ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây, khi đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, sự phát triển kinh tế - xã hội ngày càng cao thì sự phân hoá giàu nghèo ngày càng rõ nét. Tác động của nền kinh tế thị trường đã dẫn đến sự khác biệt về tình hình tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế của người dân giữa các vùng, miền. Người dân nông thôn, nhất là vùng sâu, biên giới đang có nguy cơ khó tiếp cận với các dịch vụ y tế có chất lượng cao ở tuyến cơ sở, trong khi người dân thành thị và các thành phố lớn thì việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ y tế có chất lượng cao ngày càng dễ dàng. Thực tế có nhiều nơi đã triển khai mô hình khám chữa bệnh tại nhà đạt nhiều kết quả, đem lại lợi ích về kinh tế, xã hội và sức khoẻ cho nhân dân.
Hiển nhiên là ở những nơi này thuận lợi về nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực, vì ở đây có nhiều thầy thuốc chất lượng cao như nhiều nhà khoa học và bác sĩ giỏi…Trong khi tại các vùng nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa thì nguồn lực y tế còn nhiều thiếu thốn, cơ cấu nhân lực vừa thiếu, vừa chưa hợp lý, cơ sở vật chất và trang thiết bị nghèo nàn, lạc hậu. Trước thực trạng đó Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền đã có nhiều chủ trương, giải pháp để củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo và đào tạo lại nhân lực, vì vậy công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân đã được cải thiện ở nhiều địa phương, kể cả vùng sâu, vùng xa. Nhưng thực tế người dân vùng xa xôi hẻo lánh vẫn không được hưởng lợi các dịch vụ y tế của các trạm y tế mang lại vì khoảng cách quá xa. Một số nghiên cứu về nguồn lực y tế gần đây đều nhận định rằng nguồn lực cho các trạm y tế xã hiện nay ở nước ta tương đối tốt, nhưng hoạt động dịch vụ y tế vẫn còn bộc lộ một số tồn tại như sức thu hút để người dân sử dụng dịch vụ y tế còn thấp, không tương xứng với sự đầu tư của Nhà nước và chưa đáp ứng kịp thời với nhu cầu của nhân dân.
Điểm yếu nhất là chất lượng nhân 2 viên y tế thôn bản còn thấp, người dân khó và ít tiếp cận với dịch vụ y tế tuyến xã do khoảng cách xa, đi lại khó khăn. Cán bộ y tế xã ít đem các dịch vụ y tế đến với người dân tại các thôn/bản vì ở những nơi này còn thiếu cơ chế và mô hình hoạt động, thiếu trang thiết bị, thiếu kinh phí…Mặt khác cán bộ y tế xã cũng thiếu năng động và không chủ động đi xuống thôn bản để phục vụ người dân, trong khi trình độ chuyên môn của nhân viên y tế thôn bản không đáp ứng được nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân. Hậu quả là người dân vùng sâu, vùng xa vùng biên giới chưa được Chăm sóc sức khỏe tốt, chưa được cung ứng các dịch vụ y tế của trạm y tế xã .Vậy nên các chỉ số sức khỏe của người dân vùng sâu, vùng xa còn thấp, tạo ra một khoảng cách lớn với người dân ở các vùng đô thị, nông thôn đồng bằng. Huyện Mộc Châu nằm ở phía nam tỉnh Sơn La, giáp tỉnh Hòa Bình.
Huyện có dân số khoảng 11 vạn người, chủ yếu là người dân tộc thiểu số, người Thái 30%, người Mường 12%, người Mông 10%, còn có người một số dân tộc thiểu số khác, người Thái, người Mông sống chủ yếu ở các xã vùng xa xôi hẻo lánh. Người Thái là một dân tộc thiểu số đặc trưng ở vùng Tây Bắc, có những nét văn hóa riêng, có những phong tục tập quán liên quan đến sức khỏe. Trong những năm gần đây, công tác y tế của huyện Mộc Châu có nhiều cố gắng để đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân trong huyện. Các xã của huyện đều có dịch vụ y tế và đủ biên chế theo qui định, khó khăn hàng đầu là thiếu bác sỹ nhất là các xã vùng cao.
Trong khi các xã vùng cao, biên giới của huyện cách rất xa trung tâm, có xã cách huyện gần 100 km. Ở các xã biên giới khoảng cách từ một số bản tới trung tâm xã tới 20 - 30 km.Chính điều này làm cho việc cung ứng dịch vụ của cán bộ y tế xã hay khả năng tiếp cận sử dụng các dịch vụ y tế của người dân rất khó khăn.Câu hỏi đặt ra cho nghành y tế huyện Mộc Châu là thực trạng cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế của người dân tộc Thái ở một số xã vùng sâu, vùng xa, biên giới hiện nay như thế nào? Và khó khăn nào trong việc cung cấp và sử dụng dịch 3 vụ y tế của người dân tộc Thái ở một số xã vùng cao, biên giới của huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La hiện nay và giải pháp nào để tăng cường khả năng cung cấp và sử dụng dịch vụ y tế của người dân tộc Thái ở một số xã vùng cao, biên giới của huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La? Đây chính là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu: "Thực trạng cung ứng và sử dụng dịch vụ y tế của ngƣời Thái ở một số xã vùng cao, biên giới của huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La và đề xuất giải pháp". Với mục tiêu: 1. Đánh giá thực trạng cung ứng và sử dụng dịch vụ y tế của người Thái ở một số xã vùng cao, biên giới của huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La năm 2016 2.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc cung ứng và sử dụng DVYT của người Thái ở một số xã vùng cao, biên giới của huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La và đề xuất giải pháp. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Một số khái niệm và thuật ngữ Dịch vụ y tế: bao gồm tất cả các dịch vụ về chẩn đoán, điều trị bệnh tật và các hoạt động chăm sóc, phục hồi sức khoẻ, bao gồm các dịch vụ y tế cá nhân và các dịch vụ y tế công cộng. Cung ứng dịch vụ KCB y tế: là khả năng mà người sử dụng dịch vụ KCB khi cần có thể đến sử dụng dịch vụ tại nơi cung cấp dịch vụ KCB y tế công lập.
