Tổng quan luận án
Công trình "Thao tác tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc Thái tỉnh Sơn La" được tác giả Đoàn Anh Chung thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Kế Hào và PGS. Lê Minh Nguyệt, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 2018. Luận án thuộc chuyên ngành Tâm lí học chuyên ngành, mã số 9.01.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tư duy giữ vị trí cốt lõi trong đời sống tâm lý cá nhân. Trong tâm lý học phát triển, các công trình trước đây tập trung mô tả bản chất, phân loại tư duy hoặc ứng dụng thao tác tư duy vào việc hình thành biểu tượng và dạy học các môn học cụ thể. Tuy nhiên, quy luật vận động nội tại của bản thân các thao tác tư duy, cơ chế hình thành và biện pháp phát triển thao tác tư duy cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi chưa được nghiên cứu đầy đủ. Thực tiễn giáo dục mầm non tại các vùng nông thôn và miền núi vẫn xuất hiện tình trạng dạy trước chương trình, nhồi nhét kiến thức do thiếu hiểu biết về mức độ phát triển thao tác tư duy thực tế của trẻ. Tại tỉnh Sơn La, người dân tộc Thái chiếm 53% dân số, song việc nghiên cứu thao tác tư duy của trẻ em dân tộc Thái chuẩn bị vào lớp 1 chưa được tiến hành một cách hệ thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xác lập khung lý luận về thao tác tư duy của trẻ em; đánh giá thực trạng mức độ thao tác tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi dân tộc Thái tỉnh Sơn La cùng các yếu tố ảnh hưởng; đồng thời thử nghiệm và đánh giá hiệu quả quá trình tác động hình thành thao tác tư duy theo các bước hình thành hành động trí óc của P. Galperin.
Luận án kiểm định 5 giả thuyết khoa học:
- Đa số trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi dân tộc Thái được nghiên cứu chưa có thao tác bảo toàn và đảo ngược theo lí thuyết của J. Piaget.
- Có sự tương quan thuận giữa thao tác bảo toàn và đảo ngược.
- Không có sự khác biệt về thao tác tư duy của trẻ dân tộc Thái và Kinh trong môi trường trẻ được hoạt động. Có sự khác biệt giữa trẻ dân tộc Thái và Kinh trong môi trường trẻ ít được hoạt động.
- Yếu tố môi trường trong đó trẻ hoạt động ảnh hưởng lớn nhất đến thao tác tư duy của trẻ dân tộc Thái.
- Có thể nâng cao mức độ thao tác tư duy của trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi bằng quy trình các bước hình thành hành động trí tuệ của P. Galperin.
Đối tượng nghiên cứu là mức độ thao tác tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc Thái. Khách thể nghiên cứu gồm 200 trẻ em (105 trẻ dân tộc Thái và 95 trẻ dân tộc Kinh làm nhóm đối chứng), 53 cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, cùng 200 phụ huynh học sinh.
Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung tập trung vào thao tác bảo toàn (số lượng, khối lượng, độ dài, không gian, diện tích) và thao tác đảo ngược (thao tác thuận, thao tác nghịch) theo hướng tiếp cận của J. Piaget; đồng thời nghiên cứu biện pháp phát triển thao tác tư duy theo các bước hình thành hành động trí óc của P. Galperin. Phạm vi không gian được triển khai tại địa bàn thành thị (trung tâm thành phố Sơn La, thị trấn các huyện) và khu vực nông thôn cận thành thị (cách trung tâm từ 2 km đến 7 km) thuộc tỉnh Sơn La.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng kết hệ thống các công trình nghiên cứu về tư duy và thao tác tư duy trên thế giới và tại Việt Nam theo các nhóm nội dung chính:
Về các công trình trên thế giới, hướng nghiên cứu bản chất tư duy ghi nhận quan điểm của J. Watson (đồng nhất tư duy với ngôn ngữ thầm), trường phái phân tâm học (coi tư duy là động lực vô thức), tâm lý học Gestalt (biến đổi tình huống có vấn đề), trường phái Würzburg đại diện bởi O. Selz (tư duy là sự vận động của các thao tác trí tuệ). J. Piaget khẳng định tư duy có bản chất thao tác và chỉ ra hai chỉ số đánh dấu sự xuất hiện thao tác tư duy là tính bảo toàn và tính đảo ngược. L. Vygotsky xây dựng học thuyết lịch sử - văn hóa khẳng định bản chất xã hội của tư duy. P. Galperin đồng nhất bản chất tư duy với thao tác tư duy, chỉ rõ con đường chuyển hóa từ hành động vật chất bên ngoài vào hành động tinh thần bên trong. N. Leites và S. Rubinstein nhấn mạnh hoạt động phân tích, tổng hợp là quy luật nội tại của tư duy.
