CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA ĐA DẠNG HÓA XUẤT KHẨU ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Đa dạng hóa xuất khẩu 1. Nguồn gốc, khái niệm Đa dạng hóa xuất khẩu là chiến lược thương mại được nhấn mạnh trong những năm gần đây cả từ giới học thuật và trong giới làm chính sách. Song bản thân đa dạng hóa không phải là một hiện tượng quá mới hoặc riêng có với xuất khẩu.
Đa dạng hóa đã diễn ra xuyên suốt lịch sử trái đất nói chung và đa dạng hóa trong hoạt động kinh tế đã diễn ra trong suốt lịch sử loài người nói riêng. Một trong những hình thức đa dạng hóa xuất hiện sớm nhất là sự dịch chuyển dần dần từ hoạt động săn bắt và hái lượm sang thuần hóa giống cây trồng và canh tác nông nghiệp ổn định của con người. Sản xuất lương thực phát triển kéo theo sự xuất hiện của các hoạt động phi lương thực như chăn nuôi, và sau đó là các hoạt động phi nông nghiệp chẳng hạn như tiểu thủ công nghiệp hay thương mại và trao đổi hàng hóa. Cứ như vậy quá trình đa dạng hóa trong hoạt động kinh tế của con người liên tục được diễn ra.
Đa dạng hóa trong các hoạt động kinh tế mô tả quá trình nền kinh tế mở rộng từ những hoạt động kinh tế truyền thống sang những hoạt động kinh tế mới mẻ hơn, hiện đại hơn. Quá trình này diễn ra từ từ, chậm chạp trong phần lớn lịch sử loài người và chỉ thực sự tăng tốc từ sau Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất cách đây hơn 200 năm. Từ đó đến nay, đã có một sự gia tăng đáng kể về mức độ đa dạng trong hoạt động kinh tế của con người, kéo theo đó là những sản phẩm mới mà con người tạo ra. Người tiêu dùng ngày nay đều không lạ lẫm với máy bay, máy tính, tivi hay điện thoại thông minh., những sản phẩm hầu như trước kia chỉ tồn tại trong truyện khoa học viễn tưởng của Jules Verne1.
Những sản phẩm này chưa từng xuất hiện trước đây và không thay thế bất kỳ sản phẩm nào có trước đó. Nền kinh tế đã và đang ngày càng mở rộng và trở nên đa dạng hơn. Đa dạng hóa xuất khẩu có hàm ý tương tự. Ban đầu, đa dạng hóa xuất khẩu thường được nhắc đến như một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển với tên gọi “sự đa dạng trong xuất khẩu” (export diversity).
Quá trình các quốc gia “tốt nghiệp” từ trạng thái đang phát triển sang trạng thái phát triển thường đi đôi với sự chuyển dịch trong cấu 1 Nhà văn khoa học viễn tưởng nổi tiếng người Pháp thế kỷ 19. 10 trúc sản xuất, và sau đó là sự chuyển dịch trong cấu trúc xuất khẩu theo hướng đa dạng hơn (De Pineres & Ferrantino, 1997). Quan niệm truyền thống về sự phát triển cũng thường nhận định rằng tăng trưởng kinh tế thường gắn liền với sự chuyển dịch từ xuất khẩu những sản phẩm thô sang xuất khẩu đa dạng hơn sản phẩm chế biến chế tạo (Al- Marhubi, 2000). Về sau, quan niệm về đa dạng hóa xuất khẩu dần thay đổi.
Đó không chỉ là một hệ quả đơn thuần của sự phát triển, mà trái lại đóng một vai trò chủ động hơn và dần được coi là một chiến lược phát triển cần thiết để đạt được mục tiêu ổn định doanh thu xuất khẩu và đạt được tăng trưởng kinh tế trong dài hạn. Gốc rễ của sự thay đổi trong quan niệm trên nằm ở tình trạng phụ thuộc nặng nề vào xuất khẩu một số ít sản phẩm thô ở nhiều nước đang phát triển (Todaro & Smith, 2020). Một số nước châu Phi phụ thuộc trầm trọng vào dầu hoặc các khoáng sản khác như sắt, đồng, vàng ở Mauritania; chất phóng xạ ở Niger; coban, đồng ở Congo.; một số nước khác phụ thuộc vào nông sản thô như hạt có dầu ở Niger; trà, cà phê, hoa tươi ở Kenya; vani ở Madagascar. Tình trạng tương tự cũng được ghi nhận ở nhiều nước khu vực Mỹ Latinh.
Khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu của Bolivia đến từ dầu thô, kẽm, vàng, thiếc, chì. Chỉ riêng dầu thô và than đá đã chiếm tới gần 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Colombia, còn Nicaragua tập trung mạnh vào nông sản thô như các sản phẩm thịt sữa từ gia súc, cà phê, thuốc lá. Thực trạng trên tiềm ẩn không ít rủi ro. Trước hết, cung, cầu, và giá sản phẩm thô trên thị trường thường kém ổn định.
Giá sản phẩm thô thậm chí còn được dự đoán là có xu hướng giảm đi tương đối so với giá của các sản phẩm chế biến chế tạo theo giả thuyết mà hai nhà kinh tế Raul Prebisch và Hans Singer nêu ra ngay từ thập niên 1950. Kết quả là doanh thu từ xuất khẩu sản phẩm thô có mức độ rủi ro và sự không chắc chắn cao (Todaro & Smith 2020). Tình hình càng nghiêm trọng hơn khi cùng lúc đó nhiều quốc gia đang phát triển thường xuyên rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán do phải nhập khẩu các sản phẩm tiêu dùng cũng như tư liệu sản xuất và hàng hóa trung gian cần thiết cho sự mở rộng của khu vực công nghiệp. Rủi ro này khiến các nước đang phát triển phải nghiêm túc xem xét tới việc cần phải thoát khỏi tình trạng phụ thuộc vào một số ít sản phẩm thô.
Công thức được khuyến nghị phổ biến là đa dạng hóa cấu trúc xuất khẩu gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế - công thức đã được kiểm chứng từ kinh nghiệm thần kỳ kinh tế Đông Á những năm 1960-1980 hay gần đây hơn là Trung Quốc và Ấn Độ. 11 Đa dạng hóa xuất khẩu được định nghĩa là sự thay đổi trong cấu thành của rổ hàng hóa xuất khẩu hiện tại của một quốc gia, thể hiện ở sự gia tăng trong số lượng hàng hóa xuất khẩu, cũng như sự phân phối cân bằng hơn giữa các mặt hàng đang xuất khẩu (Ali & cộng sự, 1991). Luận điểm này một phần được chia sẻ bởi Dutt & cộng sự (2008) khi các tác giả cho rằng đa dạng hóa xuất khẩu là quá trình mở rộng những sản phẩm một quốc gia có thể xuất khẩu. Ở một góc nhìn khác, Berthélemy & Chauvin (2000) cho rằng đa dạng hóa sản xuất và xuất khẩu đề cập đến sự trải đều hơn của hoạt động sản xuất và xuất khẩu trên các ngành hay lĩnh vực khác nhau.
Saviotti & Frenken (2008) lại định nghĩa một cách đơn giản hơn, đa dạng hóa xuất khẩu là sự thay đổi cấu trúc xuất khẩu của một quốc gia. Những định nghĩa trên đã nêu lên một hoặc một vài khía cạnh về đa đạng hóa xuất khẩu. Tựu chung lại, đa dạng hóa xuất khẩu trước hết đề cập đến một quá trình. Thứ hai, đó là quá trình thay đổi trong cấu trúc xuất khẩu của một quốc gia.
Song, quan trọng hơn, sự thay đổi đó cần phải theo hướng làm cho cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn. Vì vậy, trong phạm vi luận án này, đa dạng hóa xuất khẩu được hiểu là quá trình trong đó các quốc gia chuyển dịch cấu trúc xuất khẩu hiện tại sang một cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn. Phân loại đa dạng hóa xuất khẩu Như đã trình bày, đa dạng hóa xuất khẩu là quá trình trong đó các quốc gia chuyển dịch cấu trúc xuất khẩu hiện tại sang một cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn. Vấn đề tiếp theo là xác định một cách cụ thể thế nào cấu trúc xuất khẩu, và thể nào là một cấu trúc xuất khẩu đa dạng hơn.