Sử dụng dịch vụ KCB y tế công lập: là những người khi có tình trạng sức khoẻ bất thường hoặc khi có nhu cầu đến KCB, mua thuốc hay sử dụng bất cứ hình thức cung cấp dịch vụ KCB nào do các cơ sở y tế công lập. Thực trạng cung ứng và sử dụng DVYT 1. Thực trạng cung ứng và sử dụng dịch vụ y tế trên thế giới Tại Trung Quốc vào những năm 1960, 1970 đã đạt độ bao phủ 95%, nhưng những rủi ro và nguy cơ về tài chính vẫn rất lớn dẫn đến mất công bằng trong CSSK. Một nghiên cứu tại 30 huyện nghèo cho thấy 33% số hộ thu nhập thấp đã không tìm kiếm dịch vụ KCB trong một khoảng thời gian nhất định so với 16% ở các hộ thuộc nhóm thu nhập cao mặc dù những hộ nghèo có nhu cầu sử dụng dịch vụ KCB cao hơn (nhóm 1/4 số dân nghèo nhất có tỷ lệ mắc bệnh nhiễm khuẩn cao gấp 3 lần so với nhóm 1/4 số dân giàu nhất)[72].
Các nghiên cứu của một số tác giả khác tại các nước đang phát triển cũng cho thấy có sự khác biệt trong việc lựa chọn dịch vụ CSSK giữa các nhóm thu nhập[71]. Ở Philippine, trên 90% phụ nữ ở nhóm nghèo nhất sinh con ở nhà trong khi phụ nữ ở nhóm 20% dân số giàu nhất sinh con tại nhà hộ sinh. Tại Campuchia chỉ có 20% phụ nữ ở nhóm nghèo nhất nhận 5 được sự giúp đỡ của cơ sở y tế trong quá trình sinh đẻ trong khi hơn 80% bà mẹ ở nhóm giàu nhất nhận được sự trợ giúp [75]. Năm 2012, Singapore có tổng cộng 10.
Trung bình cứ 520 người dân thì có 1 bác sĩ. Tỷ lệ y tá (bao gồm hộ sinh) trong dân số là 1:150, với tổng cộng 34.645 nha sĩ, tỉ lệ trong dân số là 1 nha sĩ cho 3.756 giường bệnh ở 25 bệnh viện và trung tâm chuyên khoa ở Singapore[68]. 08 bệnh viện công gồm có 06 bệnh viện đa khoa, một bệnh viện phụ nữ và trẻ em và một bệnh viện tâm thần[66]. Khoảng 70-80% người dân Singapore sử dụng các dịch vụ y tế trong hệ thống của nhà nước.
Tổng chi tiêu của chính phủ đối với y tế công cộng chiếm chỉ 1,6% GDP, tức khoảng 1.104 đô-la Mỹ trên mỗi đầu người, một phần là do chi tiêu của chính phủ cho hệ thống y tế tư nhân là rất thấp. Chính phủ Singapore đảm bảo một hệ thống chăm sóc sức khỏe phổ thông trong đó họ đảm bảo khả năng chi trả cho các dịch vụ y tế của người dân, chủ yếu là thông qua các khoản tiết kiệm bắt buộc, trợ cấp và kiểm soát giá[69]. Singapore kết hợp các khoản tiết kiệm từ việc khấu trừ tiền lương của người dân để trợ cấp cho chương trình bảo hiểm y tế quốc gia có tên là Medisave. Trong Medisave, mỗi công dân sẽ tích góp một nguồn quỹ cá nhân, mỗi quỹ như vậy có thể được sử dụng cho toàn bộ các thành viên trong đại gia đình.
Đa số các công dân Singapore đều có các khoản tiết kiệm lớn trong mô hình này. Một trong ba mức trợ cấp sẽ được bệnh nhân chọn khi họ có vấn đề về sức khỏe[70],[74]. Hiện nay Canada có hệ thống y tế liên bang khá toàn diện, dễ dàng tiếp cận và phần lớn dịch vụ đều miễn phí cho người dân. Tính chất phổ thông, dễ dàng tiếp cận và toàn diện của hệ thống y tế Canada được đảm bảo thông qua nguyên tắc tất cả “người được bảo hiểm” (là cư dân trong một tỉnh) sẽ được hưởng các dịch vụ y tế cần thiết dựa trên nhu cầu của mỗi bệnh nhân hơn là khả năng chi trả của họ[67].
Theo Đạo luật Y tế Canada, chính phủ liên bang 6 sẽ trợ cấp chi phí y tế cho các tỉnh bang tỷ lệ nghịch với tình hình kinh tế của địa phương đó[72]. Thực trạng cung ứng và sử dụng DVYT ở vùng sâu, vùng xa hiện nay ở Việt Nam Từ khi chuyển sang kinh tế thị trường, hoạt động cung ứng DVYT theo phương thức “nhà nước và nhân dân cùng làm”, thực hiện xã hội hoá y tế và đa dạng hoá các loại hình DVYT.