Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THAO T C TƢ DUY CỦA TRẺ 5 - 6 TUỔI 1. Tổng qu n nghiên cứu vấn đề Vấn đề hình thành và phát triển tƣ duy đƣợc rất nhiều nhà tâm lí học quan tâm và nghiên cứu ở những khía cạnh, góc độ khác nhau. Kết quả đã thu đƣợc nhiều thành tựu lớn lao vả về mặt lí luận và phƣơng pháp. Chúng tôi tiếp cận các công trình nghiên cứu tƣ duy theo hai hƣớng: Các công trình nghiên cứu tƣ duy và thao thác tƣ duy của trẻ 5 – 6 tuổi trên thế giới và ở Việt Nam.
Các công trình nghiên cứu về tư duy và thao tác tư duy của trẻ 5 – 6 tuổi trên thế giới 1. Các công trình nghiên cứu về tư duy Vấn đề tƣ duy đƣợc nghiên cứu từ sớm trên nhiều phƣơng diện khác nhau trong đó chủ yếu là phƣơng diện triết học và tâm lý học. Trong lĩnh vực triết học, hoạt động nhận thức nói chung và tƣ duy nói riêng đã đƣợc các nhà triết học cổ đại đã nghiên cứu từ rất sớm, tiêu biểu nhƣ: Hêraclit, Đêmôcrit, Platon hay Arixtốt, G. Trong lĩnh vực tâm lý học, tƣ duy đƣợc hầu hết các nhà tâm lý đề cập đến ở nhiều góc độ khác nhau nhƣ: Nghiên cứu dƣới góc độ bản chất của tƣ duy; nghiên cứu cấu trúc của tƣ duy; nghiên cứu ứng dụng tƣ duy trong mọi mặt đời sống.
Dƣới đây chúng tôi giới thiệu khái quát những hƣớng nghiên cứu tƣ duy theo những vấn đề cơ bản nêu trên. Hướng nghiên cứu bản chất tư duy Nghiên cứu về bản chất của tƣ duy có thể kể ra rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả với các lý thuyết khác nhau nhƣ: V.Wallon, Edward de Bono [25], X.Vƣgốtxki [50], … Những công trình nghiên cứu trên đã giải quyết những vấn đề về bản chất của tƣ duy theo các cách tiếp cận khác nhau.Watson tiếp cận theo tâm 9 lí học hành vi cho rằng, tƣ duy đồng nhất với nói thầm các âm thanh của ngôn ngữ và những phản ứng phi ngôn ngữ [3]; Theo những nhà phân tâm học thì tƣ duy đƣợc coi là động lực vô thức [3]; những nhà tâm lý học Ghestan lại coi tƣ duy là một quá trình biến đổi từ tình huống có vấn đề thành tình huống không có vấn đề [24]. Những nhà tâm lý học theo trƣờng phái Vuxbua đại diện là O. Denxơ đã đánh dấu bƣớc tiến lớn trong nghiên cứu tƣ duy khi cho rằng: tƣ duy là một hành động bên trong, là sự hiểu các quan hệ bản chất của tình huống có vấn đề, là một quá trình vận động của các thao tác trí tuệ nhƣ: phân tích, tổng hợp, trừu tƣợng hóa,… Tuy nhiên, vấn đề bản chất xã hội và logic tâm lí của tƣ duy vẫn chƣa đƣợc các nhà tâm lý học theo trƣờng phái này quan tâm giải quyết [3].
Nhà tâm lý học J.Piaget cho rằng tƣ duy có bản chất thao tác [97]. Đây đƣợc coi là phát hiện quan trọng trong nghiên cứu về tƣ duy và là nghiên cứu ảnh hƣởng đến các nghiên cứu về sau này của của Piaget. Từ đây ông đã đƣa ra hàng loạt các công trình nghiên cứu, những thực nghiệm để tìm ra hai chỉ số quan trọng đánh dấu sự xuất hiện thao tác tƣ duy đó là tính bảo toàn và đảo ngƣợc ở trẻ em cũng nhƣ thời gian xuất hiện chúng. Tuy nhiên, cũng giống nhƣ các nhà tâm lý học Vuxbua, ông bỏ qua sự ảnh hƣởng của yếu tố cảm xúc, yếu tố văn hóa đến sự phát triển tƣ duy.