Ở hướng nghiên cứu cấu trúc tư duy, N. Menchinskaya và Kabanova-Meller xác định hai thành phần gồm tri thức về đối tượng và thủ thuật trí tuệ. J. Guilford đề xuất mô hình cấu trúc ba thành phần gồm thao tác tư duy, nội dung và sản phẩm. D. Perkins chia tư duy thành năng lực cá nhân, thủ thuật tư duy và trình độ chuyên môn. C. Spearman đề xuất mô hình nhân tố chung G và nhân tố riêng S. L. Thurstone đưa ra mô hình 7 nhân tố nhận thức. Hướng nghiên cứu ứng dụng tư duy ghi nhận các công trình của Kenichi Ohmae ("Tư duy của chiến lược gia"), Ken Baum ("Tư duy kinh doanh vượt trội"), Tony Buzan (bản đồ tư duy).
Về thao tác tư duy, các nhà tâm lý học Liên Xô (N. Menchinskaya, A. Leontiev, M. Sharkadov) tập trung vào các thao tác phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa. Các nhà tâm lý học phương Tây (J. Guilford, R. Sternberg, H. Gardner) tiếp cận thao tác tư duy dưới góc độ thao tác trí tuệ xử lý thông tin. Riêng J. Piaget đi sâu vào các cấu trúc thao tác logic - toán học: thao tác phân loại, phân hạng, thay thế và quan hệ, với hai điều kiện tiên quyết là thao tác bảo toàn và đảo ngược. Margaret Donaldson đóng góp luận điểm về sự phụ thuộc của việc giải quyết nhiệm vụ vào ngữ cảnh câu hỏi của trắc nghiệm.
Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu tư duy đại cương được thể hiện qua giáo trình của Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành, Nguyễn Xuân Thức, Bùi Văn Huệ. Nghiên cứu tổng hợp trí tuệ và tư duy có công trình của Nguyễn Kế Hào, Trần Trọng Thủy, Phan Trọng Ngọ, Phạm Thành Nghị, Trần Kiều, Phạm Hoàng Gia. Hướng ứng dụng tư duy vào dạy học ghi nhận các nghiên cứu của Hồ Ngọc Đại (công nghệ giáo dục), Nguyễn Kế Hào, Phan Trọng Ngọ (thay đổi cơ sở định hướng trong dạy học toán và tiếng Việt lớp 1). Trong giáo dục mầm non, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Thạc, Trần Xuân Hương, Đỗ Thị Minh Liên, Đinh Thị Tứ, Huỳnh Văn Sơn, Vũ Thị Lan Anh, Trần Viết Nhi, Trần Thị Ngọc Trâm, Trần Thị Phương đã nghiên cứu tư duy trực quan sơ đồ, biểu tượng số và các thao tác trí tuệ thông qua hoạt động khám phá môi trường xung quanh hoặc làm quen với toán.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận thao tác tư duy theo tâm lý học hoạt động của Liên Xô, ứng dụng riêng lẻ trong từng môn học, chưa có công trình nào đánh giá thực trạng thao tác tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi dựa trên khung lý thuyết của J. Piaget (tính bảo toàn và đảo ngược) đồng thời kết hợp với quy trình các bước hình thành hành động trí óc của P. Galperin để can thiệp thực nghiệm. Luận án giải quyết khoảng trống này trên nhóm khách thể đặc thù là trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc Thái tại tỉnh Sơn La.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp hai lý thuyết cốt lõi trong tâm lý học phát triển và tâm lý học hoạt động:
- Lý thuyết phát triển nhận thức của J. Piaget: Được sử dụng để đánh giá bản chất và mức độ thao tác tư duy. Theo Piaget, thao tác tư duy là hành động tinh thần được chuyển vào bên trong, được rút gọn và có tính chất đảo ngược, bảo toàn. Luận án khảo sát thao tác bảo toàn qua 5 biểu hiện: bảo toàn số lượng, khối lượng, độ dài, không gian, diện tích; và thao tác đảo ngược qua 2 biểu hiện: thao tác thuận và thao tác nghịch.
