Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Xã hội học (mã số: 931 03 01) với đề tài "Cuộc sống của những bà mẹ công nhân đơn thân ở các khu công nghiệp nhìn từ góc độ chính sách xã hội (Nghiên cứu trường hợp khu công nghiệp Sóng Thần tỉnh Bình Dương)" được nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Bảo Trân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Kim Xuyến tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam năm 2020.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Bà mẹ đơn thân là hiện tượng xã hội xuất hiện từ sớm ở Việt Nam do chiến tranh và rủi ro thiên tai làm mất cân bằng giới tính. Trong thời kỳ đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nhóm bà mẹ đơn thân trẻ tiếp tục gia tăng. Dữ liệu khảo sát của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết năm 2012 cả nước có 7,64% gia đình chỉ có cha hoặc mẹ và con, đến 6 tháng đầu năm 2016 tỷ lệ này đã tăng lên 11,17%. Thực tế cho thấy đã hình thành một dạng thức gia đình mới cùng tồn tại song song với các gia đình truyền thống và hiện đại.

Tại tỉnh Bình Dương, địa phương tập trung 29 khu công nghiệp (KCN) với tổng số khoảng 1.000.000 công nhân lao động (dân số trên 2,2 triệu người), lao động ngoài tỉnh chiếm trên 80% và lao động nữ chiếm khoảng 57%. Toàn tỉnh có 410.312 lao động công nghiệp tập trung, trong đó nữ công nhân là 279.000 người. Khảo sát từ các cấp công đoàn tỉnh ghi nhận 2.584 nữ công nhân đơn thân nuôi con nhỏ, phân bổ tại các địa bàn tập trung công nghiệp: thị xã Dĩ An có 774 người, thị xã Thuận An có 297 người, thị xã Tân Uyên có 562 người, thành phố Thủ Dầu Một có 194 người và thị xã Bến Cát có 225 người.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định trên hai khía cạnh:

  1. Về phương diện thể chế và chính sách: Gia đình đơn thân là hiện tượng xã hội phổ biến nhưng chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng ở cấp độ pháp luật và thực thi chính sách. Các quy định pháp luật hiện hành chưa có văn bản riêng biệt bảo vệ hoặc trợ cấp cụ thể cho bà mẹ công nhân đơn thân mà chỉ lồng ghép chung trong diện hộ nghèo.
  2. Về cơ sở lý luận và phương pháp luận: Khoa học xã hội trong nước còn thiếu vắng hệ thống lý luận chuyên biệt nghiên cứu về loại hình gia đình này. Định kiến xã hội truyền thống vẫn xem gia đình phải đủ hai vợ chồng, do đó coi gia đình đơn thân là "gia đình khuyết" hay "gia đình không đầy đủ", dẫn đến việc nhìn nhận chưa bình đẳng so với các dạng thức gia đình khác.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục đích: Nghiên cứu và đánh giá thực trạng đời sống vật chất, tinh thần của những bà mẹ đơn thân ở KCN Sóng Thần (tỉnh Bình Dương) từ góc độ chính sách xã hội, qua đó đề xuất các kiến nghị chính sách nhằm giảm thiểu khó khăn và nâng cao đời sống cho nhóm đối tượng này.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu đi trước để làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn; rà soát hệ thống văn bản chính sách liên quan đến lao động nữ và bà mẹ đơn thân có con nhỏ tại các KCN.
    2. Phân tích đặc điểm xã hội, thực trạng đời sống vật chất và tinh thần của nữ công nhân làm mẹ đơn thân; chỉ ra những thuận lợi, khó khăn và các yếu tố chi phối đời sống của họ.
    3. Đề xuất các quan điểm và giải pháp chính sách phù hợp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho bà mẹ công nhân đơn thân tại các KCN.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Bà mẹ đơn thân có chân dung xã hội như thế nào? Đời sống vật chất và tinh thần của họ đang diễn ra như thế nào?
  2. Những yếu tố xã hội nào đang ảnh hưởng đến đời sống vật chất, tinh thần của bà mẹ đơn thân là công nhân?
  3. Cần có giải pháp, chính sách hỗ trợ gì để cải thiện và nâng cao chất lượng đời sống vật chất, tinh thần của bà mẹ đơn thân là công nhân?