Để bổ sung cho các lí thuyết trên, L.Vƣgốtxki đã cho ra đời học thuyết lịch sử - văn cho rằng tƣ duy là một quá trình vận động, phát triển và tiến hóa trong những điều kiện văn hóa – xã hội nhất định. Cùng quan điểm với J.Galperin cho rằng bản chất của tƣ duy chính là thao tác tƣ duy [32]. Tuy có sự khác nhau về quan điểm thao tác của J.Galperin nhƣng hai ông đều thống nhất với nhau về quá trình hình thành thao tác là quá trình bắt đầu từ hành động thực tiễn, bên ngoài sau đó chuyển vào trong. Vì vậy việc nghiên cứu mức độ và biện pháp phát triển của các thao tác tƣ duy từ hành động thực tiễn có ý nghĩa to lớn trong việc tìm hiểu và phát triển tƣ duy cho học sinh.
Trong các công trình nghiên cứu của N.Lâytex [57] đã chỉ ra cái bản chất nhất trong tƣ duy con ngƣời là ở chỗ nó cho phép phản ánh những mối liên hệ, quan 10 hệ của sự vật hiện tƣợng trong thế giới xung quanh. Tác giả cũng cho rằng năng lực tƣ duy biểu thị ở khả năng nhận thức lý luận và thực hành của con ngƣời. Rubinstêin cho rằng: “Qúa trình tƣ duy – trƣớc hết là sự phân tích và tổng hợp., từ đó trừu tƣợng hoá và khái quát hoá. Các quy luật của quá trình này trong mối quan hệ tƣơng hỗ của chúng với nhau thực chất là các quy luật cơ bản bên trong của tƣ duy.
Ông khẳng định hoạt động chính là cơ sở cho toàn bộ tƣ duy và hình thành các thao tác tƣ duy cho trẻ cần phải thông qua hoạt động. Hướng nghiên cứu cấu trúc của tư duy Không chỉ nghiên cứu bản chất mà các nhà tâm lí học còn nghiên cứu thành phần cấu trúc của tƣ duy. Nghiên cứu theo hƣớng này có các nhà tâm lý học nhƣ: N. Canbanova- Menle cho rằng tƣ duy gồm hai thành phần: tri thức về đối tƣợng (cái đƣợc phản ánh) và các thao tác tƣ duy (phƣơng thức phản ánh).
Trong đó, tri thức về đối tƣợng phản ánh đƣợc coi là nguyên liệu, là phƣơng tiện để tiến hành các thao tác tƣ duy. Tuy nhiên, tác giả chƣa đề cập đến thao tác vật chất – là một trong những thao tác quan trọng trong việc chuyển tƣ duy từ bình diện bên ngoài và bình diện bên trong.Guilford đã đƣa ra mô hình cấu trúc ba thành phần: các thao tác tƣ duy, nội dung và sản phẩm của tƣ duy. Mặt thao tác gồm các yếu tố, khả năng nhận thức: nhận dạng các sự kiện; trí nhớ; tƣ duy hội tụ (tƣ duy tái tạo); tƣ duy phân kì (tƣ duy sáng tạo); khả năng đánh giá. Mặt nội dung phản ánh: hình ảnh; biểu tƣợng; ý nghĩa; hành vi.
Mặt sản phẩm: đơn vị, các lớp, các mối quan hệ, hệ thống, sự chuyển hóa, ý nghĩa. Không chỉ đƣa ra cấu trúc của tƣ duy, ông còn đƣa ra những bộ trắc nghiệm để đo các thành phần trong cấu trúc đó. Trên cơ sở tổng hợp 3 quan niệm về tƣ duy: tƣ duy là năng lực cá nhân; tƣ duy là thủ thuật tƣ duy, tƣ duy là trình độ chuyên môn.Perkins cho rằng tƣ duy bao gồm cả ba thành phần nêu trên. Vì vậy, tác giả đã đƣa ra giải pháp cho việc dạy tƣ duy cho học sinh bao gồm: vận dụng trí tuệ, lựa chọn phƣơng pháp đúng và dạy 11 thủ thuật tƣ duy.