- Lý thuyết các bước hình thành hành động trí óc của P. Galperin: Được sử dụng làm cơ sở thiết kế quy trình can thiệp thực nghiệm phát triển thao tác tư duy. Bản chất quá trình là sự chuyển hóa từ hành động vật chất, bên ngoài thành hành động tinh thần bên trong thông qua các bước: lập cơ sở định hướng hành động, thực hiện hành động bằng vật thật hoặc mô hình vật chất hóa, chuyển sang ngôn ngữ nói to, rút gọn trong ngôn ngữ thầm và hoàn thiện thành hành động trí óc bên trong.
Nghiên cứu quán triệt 4 nguyên tắc tiếp cận: quan điểm phát triển tâm lý trẻ em, quan điểm hoạt động, quan điểm thực tiễn gắn với môi trường văn hóa - xã hội vùng miền, và quan điểm tiếp cận liên ngành (tâm lý học phát triển, giáo dục học, dân tộc học, văn hóa học).
Hệ thống phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:
- Phương pháp định tính và lý luận: Nghiên cứu phân tích văn bản tài liệu; phương pháp chuyên gia lấy ý kiến đánh giá về tiêu chí và công cụ; phương pháp quan sát hành vi thao tác của trẻ; phương pháp đàm thoại trực tiếp với trẻ trong quá trình giải bài tập trắc nghiệm.
- Phương pháp định lượng và thực nghiệm: Phương pháp trắc nghiệm sử dụng bộ bài tập phát hiện đo mức độ thao tác bảo toàn và đảo ngược; phương pháp điều tra bằng bảng hỏi đối với cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và phụ huynh học sinh; phương pháp thực nghiệm gồm thực nghiệm hành động (đo thao tác qua hành động cụ thể) và thực nghiệm tác động hình thành hành động trí tuệ theo quy trình Galperin (so sánh nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng qua 2 lần tác động).
- Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phần mềm thống kê toán học để tính điểm trung bình, độ lệch chuẩn, phân tích phương sai (ANOVA), kiểm định hệ số tương quan Pearson giữa thao tác bảo toàn và thao tác đảo ngược, phân tích mô hình hồi quy tuyến tính xác định các yếu tố ảnh hưởng.
Nguồn dữ liệu và địa bàn nghiên cứu được thu thập từ 200 trẻ 5 - 6 tuổi (105 trẻ dân tộc Thái, 95 trẻ dân tộc Kinh), 53 cán bộ quản lý và giáo viên, cùng 200 phụ huynh tại 10 trường mầm non trên địa bàn tỉnh Sơn La: Trường Mầm non Chiềng Lề, Hua La, Lò Văn Giá, Tô Hiệu, Bế Văn Đàn, Chiềng Xôm, Hoa Phượng (thành phố Sơn La); Trường Mầm non thị trấn Sông Mã, thị trấn Thuận Châu, thị trấn Quỳnh Nhai.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về thao tác tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về tư duy, cấu trúc tư duy và thao tác tư duy. Luận án định nghĩa tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi là hoạt động nhận thức phản ánh những dấu hiệu chung, khái quát của sự vật, đem lại cho trẻ biểu tượng mới, tri thức mới hoặc khái niệm về sự vật hiện tượng. Khái niệm thao tác tư duy được xác định là hành động tinh thần có nguồn gốc từ hành động nhận thức bên ngoài, được chuyển vào trong đầu, được rút gọn và có tính chất đảo ngược, bảo toàn.