Giả thuyết nghiên cứu

  1. Công nhân làm mẹ đơn thân có tuổi đời rất trẻ, học vấn và trình độ chuyên môn không cao, hợp đồng lao động không ổn định, mức thu nhập thấp và chủ yếu là lao động di cư. Nhóm này gặp nhiều khó khăn về nhà ở, trang thiết bị sinh hoạt và thụ hưởng đời sống tinh thần.
  2. Đặc điểm cá nhân và hoàn cảnh gia đình (tuổi trẻ, công việc bấp bênh, thu nhập thấp, người thân ở xa) tác động trực tiếp đến chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của bà mẹ đơn thân.
  3. Thể chế, chính sách và môi trường sống (Nhà nước, công đoàn, chính quyền địa phương, doanh nghiệp, cộng đồng) còn nhiều khoảng trống, chi phối sâu sắc đời sống của nhóm bà mẹ đơn thân ở các KCN.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Cuộc sống của những bà mẹ đơn thân là công nhân nhìn từ các chiều cạnh chính sách xã hội liên quan tại KCN Sóng Thần, tỉnh Bình Dương.
  • Khách thể nghiên cứu: Nữ công nhân là bà mẹ đơn thân đang nuôi con nhỏ tại KCN Sóng Thần; các doanh nghiệp sử dụng lao động; cán bộ các ban ngành và tổ chức công đoàn thực thi chính sách tại tỉnh Bình Dương.
  • Phạm vi thời gian: Tài liệu thứ cấp thu thập từ tháng 7/2017 đến tháng 12/2018; số liệu sơ cấp khảo sát thực địa thu thập từ tháng 6/2018 đến tháng 12/2018.
  • Phạm vi không gian và địa bàn: Thực hiện trên địa bàn thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương; khảo sát cụ thể tại KCN Sóng Thần 1, KCN Sóng Thần 2 và KCN Bình Đường.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng hợp các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực xã hội học, luật học và chính sách xã hội xoay quanh hai tuyến nội dung chính:

Các hướng nghiên cứu quốc tế

  • Nhận diện và phân loại gia đình đơn thân: Klett-Davies chỉ ra công nghiệp hóa và đô thị hóa ở phương Tây làm suy giảm mô hình gia đình hạt nhân truyền thống, gia tăng các gia đình cha hoặc mẹ đơn thân do ly dị và sống thử. Gucciardi, Celasun, Stewart, Wendy Wang xác định mẹ đơn thân là người có con nhưng chưa từng kết hôn, ly thân hoặc ly hôn và hiện không sống cùng bạn đời được pháp luật công nhận. Cherlin (2009) mô tả sự tan vỡ và tái hợp hôn nhân như một "trò chơi đu quay", đồng thời dẫn số liệu năm 2013 tại Hoa Kỳ cho thấy 40% trẻ em sinh ra ngoài hôn nhân. Shattuck và Kreider thống kê 60% phụ nữ sinh con không kết hôn nằm ở độ tuổi 20-24. Jason Deparle khảo sát các bà mẹ đơn thân độ tuổi 25-40 nuôi con từ 1-6 tuổi. Số liệu Cục Điều tra Dân số Mỹ và Amato Paul (2005) ghi nhận tỷ lệ hộ đơn thân tăng từ 9% (1960) lên 20% (2000) và đạt 12 triệu hộ (2011), trong đó 80% là mẹ đơn thân và 45% chưa từng kết hôn.
  • Bất lợi kinh tế - xã hội: Martine Segalen nhấn mạnh mối liên hệ giữa việc làm mẹ đơn thân với tình cảnh bấp bênh, học vấn thấp và sinh con sớm. Budig và England chứng minh sinh con sớm cản trở tích lũy học vấn và giảm năng lực kiếm tiền. Lichter (1999) kết luận phụ nữ sinh con ngoài giá thú tại Mỹ có thu nhập và học vấn thấp, phụ thuộc lớn vào trợ cấp xã hội. Wang Shijun (2002) phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Trung Quốc tạo ra khoảng cách thu nhập và bất lợi việc làm cho nữ đơn thân. Claude Martin (1997) khảo sát 321 trường hợp ly hôn ở Pháp, chỉ ra 75% cặp thuận tình ly hôn nhận được hỗ trợ kinh tế trong khi 58% trường hợp cắt đứt hoàn toàn không nhận được chu cấp. Bertaux (1977) phân tích ba trụ cột ổn định xã hội gồm nhà ở, việc làm và gia đình.
  • Hệ quả đối với trẻ em và nhu cầu hỗ trợ: Li Hongtao (2002) tiếp cận theo vai trò giới để làm rõ gánh nặng kinh tế - tinh thần của mẹ đơn thân. Xu Anqi và Ye Wenzhen chỉ ra trẻ em từ 7-13 tuổi trong gia đình ly hôn có nguy cơ trầm cảm, giao tiếp xã hội và kết quả học tập thấp hơn. Ngược lại, Sun Li Ping đưa ra bằng chứng về tính tự lập cao của con cái trong các gia đình này. Tang Weijun nêu 4 nhóm nhu cầu: kinh tế, sự khoan dung, xóa bỏ tiêu cực và điều chỉnh tâm lý cho trẻ.
  • Tiếp cận chính sách và thể chế: Tại Hàn Quốc, các nghiên cứu của Lee Mi-jeong và Kang Eun-hwa (được Nguyễn Thị Thu Vân trích dẫn) chỉ ra áp lực Khổng giáo khiến 90% trẻ được nhận làm con nuôi là con của phụ nữ không kết hôn; Luật hỗ trợ gia đình khuyết một thành viên năm 2007 đã thiết lập các khu nhà tạm trú hỗ trợ nơi ở và đào tạo nghề. Tại Đan Mạch, Polakow Valarie, Halskov Therese và Jorrgense Per Schultz (2001) tiếp cận theo góc độ quyền, chỉ ra quyền lợi của mẹ đơn thân bị giảm sút trong các khung chính sách phổ quát. Klett-Davies so sánh mô hình trợ cấp cho mẹ đơn thân giữa Anh và Đức; Tinsley ghi nhận phụ nữ đơn thân Anh có học vấn thấp nhưng tỷ lệ có việc làm tăng từ 43% (1996) lên 60% (2013).

