Khóa luận tốt nghiệp khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số với giáo viên ở trường tiểu học phương tiến huyện vị xuyên tỉnh hà giang

Khóa luận tốt nghiệp phân tích khó khăn giao tiếp giữa học sinh lớp 4 dân tộc thiểu số và giáo viên tại trường tiểu học Phương Tiến, Hà Giang.

Chuyên ngành

Tâm lý học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2014

74
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ

1.1. Sơ lược lịch sử vấn đề giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số

1.2. Một số vấn đề lý luận giao tiếp và những khó khăn trong giao tiếp

1.2.1. Khó khăn trong giao tiếp

1.2.2. Khó khăn là gì?

1.2.3. Biểu hiện của khó khăn trong giao tiếp

1.2.4. Đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học người dân tộc thiểu số

1.2.4.1. Đặc điểm về ngôn ngữ
1.2.4.2. Đặc điểm về tính cách
1.2.4.3. Đặc điểm về nhận thức

1.3. Khó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh người dân tộc thiểu số với giáo viên

1.3.1. Khái niệm khó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh người dân tộc thiểu số với giáo viên

1.3.2. Biểu hiện khó khăn trong giao tiếp của học sinh người dân tộc thiểu số

1.3.3. Nguyên nhân của khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHÓ KHĂN TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH LỚP 4 NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ VỚI GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯƠNG TIẾN, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

2.1. Sơ lược về khách thể nghiên cứu

2.2. Thực trạng khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số trường Tiểu học Phương Tiến - Vị Xuyên - Hà Giang

2.3. Đánh giá của học sinh về khó khăn trong tâm lý khi giao tiếp với giáo viên trường Tiểu học Phương Tiến - Vị Xuyên - Hà Giang

2.4. Biểu hiện khó khăn tâm lý trong giao tiếp với giáo viên của học sinh

2.5. Nguyên nhân của những khó khăn tâm lý trong giao tiếp với giáo viên của học sinh người dân tộc thiểu số

2.5.1. Nguyên nhân chủ quan

2.5.2. Nguyên nhân khách quan

2.6. Đánh giá của giáo viên về những nguyên nhân gây nên khó khăn trong giao tiếp của học sinh người dân tộc thiểu số

2.6.1. Đánh giá của giáo viên về khó khăn trong giao tiếp của học sinh

2.6.2. Đánh giá của giáo viên về những nguyên nhân gây nên khó khăn trong giao tiếp của học sinh người dân tộc thiểu số

2.6.2.1. Nguyên nhân chủ quan
2.6.2.2. Nguyên nhân khách quan

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC NHỮNG KHÓ KHĂN CỦA HỌC SINH LỚP 4 NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG GIAO TIẾP VỚI GIÁO VIÊN TRƯỜNG TIỂU HỌC PHƯƠNG TIẾN, HUYỆN VỊ XUYÊN, TỈNH HÀ GIANG

3.1. Khắc phục những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số với giáo viên bằng các hoạt động trong giờ học

3.1.1. Tăng cường cho học sinh thực hành, trải nghiệm các tình huống giao tiếp cụ thể (Tăng cường hoạt động giao tiếp)

3.1.2. Xây dựng các tình huống giả định trong dạy học

3.1.3. Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học phù hợp: trò chơi, đố vui

3.2. Khắc phục những khó khăn trong giao tiếp với giáo viên của học sinh người dân tộc thiểu số bằng các hoạt động ngoài giờ học

3.2.1. Tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp

3.2.2. Tổ chức các buổi nói chuyện, lao động, hoạt động chung

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Khó khăn giao tiếp học sinh lớp 4 dân tộc thiểu số

Nghiên cứu tập trung vào khó khăn giao tiếp của học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số tại trường tiểu học Phương Tiến, Vị Xuyên, Hà Giang. Các em gặp nhiều trở ngại trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt, đặc biệt là trong việc hiểu và diễn đạt lời nói. Giao tiếp học sinh với giáo viên bị hạn chế do sự bất đồng ngôn ngữ và văn hóa. Nghiên cứu chỉ ra rằng, học sinh thường cảm thấy e ngại khi giao tiếp với giáo viên, dẫn đến hiệu quả học tập không cao.