Luận án làm rõ sự khác biệt và điểm tương đồng giữa hai trường phái tâm lý học lớn. Trường phái Xô Viết nghiên cứu thao tác tư duy qua các quá trình phân tích, tổng hợp, so sánh, trừu tượng hóa và khái quát hóa; coi thao tác vừa có dạng vật chất bên ngoài vừa có dạng tinh thần bên trong. Trường phái của J. Piaget phân biệt rạch ròi giữa hành động (action - tác động vật lý bên ngoài) và thao tác (operations - hành động tinh thần bên trong đã được nội hiện và rút gọn); thao tác được nhận diện qua khả năng bảo toàn và tính thuận nghịch (đảo ngược). Tác giả so sánh các cấp độ phát triển tư duy giữa hai hệ thống lý luận:
| Tuổi |
Mức độ tư duy theo Tâm lý học Liên Xô |
Đặc điểm nhận thức |
Mức độ tư duy theo J. Piaget |
Đặc điểm nhận thức |
| 0 - 3 tuổi (Piaget: 0 - 15 tháng/2 tuổi) |
Trực quan hành động |
Hiểu bản chất sự vật dựa trên hành động trực tiếp với vật thật. |
Tư duy giác động |
Hoàn toàn chưa có thao tác, dựa trên phản xạ và thói quen phối hợp phương tiện - mục đích. |
| 3 - 6 tuổi (Piaget: 2 - 6 tuổi) |
Trực quan hình ảnh |
Thực hiện phép thử ngầm dựa trên biểu tượng, hình ảnh, mô hình sơ đồ. |
Tiền thao tác |
Xuất hiện tiền đề thao tác (biểu tượng, ký hiệu), tư duy trực giác, chịu sự chi phối của tri giác trực tiếp. |
| Trên 6 tuổi (Piaget: 6 - 11 tuổi) |
Tư duy logic |
Hiểu bản chất và mối liên hệ của sự vật trên khái niệm. |
Thao tác cụ thể |
Tự do khỏi tri giác bề ngoài, xuất hiện tính đảo ngược, tính bảo toàn, khái niệm nhân quả, không gian, thời gian. |
| Trên 11 tuổi |
Tư duy lý luận trừu tượng |
Suy luận logic hình thức, trừu tượng hóa cấp cao. |
Thao tác hình thức |
Tư duy giả thuyết - diễn dịch, áp dụng logic vào các mệnh đề trừu tượng. |
Từ sự đối sánh này, tác giả luận giải rằng trẻ 5 - 6 tuổi đang ở giai đoạn chuyển tiếp từ tiền thao tác sang thao tác cụ thể. Cơ chế hình thành thao tác tư duy theo Piaget dựa trên sự cân bằng hóa thông qua đồng hóa và điều ứng; còn theo Galperin, thao tác được hình thành thông qua việc diễn tiến qua các bước chuyển hóa từ hành động vật chất bên ngoài vào hành động trí tuệ bên trong.
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả đặc điểm địa bàn nghiên cứu tỉnh Sơn La và quy trình thiết kế công cụ đo. Tác giả phân chia địa bàn nghiên cứu thành hai khu vực: thành thị (trung tâm thành phố Sơn La, trung tâm thị trấn Sông Mã, Thuận Châu, Quỳnh Nhai) và khu vực nông thôn cận thành thị (Hua La, Chiềng Xôm, cách trung tâm từ 2 đến 7 km).
Quy trình khảo sát được tổ chức qua các giai đoạn:
- Giai đoạn nghiên cứu phát hiện: Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm đo mức độ thao tác bảo toàn (bảo toàn số lượng dùng bài tập xếp đồng xu; khối lượng dùng bài tập chia nước vào bình chứa có hình dạng khác nhau; độ dài dùng bài tập que tính; không gian và diện tích) và thao tác đảo ngược (thao tác thuận và thao tác nghịch).
- Xây dựng thang đo và tiêu chí đánh giá: Luận án phân chia mức độ thao tác tư duy của trẻ thành các mức cụ thể dựa trên việc trẻ có hay chưa có tính bảo toàn và đảo ngược, mức độ trẻ phụ thuộc vào hình ảnh tri giác hay đã giải thích được bằng sự đảo ngược/bù trừ.