Các hướng nghiên cứu trong nước

  • Nghiên cứu về gia đình và phụ nữ đơn thân: Báo cáo Điều tra Gia đình Việt Nam năm 2006 (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tổng cục Thống kê, UNICEF, Viện Gia đình và Giới) chỉ ra tỷ lệ ly hôn là 2,6% (thành thị 3,3%, nông thôn 2,4%), trong đó tỷ lệ phụ nữ nộp đơn ly hôn cao gấp 2 lần nam giới. Lê Thi và Trần Thị Kim Xuyến nghiên cứu hệ quả sau chiến tranh đối với phụ nữ góa bụa, đơn thân lớn tuổi do mất cân bằng giới tính tại các nông trường, xí nghiệp. Lê Thi (1998) nghiên cứu sinh kế phi nông nghiệp của phụ nữ nông thôn. Võ Thị Cẩm Ly nghiên cứu chân dung xã hội và sinh kế của bà mẹ đơn thân nông thôn Bắc Trung Bộ. Chu Thị Thu Trang tiếp cận nhu cầu trợ giúp công tác xã hội của phụ nữ đơn thân miền núi phía Bắc. Nguyễn Thị Thu Vân phân tích định kiến xã hội và sức khỏe tâm lý của phụ nữ đơn thân.
  • Nghiên cứu về công nhân KCN: Hà Thị Dụng phân tích điều kiện nhà ở, thiết chế văn hóa và lối sống của công nhân lao động di cư.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các nghiên cứu gia đình tại Việt Nam tập trung vào mô hình gia đình hoàn chỉnh; các công trình về phụ nữ đơn thân chủ yếu khảo sát tại khu vực nông thôn miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về nhóm nữ công nhân đơn thân nuôi con tại các KCN tập trung ở vùng kinh tế trọng điểm phía Nam dưới góc độ chính sách xã hội. Luận án đặt nhóm đối tượng này vào mối tương quan giữa lao động di cư, quan hệ việc làm tại KCN và các quy định chính sách an sinh xã hội hiện hành.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Phương pháp luận triết học: Luận án dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác - Lênin với ba nguyên tắc: nguyên tắc khách quan trong xem xét sự vật hiện tượng; nguyên tắc phát triển và đặt sự vật trong hệ thống các mối liên hệ; nguyên tắc tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, coi thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
  • Phương pháp luận xã hội học: Vận dụng phương pháp luận thực chứng xã hội học nhằm sử dụng chứng cứ thực nghiệm để luận giải đời sống của nhóm xã hội. Luận án kết hợp tiếp cận thể chế chính sách, tiếp cận quyền con người và quan điểm gia đình học hiện đại (coi gia đình đơn thân là một dạng thức gia đình độc lập, bình đẳng).
  • Khung phân tích: Luận án thiết lập mô hình tương tác giữa 4 nhóm biến số:
    1. Đặc điểm xã hội của bà mẹ đơn thân: Tuổi, học vấn, trình độ chuyên môn, thu nhập, nơi làm việc, hoàn cảnh gia đình, số con, số năm công tác, loại hợp đồng lao động.
    2. Môi trường và điều kiện lao động tại doanh nghiệp: Loại hình doanh nghiệp, việc thực hiện chế độ chính sách lao động.