Việc đƣa ra cấu trúc tƣ duy theo phƣơng pháp phân tích đơn vị theo cách của J.Perkins thuận lợi cho việc đo đạc, lƣợng hóa các yếu tố đó. Tuy nhiên, khó xác định đƣợc ảnh hƣởng của yếu tố xã hội với sự phát triển tƣ duy và khó xác định đƣợc cơ chế hình thành của tƣ duy ở các giai đoạn lứa tuổi khác nhau.Vƣgotxki cho rằng tƣ duy bao gồm tƣ duy bậc thấp và tƣ duy bậc cao. Tƣ duy bậc thấp có cả ở động vật và trẻ em có cấu trúc hai thành phần đó là: các bài toán tƣ duy và các phản ứng của cơ thể. Tƣ duy bậc cao có thêm sự tham gia của ngôn ngữ và các công cụ tâm lý trong các thao tác tƣ duy.
Tác giả cũng khẳng định bản chất xã hội của tâm lý, từ đó đã mở ra hƣớng nghiên cứu nội dung văn hoá - xã hội của tƣ duy. Nhiều công trình nghiên cứu sau này đã chứng minh, trẻ em trong các dân tộc khác nhau, trong các nền văn hoá khác nhau thƣờng có các kiểu tƣ duy khác nhau. Mặc dù đƣa ra nhiều cấu trúc khác nhau nhƣng những công trình nghiên cứu trên đã vạch ra đƣợc các thành phần cơ bản của tƣ duy, từ đó làm sáng tỏ hơn bản chất của tƣ duy và các cấu trúc có những thành phần khác biệt nhƣng hầu hết các nhà tâm lí học đều thừa nhận một thành phần cốt lõi cơ bản trong cấu trúc về tƣ duy đó chính là các thao tác tƣ duy. Vì vậy, hƣớng nghiên cứu phổ biến, chiếm vị trí trung tâm trong các nghiên cứu về tƣ duy đó là nghiên cứu các thao tác tƣ duy.
Hướng nghiên cứu ứng dụng tư duy trong đời sống Hƣớng nghiên cứu này hiện nay đang đƣợc áp dụng rộng rãi và trở thành xu hƣớng mới, phổ biến. Có rất nhiều cuốn sách ứng dụng tƣ duy trong mọi mặt của đời sống từ kinh doanh, quản lý, dạy học. Từ “tƣ duy” đƣợc dùng không ít trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng, trong các lĩnh vực nào ngƣời ta cũng nhắc đến tƣ duy, chẳng hạn nhƣ: “cần đổi mới tƣ duy kinh tế”, “cần đổi mới tƣ duy trong làm việc”, “cần có tƣ duy độc lập”, “cần có tƣ duy sáng tạo”, “cần khắc phục tƣ duy trì trệ”, “làm chủ tƣ duy thay đổi vận mệnh”, “tƣ duy tích cực” “bạn chính là những gì bạn nghĩ”…. Có thể kể ra một số công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học theo hƣớng này nhƣ: Tác giả Kenichi Ohmae của Nhật với tác phẩm Tư duy của chiến lược gia đã 12 đƣa ra những kỹ năng để tƣ duy đạt đƣợc hiệu quả trong kinh doanh [45].
Tác giả Ken Baum đã cho ra đời cuốn: "Tư duy kinh doanh vượt trội". đƣa ra một hệ thống những phƣơng pháp rèn luyện nhằm thay đổi lối mòn tƣ duy giúp tăng hiệu quả trong kinh doanh [44]. Tác giả Tony Buzan cũng đã đƣa ra một công cụ hữu ích để tƣ duy ứng dụng nhiều trong cuộc sống và học tập đó là bản đồ tƣ duy. Hiện nay trong nhiều nhà trƣờng, nhiều cơ quan đã sử dụng phƣơng pháp này để dạy học và làm việc hiệu quả [78] Nhƣ vậy, Tƣ duy đƣợc các nhà tâm lí học nghiên cứu ở rất nhiều cách tiếp cận, nhiều phƣơng diện khác nhau.
Các nghiên cứu đó dù ở khía cạnh nào thì các nhà tâm lí cũng đều thừa nhận một trong những yếu tố cốt lõi nhất của tƣ duy, giúp tƣ duy có thể vận hành đƣợc đó là thao tác tƣ duy. Các nghiên cứu về thao tác tư duy Có rất nhiều công trình nghiên cứu về thao tác tƣ duy. Dƣới đây là một số hƣớng nghiên cứu chính về thao tác tƣ duy.