- Thiết kế thực nghiệm:
- Thực nghiệm hành động: Cho trẻ thao tác trực tiếp trên vật thật để đo mức độ hình thành thao tác thông qua hành động.
- Thực nghiệm tác động theo quy trình Galperin: Tiến hành qua 2 lần thực nghiệm trên các nghiệm thể thuộc nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Nội dung can thiệp bám sát quy trình các bước: định hướng nhận thức, thao tác vật chất hóa đối tượng, diễn đạt bằng lời nói to, chuyển thành lời nói thầm và thu gọn thành thao tác trí tuệ bên trong nhằm hình thành tính bảo toàn và đảo ngược.
Chương 3: Thực trạng thao tác tư duy của trẻ 5 – 6 tuổi người dân tộc Thái tỉnh Sơn La
Chương 3 trình bày các kết quả định lượng thu được từ khảo sát thực trạng và can thiệp thực nghiệm:
- Đánh giá chung về mức độ thao tác tư duy: Số liệu trắc nghiệm trên 200 trẻ (105 trẻ Thái, 95 trẻ Kinh) cho thấy phần lớn trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc Thái chưa hình thành thao tác bảo toàn và đảo ngược; tư duy của các em vẫn mang đậm tính trực quan hình ảnh của giai đoạn tiền thao tác, dễ bị chi phối bởi các biến đổi hình thức bề ngoài của đối tượng.
- Biểu hiện thao tác tư duy: Trong các dạng bài tập, tỷ lệ trẻ đạt mức độ bảo toàn số lượng cao hơn so với bảo toàn khối lượng, diện tích và không gian. Thao tác thuận được trẻ thực hiện tốt hơn so với thao tác nghịch.
- Tương quan giữa thao tác bảo toàn và đảo ngược: Phân tích hệ số tương quan Pearson khẳng định mối tương quan thuận có ý nghĩa thống kê giữa mức độ thao tác bảo toàn và thao tác đảo ngược, minh chứng cho luận điểm lý luận của Piaget rằng tính đảo ngược là điều kiện nền tảng để hình thành tính bảo toàn.
- Phân tích các yếu tố khác biệt (kiểm định ANOVA):
- Theo địa bàn cư trú: Có sự khác biệt rõ rệt về mức độ thao tác tư duy giữa trẻ ở vùng thành thị và trẻ ở vùng nông thôn cận thành thị. Trẻ ở khu vực thành thị đạt kết quả thao tác tư duy cao hơn.
- Theo dân tộc và môi trường hoạt động: Trong môi trường trẻ được tham gia đầy đủ các hoạt động giáo dục và giao lưu văn hóa, sự khác biệt về thao tác tư duy giữa trẻ người Thái và trẻ người Kinh không có ý nghĩa thống kê. Ngược lại, ở môi trường trẻ ít được hoạt động, trẻ người Thái thể hiện mức độ thao tác tư duy thấp hơn trẻ người Kinh.
- Theo giới tính và nghề nghiệp cha mẹ: Phân tích phương sai ANOVA cho thấy nghề nghiệp của cha mẹ và điều kiện chăm sóc giáo dục gia đình có ảnh hưởng đến mức độ biểu hiện thao tác tư duy của trẻ; trong khi yếu tố giới tính không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
- Phân tích hồi quy các yếu tố ảnh hưởng: Mô hình hồi quy xác định môi trường hoạt động giáo dục tại trường mầm non và điều kiện tương tác trong gia đình là các yếu tố có tác động mạnh nhất đến mức độ thao tác tư duy của trẻ dân tộc Thái.