    3. Hệ thống chính sách xã hội: Chính sách việc làm, tiền lương, nhà ở, dịch vụ y tế, giáo dục mầm non, bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội.
    4. Đời sống của bà mẹ đơn thân: Đời sống vật chất (nhà ở, trang thiết bị sinh hoạt, thu nhập, dinh dưỡng) và đời sống tinh thần (hoạt động văn hóa, giải trí, giao tiếp xã hội, quan hệ gia đình).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập các chủ trương của Đảng (Chỉ thị 55-CT/TW năm 2000, Nghị quyết 04-NQ/TW năm 2007, Nghị quyết 11-NQ/TW năm 2007, Nghị quyết 20-NQ/TW năm 2008, Chỉ thị 20-CT/TW năm 2012); các văn bản quy phạm pháp luật (Bộ luật Lao động 2012, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Luật Bình đẳng giới 2006, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình 2007, Luật Bảo hiểm xã hội 2014, Luật Bảo hiểm y tế 2014, Nghị định 85/2015/NĐ-CP, Nghị định 67/2007/NĐ-CP, Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, Thông tư 09/2007/TT-BLĐTBXH, Quyết định 72/2001/QĐ-TTg, Quyết định 1028/QĐ-TTg năm 2016, Quyết định 629/QĐ-TTg năm 2012, Chỉ thị 09/CT-TTg); các số liệu thống kê của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dương.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (định lượng):
    • Tổng thể phân tích: 774 nữ công nhân đơn thân làm việc tại các doanh nghiệp thuộc KCN Sóng Thần.
    • Quy mô mẫu: 150 bà mẹ công nhân đơn thân tham gia trả lời bảng hỏi.
    • Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên bằng phương pháp bốc thăm. Tác giả lập danh sách, mã hóa ký hiệu từng người và bốc thăm ngẫu nhiên từ tổng thể.
    • Địa bàn thu thập: Thực hiện tại 6 doanh nghiệp: Công ty Yazaki, Công ty Asama, Công ty Chutex, Công ty O’leer, Công ty Duy Hưng và Công ty Liên Phát.
    • Công cụ xử lý: Nhập và xử lý dữ liệu thống kê bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu (định tính): Thực hiện phỏng vấn sâu 40 mẫu, bao gồm:
    • 10 cán bộ đại diện các sở, ban, ngành cấp tỉnh, cán bộ công đoàn cấp tỉnh, cán bộ công đoàn cơ sở và đại diện lãnh đạo doanh nghiệp.
    • 30 nữ công nhân là bà mẹ đơn thân đang trực tiếp làm việc tại các nhà máy.
Hạng mục phương pháp Số lượng mẫu Đối tượng / Địa bàn khảo sát Kỹ thuật / Công cụ thực hiện
Điều tra bảng hỏi 150 Nữ công nhân mẹ đơn thân tại 6 công ty (Yazaki, Asama, Chutex, O’leer, Duy Hưng, Liên Phát) Chọn mẫu ngẫu nhiên bốc thăm từ 774 hồ sơ; xử lý SPSS 20.0
Phỏng vấn sâu 40 10 cán bộ quản lý/công đoàn/doanh nghiệp; 30 nữ công nhân mẹ đơn thân Phỏng vấn trực tiếp theo đề cương bán cấu trúc
Phân tích tài liệu Đa nguồn Văn bản pháp quy, báo cáo công đoàn toàn quốc và tỉnh Bình Dương Phương pháp tổng hợp, so sánh dữ liệu thứ cấp