1.1. Biểu hiện khó khăn giao tiếp

Các học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số thường gặp khó khăn trong việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt. Các em không chỉ gặp vấn đề trong việc phát âm mà còn trong việc hiểu và diễn đạt ý kiến. Giao tiếp học sinh với giáo viên thường bị gián đoạn do sự thiếu tự tin và sợ mắc lỗi. Ngoài ra, các em cũng gặp khó khăn trong việc sử dụng phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ như cử chỉ, ánh mắt, điệu bộ.

1.2. Nguyên nhân khó khăn giao tiếp

Nguyên nhân chính của khó khăn giao tiếp là sự bất đồng ngôn ngữvăn hóa dân tộc. Học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số thường sống trong môi trường biệt lập, ít có cơ hội tiếp xúc với tiếng Việt. Giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc hiểu và sử dụng ngôn ngữ địa phương của học sinh. Điều này tạo ra rào cản lớn trong tương tác giữa giáo viên và học sinh.

II. Thực trạng giao tiếp tại trường tiểu học Phương Tiến

Tại trường tiểu học Phương Tiến, học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn trong học tập do giao tiếp không hiệu quả. Nghiên cứu cho thấy, các em thường cảm thấy cô lập trong lớp học, không dám phát biểu ý kiến. Giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc truyền đạt kiến thức do sự bất đồng ngôn ngữ. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục tiểu học tại địa phương.

2.1. Đánh giá của học sinh

Theo đánh giá của học sinh, các em thường cảm thấy lo lắng và không tự tin khi giao tiếp với giáo viên. Nhiều em cho biết, họ không hiểu hết những gì giáo viên nói, dẫn đến việc học tập bị gián đoạn. Học sinh cũng gặp khó khăn trong việc diễn đạt ý kiến của mình, đặc biệt là khi phải sử dụng tiếng Việt.

2.2. Đánh giá của giáo viên

Giáo viên tại trường tiểu học Phương Tiến nhận định rằng, học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp. Các em thường không hiểu hết nội dung bài giảng và không dám đặt câu hỏi. Giáo viên cũng gặp khó khăn trong việc sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp để hỗ trợ các em.

III. Biện pháp khắc phục khó khăn giao tiếp

Để khắc phục khó khăn giao tiếp của học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số, nghiên cứu đề xuất một số biện pháp hỗ trợ học sinh. Các biện pháp này bao gồm việc tăng cường giao tiếp học sinh thông qua các hoạt động ngoại khóa, sử dụng phương pháp giảng dạy linh hoạt và tạo môi trường học tập thân thiện. Giáo viên cần được đào tạo thêm về kỹ năng giao tiếp đa văn hóa để hỗ trợ tốt hơn cho học sinh.

3.1. Hoạt động trong giờ học

Các hoạt động trong giờ học như trò chơi, đố vui được đề xuất để tăng cường giao tiếp học sinh với giáo viên. Những hoạt động này giúp học sinh cảm thấy thoải mái hơn khi giao tiếp và cải thiện kỹ năng ngôn ngữ. Giáo viên cũng có thể sử dụng các tình huống giả định để giúp học sinh thực hành giao tiếp.

3.2. Hoạt động ngoài giờ học

Các hoạt động ngoài giờ học như lao động, nói chuyện chung được khuyến khích để tăng cường tương tác giữa giáo viên và học sinh. Những hoạt động này giúp học sinh có cơ hội giao tiếp tự nhiên hơn, từ đó cải thiện kỹ năng ngôn ngữ và sự tự tin.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 người dân tộc thiểu số với giáo viên ở trường tiểu học phương tiến huyện vị xuyên tỉnh hà giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về vấn đề giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số Chƣơng 2. Những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 ngƣời dân tộc thiểu số với giáo viên ở trƣờng Tiểu học Phƣơng Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Một số biện pháp khắc phục những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 ngƣời dân tộc thiểu số với giáo viên ở trƣờng Tiểu học Phƣơng Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.

