanh trục đứng dọc theo bờ trong XBV và nghiêng trước/nghiêng sau quanh trục ngang và dọc theo theo gai vai (hình 1. Xoay lên của XBV là một phần không thể thiếu của việc nâng cao cánh tay. Sự xoay lên xảy ra bởi sự tổng hợp của việc nâng lên của xương đòn tại khớp SC và sự xoay lên của xương đòn tại khớp AC 13.
Tổng tầm vận động có thể có của xương bả vai trên ngực do chuyển động khớp SC và AC kết hợp thường được ghi nhận là 60° hoặc lớn hơn 15 , làm cho chuyển động xoay lên trên trở thành chuyển động chính của xương bả vai trên ngực.6: Vận động xương bả vai Nguồn: Warth RJ, 2015; Neumann DA, 2013 12, 13. Vận động tổng hợp xương bả vai khi nâng cánh tay Hình 1.7: Vận động vai trong mặt phẳng xương bả vai Nguồn: Neumann DA, 2013 13 Để hiểu được vận động của XBV trên lồng ngực khi nâng cánh tay hay những hoạt động chức năng, vận động của từng khớp SC và AC riêng lẻ là quan trọng. Sau đó là sự kết hợp chuyển động giữa những khớp này để tạo ra sự vận động của khớp bả vai lồng ngực. Hầu hết các nghiên cứu đều tập trung vào khảo sát nâng cánh tay trong mặt phẳng xương bả vai, gập vai hoặc dạng vai 18, 19.
Mặc dù việc nâng cánh tay có thể trong nhiều mặt phẳng khác nhau nhưng vẫn có sự nhất quán trong vận động của khớp SC và AC cũng như là vận động của bả vai trên lồng ngực. Khi dạng vai, XBV vận động tối thiểu trong 30⁰ đầu và sau đó duy trì nhịp bả vai cánh tay tương đối hằng định là 2:1, tức là khớp ổ chảo cánh tay xoay lên 2⁰ thì khớp bả vai lồng ngực xoay lên 1⁰ 13. Tỉ lệ này thay đổi theo các nghiên cứu từ 1,25:1 đến 2,9:1 13. Tuy nhiên, nhìn chung khi vai xoay lên 180⁰ thì trong đó 120⁰ là sự xoay lên của khớp ổ chảo cánh tay và 60⁰ là sự xoay lên của khớp bả vai lồng.
Xoay lên của xương bả vai 60⁰ là kết quả của sự kết hợp chuyển động nâng lên khoảng 25⁰ của khớp SC và xoay lên của khớp AC khoảng 35⁰. Ngoài ra, để tối đa tầm vận động của vai khi dạng, XBV có xu hướng nghiêng sau và xoay ngoài để hướng ổ chảo lên trên và ra sau. Thông thường, XBV sẽ nghiêng sau 20⁰ và xoay ngoài 10⁰ khi dạng, nhưng có thể thay đổi một chút nếu nâng cánh tay trong những mặt phẳng khác, đặc biệt là xoay ngoài nếu gập vai (hình 1. XBV có thể chuyển động theo các vận động này là nhờ sự kết hợp của khớp SC và AC, thông thường khớp SC đưa ra sau khoảng 15⁰, xoay sau khoảng 20-35⁰ tuỳ mặt phẳng khi nâng cánh tay kết hợp với xoay trong khớp AC 17.