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước liên quan đến gia đình đơn thân, lao động nữ KCN và các quy định pháp luật. Tác giả phân tích các khuynh hướng nghiên cứu gia đình đơn thân ở phương Tây (chuyển dịch từ định kiến sang công nhận quyền bình đẳng, nhấn mạnh bất lợi kinh tế) và châu Á (nhấn mạnh áp lực đạo đức truyền thống và mạng lưới gia đình). Điểm lại các chính sách của Nhà nước Việt Nam về lao động nữ, bảo hiểm xã hội và trẻ em; chỉ ra khoảng trống: pháp luật bảo trợ xã hội (Nghị định 67/2007/NĐ-CP) chỉ hỗ trợ mẹ đơn thân thuộc diện hộ nghèo, trong khi nữ công nhân KCN có thu nhập tiền lương nhưng ở mức thấp thì chưa được xếp vào diện thụ hưởng an sinh xã hội đặc thù.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương này xây dựng hệ thống khái niệm công cụ, thao tác hóa các biến số và hoàn thiện khung phân tích dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và thực chứng xã hội học. Về mặt thực tiễn, chương phân tích đặc trưng kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương với 29 KCN tập trung, tỷ lệ lao động nhập cư chiếm hơn 80%, lao động nữ chiếm 57% toàn tỉnh. Địa bàn thị xã Dĩ An có số lượng nữ công nhân đơn thân nuôi con cao nhất tỉnh (774 người). Tác giả rà soát việc thực thi Bộ luật Lao động 2012 (quy định thời gian cho con bú 60 phút/ngày, phòng trữ sữa, trường mầm non tại KCN) và chỉ ra sự thiếu hụt các quy định pháp lý mang tính ràng buộc doanh nghiệp phải trợ cấp riêng cho nhóm mẹ đơn thân nuôi con nhỏ.

Chương 3: Chân dung xã hội và cuộc sống của bà mẹ công nhân đơn thân

Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực nghiệm phản ánh nhân khẩu học và đời sống của 150 nữ công nhân làm mẹ đơn thân tại KCN Sóng Thần qua các chỉ báo cụ thể:

  • Đặc điểm nhân khẩu và hoàn cảnh gia đình: Thể hiện qua Biểu 1 (Đặc điểm về tuổi), Biểu 2 (Trình độ học vấn), Biểu 3 (Số con), Biểu 4 (Lý do ban đầu lựa chọn làm mẹ đơn thân), Bảng 1 (Trình độ chuyên môn), Bảng 2 (Độ tuổi của con cái) và Bảng 3 (Nguồn gốc xuất thân). Nhóm công nhân mẹ đơn thân phần lớn có tuổi đời trẻ, học vấn phổ thông, chuyên môn kỹ thuật hạn chế và chủ yếu xuất thân từ các vùng nông thôn di cư đến Bình Dương. Dữ liệu định tính được minh chứng qua Hộp 1 (Ý kiến của cán bộ ban ngành tỉnh Bình Dương về tuổi của bà mẹ đơn thân) và Hộp 2 (Ý kiến của bà mẹ đơn thân về việc đến Bình Dương).
  • Việc làm và thu nhập: Khảo sát phân bổ tại các loại hình doanh nghiệp qua Biểu 5; tình trạng hợp đồng lao động qua Bảng 4; mức thu nhập hàng tháng qua Bảng 5 và thời gian tích lũy thâm niên qua Bảng 9 (Số năm bà mẹ công nhân đơn thân làm việc tại Bình Dương). Đa số công nhân có mức thu nhập thấp, phụ thuộc nhiều vào tiền làm thêm giờ để trang trải chi phí nuôi con.
  • Điều kiện cư trú và tiếp cận dịch vụ y tế: Bảng 6 và Bảng 7 thống kê hiện trạng nhà ở và diện tích nhà ở chật hẹp; Bảng 10 và Hộp 3 phản ánh mức độ thiếu thốn về trang thiết bị sinh hoạt thiết yếu. Khó khăn khi tiếp cận dịch vụ y tế được phân tích tương quan qua Biểu 6 (theo nhóm tuổi), Biểu 7 (theo trình độ học vấn) và Biểu 8 (theo hình thức hợp đồng lao động). Hộp 4 phản ánh các ý kiến định tính về khó khăn trong tiếp cận nhà ở công nhân.
  • Đời sống văn hóa tinh thần và quan hệ xã hội: Bảng 8 thống kê các khó khăn khi tham gia hoạt động văn hóa; Hộp 5 ghi nhận thông tin về chính sách khu vui chơi giải trí cho công nhân; Biểu 9, 10, 11 phản ánh phương thức, tần suất liên lạc với gia đình và việc về thăm quê của lao động di cư.