- Kết quả thực nghiệm hành động và thực nghiệm tác động: Kết quả thực nghiệm lần 1 và lần 2 theo quy trình Galperin cho thấy nhóm thực nghiệm có sự gia tăng rõ rệt về tỷ lệ trẻ đạt mức độ có thao tác bảo toàn và đảo ngược so với nhóm đối chứng. Trẻ nhóm thực nghiệm biết sử dụng các công cụ đo, biểu tượng trung gian và lập luận đảo nghịch để nhận biết tính bất biến của sự vật.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã cụ thể hóa khái niệm thao tác tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi trong tâm lý học phát triển; xây dựng bộ tiêu chí và thang đo đánh giá các mức độ thao tác tư duy dựa trên hai thuộc tính cốt lõi là bảo toàn và đảo ngược. Đóng góp lý luận quan trọng của luận án là phân tích và tích hợp thành công quan điểm của J. Piaget (tiêu chí đánh giá bản chất thao tác) với lý thuyết của P. Galperin (quy trình chuyển hóa hành động vật chất thành hành động trí óc), xác lập cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu và can thiệp phát triển thao tác tư duy ở trẻ mầm non.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp bức tranh số liệu thực nghiệm toàn diện về thực trạng mức độ thao tác tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc Thái tại Sơn La trong tương quan so sánh với trẻ dân tộc Kinh. Luận án làm rõ vai trò quyết định của môi trường hoạt động và địa bàn cư trú đối với sự phát triển thao tác tư duy của trẻ dân tộc thiểu số. Kết quả thực nghiệm khẳng định tính khả thi và hiệu quả của quy trình can thiệp theo các bước hình thành hành động trí óc của Galperin trong việc nâng cao thao tác tư duy cho trẻ 5 - 6 tuổi.
Về kiến nghị và giải pháp, luận án đề xuất:
- Đối với các cơ sở giáo dục mầm non: Cần thay đổi phương pháp giáo dục trẻ 5 - 6 tuổi, chuyển từ lối truyền thụ áp đặt kết quả sang tổ chức các hoạt động thực hành, thao tác trên đồ vật cụ thể; tuyệt đối tránh dạy trước chương trình lớp 1 hay nhồi nhét chữ viết, phép tính một cách máy móc.
- Đối với giáo viên dạy trẻ dân tộc thiểu số: Cần nắm vững quy luật chuyển hóa từ hành động bên ngoài vào bên trong theo quy trình Galperin để thiết kế các bài tập rèn luyện tính đảo ngược và tính bảo toàn (số lượng, khối lượng, độ dài...) thông qua trò chơi và hoạt động với đồ vật.
- Đối với gia đình và xã hội: Tạo lập môi trường giao tiếp, tăng cường điều kiện cho trẻ em dân tộc Thái được hoạt động, trải nghiệm và tiếp xúc với các phương tiện giáo dục trực quan nhằm chuẩn bị tâm thế vững chắc trước khi bước vào lớp 1.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi khách thể mới tập trung tại khu vực thành thị và nông thôn cận thành thị (cách trung tâm từ 2 đến 7 km) thuộc tỉnh Sơn La; chưa khảo sát mở rộng đến các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh. Về nội dung, nghiên cứu giới hạn ở các biểu hiện của thao tác bảo toàn và đảo ngược theo khung lý luận của Piaget, chưa đi sâu khảo sát toàn diện các thao tác logic phức tạp khác.
Hướng nghiên cứu tiếp được xác định từ phạm vi trên bao gồm:
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực trạng thao tác tư duy của trẻ em dân tộc Thái tại các địa bàn vùng cao, biên giới có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hơn.
- Nghiên cứu theo dõi dọc sự phát triển thao tác tư duy của trẻ từ giai đoạn 5 tuổi chuyển tiếp sang học kỳ đầu của lớp 1 tiểu học.
- Tiếp tục nghiên cứu ứng dụng quy trình Galperin để hình thành các cấu trúc khái niệm khoa học cụ thể trong các môn học ở giai đoạn đầu tuổi học.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Tâm lý học phát triển, Tâm lý học sư phạm, Giáo dục học mầm non và Giáo dục tiểu học.
- Giảng viên các khoa Tâm lý - Giáo dục, Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học tại các trường đại học sư phạm, đặc biệt là các trường đóng trên địa bàn miền núi như Trường Đại học Tây Bắc.
- Cán bộ quản lý giáo dục mầm non tại các phòng, sở giáo dục và đào tạo vùng dân tộc thiểu số trong việc chỉ đạo chuyên môn chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.