Kết luận và kiến nghị 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số 1. Ở nước ngoài Giao tiếp là một vấn đề mới trong khoa học nói chung và trong tâm lý học nói riêng. Từ thời cổ Hy Lạp, Socrát (407 - 399 TCN) và Platon (428 -347 TCN) đã nói đến đối thoại nhƣ là sự giao tiếp trí tuệ phản ánh mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời.

Giữa thế kỉ XIX, trong bản thảo Kinh tế - Triết học năm 1884, Các Mác (1818 - 1883) đã bàn về nhu cầu xã hội giữa con ngƣời với con ngƣời trong hoạt động xã hội và tiêu dùng, xã hội loài ngƣời phải giao tiếp thực sự với nhau. Các Mác viết: “Cảm giác và hƣởng thụ của những ngƣời khác cũng trở thành sở hữu của chính bản thân tôi. Cho nên ngoài vũ khí quan trực tiếp ấy hình thành những khí quan xã hội, dƣới hình thức xã hội. Chẳng hạn nhƣ giao tiếp với ngƣời khác cũng đã trở thành khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và một trong những phƣơng thức chiếm hữu sinh hoạt của con ngƣời.

Hơn thế nữa thông qua giao tiếp với ngƣời khác mà có thái độ với chính bản thân mình, mỗi ngƣời tự soi mình”. Đến thế kỉ XX, vấn đề giao tiếp càng đƣợc các nhà triết học, tâm lý học, xã hội học quan tâm nhiều hơn. Gmít (1863-1931) đã đƣa ra thuyết qua lại tƣợng trƣng, ông khẳng định vai trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của con ngƣời, hay nhƣ ta thƣờng nói, con ngƣời chi tồn tại trong xã hội là ngƣời trong cộng đồng khác. 7 Đầu thế kỉ XX, khi nghiên cứu và đề xuất các Phản xạ học, nhà triết học Nga V.Becchurép (1857-1927) trong tác phẩm: “Tâm lý học khách quan” (1907), “Phản xạ học tập thể” (1921),…đã đề cập nhiều về các vấn đề giao tiếp.

Theo ông giao tiếp là ảnh hƣởng tâm lý qua lại giữa ngƣời này với ngƣời kia. Giao tiếp giữ vai trò cơ chế thực hiện hoạt động cùng nhau và hình thành nên chủ thể tập thể của hoạt động đó. Giao tiếp là điều kiện thực hiện giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này đến thế hệ khác. Becchurep cũng nhấn mạnh đến vai trò to lớn của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách.

Mác Tinbubow (1876-1965), một đại diện của triết học hiện sinh và triết học Nhật Bản trong một tác phẩm nổi tiếng của mình dƣới nhan đề: “Tôi và bạn” đã cho rằng tồn tại là đối thoại, sau trở thành nguyên tắc đối thoại, góp phần phát triển lí luận về giao tiếp. Trong giao tiếp hai ngƣời bổ sung cho nhau, chứ không phải thay thế nhau, quan hệ qua lại hai chiều chứ không phải tuân theo một chiều trật tự thứ bậc, đó là hai ngƣời gặp nhau, tồn tại thứ nhất gặp tồn tại thứ hai. Có thể nói, khó khăn tâm lý trong giao tiếp nói chung, trong giao tiếp của học sinh với giáo viên nói riêng đã đƣợc nghiên cứu ở nƣớc ngoài. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên cũng có những đóng góp nhất định nhƣ họ cũng đã phát hiện và nêu ra một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh với giáo viên, đồng thời có đề cập đến một số kỹ thuật giao tiếp mà giáo viên cần phải rèn luyện để đảm bảo cho hoạt động sƣ phạm đạt kết quả tốt.