Brenton & cộng sự (2009) đưa ra câu trả lời cho hai vấn đề trên với việc phân loại các dạng thức khác nhau của đa dạng hóa xuất khẩu. Theo đó, đa dạng hóa cấu trúc xuất khẩu có thể là (i) Đa dạng hóa về chủng loại hàng hóa và chất lượng (xuất khẩu nhiều mặt hàng hơn với chất lượng cao hơn); (ii) Đa dạng hóa ngành/lĩnh vực xuất khẩu (xuất khẩu ở nhiều ngành kinh tế hơn, hay mở rộng xuất khẩu cả về hàng chế biến chế tạo và dịch vụ), hoặc (iii) Đa dạng hóa về đối tác thương mại (xuất khẩu đến nhiều quốc gia hơn). Như vậy, cấu trúc xuất khẩu được hiểu là cấu trúc theo sản phẩm/ngành (tổng xuất khẩu được cấu thành từ những sản phẩm/ngành nào, với tỷ trọng bao nhiêu) hoặc cấu trúc theo đối tác thương mại (xuất khẩu đến nước đối tác nào, với tỷ trọng bao nhiêu). Cách hiểu này kéo theo sự phân chia đa dạng hóa xuất khẩu thành hai dạng chính: đa dạng hóa xuất khẩu theo sản phẩm/ngành và đa dạng hóa xuất khẩu theo đối 12 tác thương mại.
Đa dạng hóa theo sản phẩm/ngành đạt được bằng cách mở rộng giỏ hàng hóa xuất khẩu hiện có. Trong khi đó, đa dạng hóa theo đối tác thương mại là sự mở rộng xuất khẩu sang những thị trường mới (Hinlo & Arranguez, 2017). Trong khi mở rộng thị trường xuất khẩu khá rõ ràng và đơn nhất về nội hàm, mở rộng rổ hàng hóa xuất khẩu có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau. Quan niệm truyền thống gắn liền giữa sự đa dạng trong xuất khẩu với quá trình phát triển nhấn mạnh sự dịch chuyển của các quốc gia từ xuất khẩu sản phẩm thô sang xuất khẩu đa dạng hơn hàng chế biến chế tạo.
Đây là hướng đi phổ biến của nhiều quốc gia trong lịch sử. Tuy nhiên đa dạng hóa xuất khẩu theo quan điểm của Brenton & cộng sự (2009) không nhất thiết bao hàm việc phải chuyển hướng sang xuất khẩu những mặt hàng này. Quá trình đa dạng hóa xuất khẩu cũng có thể được thực hiện dưới dạng phát triển từ những sản phẩm thô đơn giản ban đầu thành các ngành công nghiệp dựa trên tài nguyên thiên nhiên, ví dụ như sự phát triển từ xuất khẩu cá hồi đến xuất khẩu cá hồi mang hợp chất chữa ung thư ở Chile, hay sự khai phá từ ngành khai thác gỗ đến ngành công nghiệp sản xuất xe tải hạng nặng chuyên chở gỗ và quặng ở Nauy (Agosin, 2007b). Xuất khẩu sản phẩm thô không tự động đồng nhất với kém đa dạng hóa bất chấp thực tế là nhiều nước rất phụ thuộc vào xuất khẩu sản phẩm thô, kém đa dạng hóa cũng có thể đến từ việc chỉ tập trung vào một số sản phẩm chế biến chế tạo.
Nhận định trên được củng cố với tranh luận của Lederman & Maloney (2007): “Rõ ràng, sự phụ thuộc vào bất kỳ một mặt hàng xuất khẩu nào, dù đó là đồng ở Chile hay chip xử lý ở Costa Rica, đều có thể khiến các quốc gia dễ bị tổn thương trước một sự sụt giảm mạnh trong tỷ lệ trao đổi thương mại.