Chương 4: Các yếu tố chi phối cuộc sống của những bà mẹ công nhân đơn thân ở khu công nghiệp Sóng Thần, tỉnh Bình Dương

Chương 4 kiểm định các mối liên hệ giữa điều kiện sống và các yếu tố tác động:

  • Nhóm yếu tố nhân khẩu - xã hội và hoàn cảnh gia đình: Tác giả phân tích sự chi phối của nhóm tuổi đến loại hình nhà ở (Biểu 12) và diện tích nhà ở (Biểu 16); trình độ học vấn chi phối diện tích nhà ở (Biểu 17); trình độ chuyên môn kỹ thuật chi phối diện tích nhà ở (Biểu 18); nguồn gốc xuất thân gia đình tác động đến diện tích nhà ở (Biểu 19); hoàn cảnh gia đình tác động đến loại hình nhà ở (Bảng 11).
  • Nhóm yếu tố việc làm và chính sách doanh nghiệp: Tác động của nơi làm việc đến tình trạng nhà ở (Biểu 13) và diện tích nhà ở (Biểu 20); tình trạng hợp đồng lao động ảnh hưởng đến điều kiện nhà ở (Biểu 14); mức thu nhập hàng tháng quy định chất lượng nhà ở (Biểu 15); số năm thâm niên làm việc tác động đến diện tích nhà ở (Biểu 21).
  • Yếu tố thực thi chính sách tại cơ sở: Phân tích dữ liệu phỏng vấn sâu qua Hộp 6 (Doanh nghiệp với việc thực hiện chính sách) và Hộp 7 (Vấn đề thực thi chính sách), làm rõ những hạn chế trong việc triển khai các thiết chế hỗ trợ công nhân nuôi con nhỏ tại các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần bổ sung nhận thức lý luận cho chuyên ngành xã hội học gia đình, xã hội học giới và xã hội học lao động ở Việt Nam: nhìn nhận gia đình mẹ đơn thân như một dạng thức gia đình độc lập trong xã hội hiện đại, thay đổi định kiến xem đây là "gia đình lệch lạc" hoặc "gia đình khuyết tật".
  2. Kiểm chứng khả năng ứng dụng các quan điểm lý thuyết xã hội học thực chứng và lý thuyết chính sách xã hội vào việc nghiên cứu một nhóm xã hội yếu thế đặc thù là nữ công nhân lao động di cư làm mẹ đơn thân tại các KCN.
  3. Làm rõ khái niệm, đặc điểm và xây dựng khung phân tích về cuộc sống của bà mẹ công nhân đơn thân dưới góc độ an sinh xã hội.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn

  1. Đây là công trình nghiên cứu thực nghiệm xã hội học đầu tiên về đối tượng bà mẹ đơn thân là công nhân tại các KCN ở Việt Nam. Khảo sát cung cấp bức tranh thực tế về nhân khẩu học, việc làm, điều kiện cư trú, mức thu nhập và đời sống tinh thần của nhóm đối tượng này tại địa bàn KCN Sóng Thần (Bình Dương).
  2. Chỉ ra các yếu tố chi phối đời sống của bà mẹ công nhân đơn thân, bao gồm tính chất di cư, rào cản học vấn, chuyên môn thấp, mức thu nhập bấp bênh và sự thiếu hụt mạng lưới hỗ trợ thân tộc.
  3. Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm phục vụ việc hoạch định chính sách cho các cơ quan quản lý nhà nước, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dương nhằm hoàn thiện các chính sách an sinh xã hội, bảo vệ quyền của lao động nữ.