- Giáo viên mầm non trực tiếp chăm sóc, giáo dục trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi.
Các phần có giá trị tham khảo ứng dụng cao trong luận án bao gồm: Hệ thống các bài tập trắc nghiệm đo mức độ thao tác bảo toàn và đảo ngược (Chương 2); bảng tiêu chí phân loại mức độ phát triển tư duy của trẻ; và quy trình thiết kế giáo án thực nghiệm tác động phát triển hành động trí óc theo mô hình Galperin (Chương 2 và Chương 3).
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án căn cứ vào những tiêu chí nào để xác định sự xuất hiện thao tác tư duy ở trẻ 5 - 6 tuổi?
Trả lời: Căn cứ vào lý thuyết của J. Piaget, luận án xác định sự xuất hiện của thao tác tư duy dựa trên hai chỉ số then chốt là thao tác bảo toàn (gồm bảo toàn số lượng, khối lượng, độ dài, không gian, diện tích) và thao tác đảo ngược (thao tác thuận và thao tác nghịch). Một đứa trẻ chỉ được xem là có thao tác tư duy thực sự khi nhận thức thoát ly khỏi sự chi phối của tri giác trực tiếp bề ngoài và thực hiện được các phép bù trừ, đảo ngược trong đầu.
-
Mẫu khách thể nghiên cứu thực trạng của luận án có quy mô và cơ cấu như thế nào?
Trả lời: Khách thể nghiên cứu thực trạng gồm 200 trẻ em 5 - 6 tuổi tại tỉnh Sơn La, trong đó có 105 trẻ dân tộc Thái và 95 trẻ dân tộc Kinh (làm nhóm đối chứng). Ngoài ra, nghiên cứu còn khảo sát 53 cán bộ quản lý, giáo viên mầm non và 200 phụ huynh của chính các em được nghiên cứu tại 10 trường mầm non thuộc thành phố Sơn La và các huyện Sông Mã, Thuận Châu, Quỳnh Nhai.
-
Kết quả kiểm định giả thuyết về sự khác biệt thao tác tư duy giữa trẻ người Thái và trẻ người Kinh cho thấy điều gì?
Trả lời: Phân tích số liệu thực nghiệm khẳng định tính đúng đắn của giả thuyết: Trong môi trường giáo dục mà trẻ được tích cực tham gia các hoạt động nhận thức và giao tiếp, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ thao tác tư duy giữa trẻ dân tộc Thái và trẻ dân tộc Kinh. Sự khác biệt chỉ xuất hiện rõ rệt ở những môi trường trẻ bị hạn chế về điều kiện hoạt động và trải nghiệm.
-
Biện pháp thực nghiệm nâng cao thao tác tư duy trong luận án được tổ chức theo quy trình nào?
Trả lời: Biện pháp thực nghiệm được xây dựng dựa trên lý thuyết các bước hình thành hành động trí tuệ của P. Galperin. Quy trình diễn tiến qua các bước: định hướng nhiệm vụ cho trẻ, cho trẻ thực hiện hành động trên vật thật hoặc mô hình vật chất hóa, yêu cầu trẻ diễn đạt thao tác bằng ngôn ngữ nói to, rút gọn thao tác qua ngôn ngữ thầm và cuối cùng chuyển hóa thành hành động tinh thần đảo ngược bên trong đầu.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Anh Chung đã xây dựng cơ sở lý luận kết hợp giữa lý thuyết thao tác của J. Piaget và quy trình hình thành hành động trí óc của P. Galperin để nghiên cứu tư duy trẻ em. Kết quả khảo sát thực tiễn trên 200 trẻ tại tỉnh Sơn La đã làm rõ thực trạng mức độ thao tác tư duy của trẻ 5 - 6 tuổi người dân tộc Thái, chứng minh vai trò quyết định của môi trường hoạt động đối với sự phát triển tư duy. Thực nghiệm tác động trong luận án khẳng định tính khả thi của quy trình Galperin trong việc hình thành tính bảo toàn và đảo ngược, cung cấp cơ sở khoa học để đổi mới phương pháp giáo dục trẻ chuẩn bị vào lớp 1 vùng dân tộc thiểu số.