Ở Việt Nam Vấn đề giao tiếp mới đƣợc nghiên cứu từ cuối những năm 1970 đến những năm 1980. Phạm Minh Hạc đã định nghĩa: “Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa ngƣời ta với nhau”. 8 Theo PGS Hoàng Anh Và PGS Vũ Kim Thành, Giao tiếp sƣ phạm là giao tiếp có tính chất nghề nghiệp giữa giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục, có các chức năng sƣ phạm nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng không khí tâm lý thuận lợi, cùng các quá trình tâm lý khác (chú ý, tƣ duy…) có thể tạo ra kết quả tối ƣu của quan hệ thầy trò, trong nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy cũng nhƣ hoạt động học. Từ khái niệm trên chúng ta thấy, công tác giáo dục và học tập chủ yếu diễn ra trong điều kiện giao tiếp nhƣ: Giảng bài trên lớp, thi cử… không có giao tiếp thì hoạt động của giáo viên và học sinh không đạt đƣợc mục đích giáo dục.

Tác giả Đỗ Long với bài viết: “C.Mac và phạm trù giao tiếp” (1963); Tác giả Trần Trọng Thuỷ với bài: “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981); Tác giả Bùi Văn Huệ với cuốn: “Bàn về vấn đề giao tiếp” (1981); Tác giả Nguyễn Văn Lê với cuốn: “Quy tắc giao tiếp xã hội” (1996) và “Vấn đề giao tiếp”… Tác giả Lê Hƣơng đã đi vào phân tích những trở ngại tâm lý trong công tác quản lý xí nghiệp của các nhà quản lý, chủ yếu thể hiện ở hai mặt: Nhu cầu và hoạt động. Tác giả cũng có những số liệu thực tế để chứng minh cho các trở ngại tâm lý đó. Tác giả Nguyễn Thanh Sơn phân tích những khó khăn của học sinh miền núi khi học các tác phẩm Văn học cổ điển Việt Nam: Tác giả cho rằngnguyên nhân là do vốn văn hoá, vốn sống, vốn hiểu biết của các em hạn chế. Năm 2004, tác giả Nguyễn Văn Thăng nghiên cứu về một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp với giáo viên của học sinh lớp một ngƣời dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.

Tác giả Huyền Phan với bài viết Những trở ngại tâm lý khi giao tiếp đã cho thấy, nhiều khi giao tiếp không đạt mục đích vì bị các trở ngại tâm lý ngăn cản. 9 Nhƣ vậy, qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc, chúng ta có thể khẳng định đƣợc sự cần thiết của giao tiếp trong học tập và cuộc sống. Một số vấn đề lý luận giao tiếp và những khó khăn trong giao tiếp 1. Giao tiếp Giao tiếp là đối tƣợng nghiên cứu của khoa học Tâm lý.

Nhƣng hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về giao tiếp. Mỗi định nghĩa đƣợc dựa trên một qua điểm riêng và có hạt nhân hợp lý của nó. Có thể khái quát các hƣớng nghiên cứu và định nghĩa giao tiếp theo các trƣờng phái tâm lý học tiêu biểu nhƣ sau:  Đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài V.Miaxixev, 1960: Giao tiếp là một quá trình tác động qua lại giữa các nhân cách cụ thể. Giao tiếp chỉ đƣợc thực hiện trong môi trƣờng xã hội.

Trong giao tiếp con ngƣời bộc lộ thái độ với ngƣời khác và với chính mình. Nhờ đó các nhà trị liệu tâm lý mới chuẩn đoán đƣợc các bệnh nhân bằng cách khác nhau rồi kết hợp với các phƣơng pháp khác để trị liệu.Chuccon (Mỹ) chú ý đến khía cạnh hành động, hành vi của giao tiếp xem giao tiếp nhƣ là một sự tác động qua lại trực tiếp lên nhân cách dẫn đến việc hình thành những ý nghĩ, biểu tƣợng chuẩn mực và mục đích hành động.Acgain (Anh) quan niệm: Giao tiếp là quá trình hai mặt của sự thông báo thiết lập sự tiếp xúc, trao đổi thông tin. - Theo quan niệm giao tiếp của các nhà Tâm lý học Liên Xô: Trong một thời gian khá dài khái niệm giao tiếp bị thu hẹp lại. Đại diện là L.Vƣgôtxki cho rằng: Giao tiếp là sự thông báo hoặc là sự quan hệ qua lại một cách thuần tuý giữa ngƣời với ngƣời, nhƣ là một sự trao đổi quan điểm và cảm xúc.Rubintein: Giao tiếp là hình thức liên kết giữa ngƣời với nhau.