Các kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Hoàn thiện chính sách pháp luật: Đề xuất cơ quan có thẩm quyền mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách trợ cấp xã hội của Nghị định 67/2007/NĐ-CP, bổ sung nhóm phụ nữ đơn thân nuôi con nhỏ có thu nhập thấp làm việc tại các KCN, không bó hẹp trong tiêu chuẩn hộ nghèo truyền thống.
  • Phát triển nhà ở và dịch vụ xã hội: Kiến nghị chính quyền địa phương và các KCN quy hoạch quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội cho thuê với giá ưu đãi; thực hiện nghiêm Chỉ thị 09/CT-TTg về xây dựng trường mẫu giáo, nhà trẻ gần KCN phục vụ con công nhân.
  • Nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp: Yêu cầu các doanh nghiệp thực hiện đúng Nghị định 85/2015/NĐ-CP và Bộ luật Lao động 2012; bố trí phòng vắt trữ sữa, giảm giờ làm cho phụ nữ nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; xem xét hỗ trợ phụ cấp nuôi con nhỏ cho lao động đơn thân.
  • Phát huy vai trò của tổ chức Công đoàn: Đẩy mạnh thành lập công đoàn cơ sở; xây dựng mạng lưới xã hội hỗ trợ mẹ đơn thân; tổ chức các chương trình tư vấn pháp lý, chăm sóc sức khỏe sinh sản và sinh hoạt văn hóa tinh thần định kỳ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  1. Nguồn tài liệu quốc tế: Các công trình khoa học quốc tế chuyên sâu về chủ đề mẹ đơn thân được dịch sang tiếng Việt còn hạn chế. Do năng lực tiếp cận tài liệu tiếng Anh và tiếng Trung của tác giả ở mức độ nhất định nên phạm vi tài liệu ngoại văn đưa vào tổng quan còn khiêm tốn.
  2. Khó khăn trong khảo sát thực địa: Quá trình điều tra bảng hỏi và phỏng vấn sâu gặp trở ngại do một số bà mẹ đơn thân trong danh sách mẫu từ chối trả lời vì e ngại định kiến xã hội hoặc mặc cảm về hoàn cảnh riêng. Nhóm nghiên cứu đã phải tiếp cận thuyết phục nhiều lần và bổ sung mẫu thay thế để đảm bảo đủ dung lượng mẫu theo thiết kế.
  3. Phạm vi địa bàn: Luận án mới giới hạn khảo sát thực nghiệm tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương (tập trung ở KCN Sóng Thần 1, Sóng Thần 2, Bình Đường) với quy mô 150 phiếu bảng hỏi, chưa mở rộng so sánh sang các địa bàn công nghiệp khác trên toàn quốc.

Hướng nghiên cứu tiếp

  1. Mở rộng địa bàn nghiên cứu so sánh đời sống của bà mẹ công nhân đơn thân giữa các vùng kinh tế trọng điểm (phía Bắc, miền Trung và phía Nam) để nhận diện sự khác biệt theo bối cảnh văn hóa vùng miền.
  2. Thực hiện các nghiên cứu theo chiều dọc (longitudinal studies) theo dõi sự phát triển tâm lý, học vấn và quá trình xã hội hóa của trẻ em lớn lên trong các gia đình công nhân đơn thân tại các KCN.

Giá trị tham khảo

  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Xã hội học gia đình, Xã hội học lao động, Xã hội học giới và Công tác xã hội. Cung cấp khung phân tích và bộ công cụ điều tra thực nghiệm (bảng hỏi, đề cương phỏng vấn sâu) về nhóm gia đình đặc thù.
  • Đối với các nhà hoạch định chính sách xã hội: Cung cấp các bằng chứng thực tiễn về khoảng trống an sinh xã hội đối với nhóm lao động nhập cư đơn thân; hỗ trợ các bộ, ngành liên quan trong quá trình sửa đổi Luật Bình đẳng giới, Luật Bảo hiểm xã hội và các chính sách trợ giúp xã hội.
  • Đối với tổ chức Công đoàn: Tài liệu cung cấp số liệu thực tế giúp Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Liên đoàn Lao động tỉnh Bình Dương xây dựng các chương trình chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, xây dựng thiết chế công đoàn, trường mầm non và nhà ở cho công nhân KCN.
  • Đối với doanh nghiệp sử dụng lao động: Gợi mở việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thông qua các chính sách nội bộ hỗ trợ lao động nữ đơn thân nuôi con, góp phần giảm tỷ lệ biến động lao động.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát thực địa trên cỡ mẫu bao nhiêu và tại các doanh nghiệp cụ thể nào?

Khảo sát định lượng được thực hiện trên mẫu 150 bà mẹ công nhân đơn thân được lựa chọn ngẫu nhiên bằng phương pháp bốc thăm từ danh sách mã hóa gồm 774 mẹ đơn thân tại các doanh nghiệp KCN Sóng Thần. Khảo sát tiến hành tại 6 công ty: Yazaki, Asama, Chutex, O’leer, Duy Hưng và Liên Phát. Khảo sát định tính phỏng vấn sâu 40 người (gồm 10 cán bộ ban ngành, công đoàn, doanh nghiệp và 30 nữ công nhân đơn thân).

2. Khoảng trống chính sách an sinh xã hội đối với bà mẹ công nhân đơn thân được tác giả chỉ ra là gì?

Hệ thống pháp luật hiện hành chưa có văn bản chính sách riêng biệt cho bà mẹ đơn thân. Trợ cấp xã hội theo Nghị định 67/2007/NĐ-CP và Thông tư 09/2007/TT-BLĐTBXH chỉ áp dụng cho người đơn thân thuộc diện hộ nghèo đang nuôi con nhỏ. Nữ công nhân KCN tuy có việc làm và thu nhập tiền lương nhưng thu nhập thấp, bấp bênh và chi phí thuê nhà, nuôi con cao thì không thuộc diện hộ nghèo, do đó bị loại khỏi diện thụ hưởng chính sách bảo trợ xã hội.

3. Số liệu thống kê về công nhân và bà mẹ đơn thân tại tỉnh Bình Dương được luận án ghi nhận như thế nào?

Bình Dương có 29 KCN với khoảng 1.000.000 công nhân lao động (lao động ngoài tỉnh chiếm hơn 80%, lao động nữ chiếm khoảng 57%). Trong 410.312 lao động KCN tập trung có 279.000 lao động nữ. Khảo sát của công đoàn ghi nhận 2.584 nữ công nhân đơn thân nuôi con nhỏ, tập trung nhiều nhất tại Dĩ An (774 người), Tân Uyên (562 người), Thuận An (297 người), Bến Cát (225 người) và Thủ Dầu Một (194 người).

4. Phần mềm và kỹ thuật thống kê nào được sử dụng để phân tích dữ liệu định lượng?

Toàn bộ số liệu định lượng thu thập từ 150 phiếu phỏng vấn bảng hỏi được nhập liệu, làm sạch và xử lý bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20.0 (SPSS Version 20.0), sử dụng các kỹ thuật thống kê mô tả, bảng chéo phân tích tương quan giữa các biến nhân khẩu, việc làm với điều kiện nhà ở, y tế và đời sống tinh thần.

5. Nghiên cứu sinh gặp phải khó khăn gì trong quá trình tiếp cận đối tượng khảo sát tại thực địa?

Một số bà mẹ công nhân đơn thân có tên trong danh sách mẫu bốc thăm đã từ chối tham gia trả lời phỏng vấn do tâm lý e ngại việc chia sẻ hoàn cảnh cá nhân và sợ bị đánh giá. Nhóm nghiên cứu đã phải đến thăm nhiều lần để thuyết phục và tiến hành bổ sung mẫu thay thế nhằm đảm bảo cỡ mẫu nghiên cứu.


Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Bảo Trân là công trình xã hội học thực nghiệm chuyên sâu về đời sống của nhóm bà mẹ công nhân đơn thân tại các khu công nghiệp ở Bình Dương dưới lăng kính chính sách xã hội. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ chân dung xã hội, thực trạng khó khăn về nhà ở, việc làm, thu nhập và các rào cản tiếp cận an sinh xã hội của nhóm đối tượng này. Công trình cung cấp hệ thống luận cứ khoa học và thực tiễn xác thực, chỉ ra các khoảng trống thể chế và đề xuất những giải pháp chính sách an sinh xã hội cụ thể nhằm hỗ trợ nhóm lao động nữ yếu thế tại các khu công nghiệp tập trung.