10 Bên cạnh quan điểm thu hẹp khái niệm giao tiếp, có một số tác giả lại mở rộng khái niệm giao tiếp: B.V Xôcôlov xem giao tiếp nhƣ là một yếu tố chung có cả ngƣời và động vật, ông cho rằng: “Giao tiếp là sự tác động lẫn nhau giữa những con ngƣời với nhau và những động vật có tâm lý với nhau, nếu thu hẹp hơn thì có thể coi giao tiếp là mối quan hệ giữa con ngƣời và những động vật nuôi trong nhà” [4; 103]. Quan niệm này có xu hƣớng mở rộng khái niệm giao tiếp.Leeonchiev: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tƣơng tác giữa ngƣời này với ngƣời khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phƣơng tiện đặc thù mà trƣớc hết là ngôn ngữ” [9; 35]. Ngoài ra còn có một số khái niệm về giao tiếp sƣ phạm của một số tác giả: A.Lêonchiev trong tác phẩm “Giao tiếp sƣ phạm” đã đƣa ra định nghĩa về GTSP bao quát hơn và nhấn mạnh đƣợc bản chất chức năng của giao tiếp: “GTSP là giao tiếp nghề nghiệp của giáo viên với học sinh trong hoặc ngoài giờ học (Trong qua trình giảng dạy và giáo dục) có những chức năng sư phạm nhất định (nếu giao tiếp là chọn vẹn và tối ưu) nhằm tạo ra bầu không khí thuận lợi cũng như sự tối ưu khác về tâm lý cho quá trình học tập, cho việc xây dựng mối quan hệ giữa thầy và trò, cũng như trong tập thể nội bộ học sinh” [9].Cancalic quan niệm: “GTSP là một hệ thống biện pháp và kỹ năng tác động qua lại. Tâm lý học xã hội một cách có tổ chức giữa giáo viên và học sinh.

Nội dung của nó là trao đổi thông tin, tác động giáo dục, tổ chức quan hệ qua lại thông qua các phương tiện giao tiếp. Ngoài ra, giáo viên còn là người chủ động, người tổ chức và điều khiển quá trình đó” [18].  Đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam Khái niệm giao tiếp cũng đƣợc dùng với nhiều thuật ngữ khác nhau trong các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học ở Việt Nam. 11 Trần Trọng Thuỷ, 1998: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người, qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau [6].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khó khăn giao tiếp học sinh lớp 4 dân tộc thiểu số với giáo viên tại trường tiểu học Phương Tiến, Vị Xuyên, Hà Giang là bài viết phân tích những thách thức trong việc giao tiếp giữa học sinh dân tộc thiểu số và giáo viên tại một trường tiểu học ở Hà Giang. Bài viết nhấn mạnh sự khác biệt ngôn ngữ, văn hóa và phương pháp giảng dạy là những rào cản chính, đồng thời đề xuất các giải pháp để cải thiện tình hình. Đây là tài liệu hữu ích cho giáo viên, nhà quản lý giáo dục và những ai quan tâm đến giáo dục vùng dân tộc thiểu số.

Để hiểu sâu hơn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khả năng nghe hiểu và đọc hiểu tiếng việt của học sinh lớp 4 5 dân tộc thiểu số tại huyện đak đoa tỉnh gia lai, nghiên cứu về kỹ năng ngôn ngữ của học sinh dân tộc thiểu số. Ngoài ra, Khóa luận tốt nghiệp tìm hiểu hứng thú học tập môn tiếng việt của học sinh lớp 4 dân tộc thiểu số tại trường tiểu học qúy hòa lạc sơn hòa bình cung cấp góc nhìn về động lực học tập của các em. Những bài viết này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về giáo dục vùng dân tộc thiểu số.