Mở đầu Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về vấn đề giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số Chƣơng 2. Những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 ngƣời dân tộc thiểu số với giáo viên ở trƣờng Tiểu học Phƣơng Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Một số biện pháp khắc phục những khó khăn trong giao tiếp của học sinh lớp 4 ngƣời dân tộc thiểu số với giáo viên ở trƣờng Tiểu học Phƣơng Tiến, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang.
Kết luận và kiến nghị 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG GIAO TIẾP CỦA HỌC SINH NGƢỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Sơ lƣợc lịch sử vấn đề giao tiếp của học sinh dân tộc thiểu số 1. Ở nước ngoài Giao tiếp là một vấn đề mới trong khoa học nói chung và trong tâm lý học nói riêng. Từ thời cổ Hy Lạp, Socrát (407 - 399 TCN) và Platon (428 -347 TCN) đã nói đến đối thoại nhƣ là sự giao tiếp trí tuệ phản ánh mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời.
Giữa thế kỉ XIX, trong bản thảo Kinh tế - Triết học năm 1884, Các Mác (1818 - 1883) đã bàn về nhu cầu xã hội giữa con ngƣời với con ngƣời trong hoạt động xã hội và tiêu dùng, xã hội loài ngƣời phải giao tiếp thực sự với nhau. Các Mác viết: “Cảm giác và hƣởng thụ của những ngƣời khác cũng trở thành sở hữu của chính bản thân tôi. Cho nên ngoài vũ khí quan trực tiếp ấy hình thành những khí quan xã hội, dƣới hình thức xã hội. Chẳng hạn nhƣ giao tiếp với ngƣời khác cũng đã trở thành khí quan biểu hiện sinh hoạt của tôi và một trong những phƣơng thức chiếm hữu sinh hoạt của con ngƣời.
Hơn thế nữa thông qua giao tiếp với ngƣời khác mà có thái độ với chính bản thân mình, mỗi ngƣời tự soi mình”. Đến thế kỉ XX, vấn đề giao tiếp càng đƣợc các nhà triết học, tâm lý học, xã hội học quan tâm nhiều hơn. Gmít (1863-1931) đã đƣa ra thuyết qua lại tƣợng trƣng, ông khẳng định vai trò của giao tiếp đối với sự tồn tại của con ngƣời, hay nhƣ ta thƣờng nói, con ngƣời chi tồn tại trong xã hội là ngƣời trong cộng đồng khác. 7 Đầu thế kỉ XX, khi nghiên cứu và đề xuất các Phản xạ học, nhà triết học Nga V.Becchurép (1857-1927) trong tác phẩm: “Tâm lý học khách quan” (1907), “Phản xạ học tập thể” (1921),…đã đề cập nhiều về các vấn đề giao tiếp.
Theo ông giao tiếp là ảnh hƣởng tâm lý qua lại giữa ngƣời này với ngƣời kia. Giao tiếp giữ vai trò cơ chế thực hiện hoạt động cùng nhau và hình thành nên chủ thể tập thể của hoạt động đó. Giao tiếp là điều kiện thực hiện giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này đến thế hệ khác. Becchurep cũng nhấn mạnh đến vai trò to lớn của giao tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân cách.
Mác Tinbubow (1876-1965), một đại diện của triết học hiện sinh và triết học Nhật Bản trong một tác phẩm nổi tiếng của mình dƣới nhan đề: “Tôi và bạn” đã cho rằng tồn tại là đối thoại, sau trở thành nguyên tắc đối thoại, góp phần phát triển lí luận về giao tiếp. Trong giao tiếp hai ngƣời bổ sung cho nhau, chứ không phải thay thế nhau, quan hệ qua lại hai chiều chứ không phải tuân theo một chiều trật tự thứ bậc, đó là hai ngƣời gặp nhau, tồn tại thứ nhất gặp tồn tại thứ hai. Có thể nói, khó khăn tâm lý trong giao tiếp nói chung, trong giao tiếp của học sinh với giáo viên nói riêng đã đƣợc nghiên cứu ở nƣớc ngoài. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên cũng có những đóng góp nhất định nhƣ họ cũng đã phát hiện và nêu ra một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp của học sinh với giáo viên, đồng thời có đề cập đến một số kỹ thuật giao tiếp mà giáo viên cần phải rèn luyện để đảm bảo cho hoạt động sƣ phạm đạt kết quả tốt.
Ở Việt Nam Vấn đề giao tiếp mới đƣợc nghiên cứu từ cuối những năm 1970 đến những năm 1980. Phạm Minh Hạc đã định nghĩa: “Giao tiếp là quá trình xác lập và vận hành các quan hệ xã hội giữa ngƣời ta với nhau”. 8 Theo PGS Hoàng Anh Và PGS Vũ Kim Thành, Giao tiếp sƣ phạm là giao tiếp có tính chất nghề nghiệp giữa giáo viên và học sinh trong quá trình giảng dạy và giáo dục, có các chức năng sƣ phạm nhất định, tạo ra các tiếp xúc tâm lý, xây dựng không khí tâm lý thuận lợi, cùng các quá trình tâm lý khác (chú ý, tƣ duy…) có thể tạo ra kết quả tối ƣu của quan hệ thầy trò, trong nội bộ tập thể học sinh và trong hoạt động dạy cũng nhƣ hoạt động học. Từ khái niệm trên chúng ta thấy, công tác giáo dục và học tập chủ yếu diễn ra trong điều kiện giao tiếp nhƣ: Giảng bài trên lớp, thi cử… không có giao tiếp thì hoạt động của giáo viên và học sinh không đạt đƣợc mục đích giáo dục.
Tác giả Đỗ Long với bài viết: “C.Mac và phạm trù giao tiếp” (1963); Tác giả Trần Trọng Thuỷ với bài: “Giao tiếp và sự phát triển nhân cách của trẻ” (1981); Tác giả Bùi Văn Huệ với cuốn: “Bàn về vấn đề giao tiếp” (1981); Tác giả Nguyễn Văn Lê với cuốn: “Quy tắc giao tiếp xã hội” (1996) và “Vấn đề giao tiếp”… Tác giả Lê Hƣơng đã đi vào phân tích những trở ngại tâm lý trong công tác quản lý xí nghiệp của các nhà quản lý, chủ yếu thể hiện ở hai mặt: Nhu cầu và hoạt động. Tác giả cũng có những số liệu thực tế để chứng minh cho các trở ngại tâm lý đó. Tác giả Nguyễn Thanh Sơn phân tích những khó khăn của học sinh miền núi khi học các tác phẩm Văn học cổ điển Việt Nam: Tác giả cho rằngnguyên nhân là do vốn văn hoá, vốn sống, vốn hiểu biết của các em hạn chế. Năm 2004, tác giả Nguyễn Văn Thăng nghiên cứu về một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp với giáo viên của học sinh lớp một ngƣời dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên.
Tác giả Huyền Phan với bài viết Những trở ngại tâm lý khi giao tiếp đã cho thấy, nhiều khi giao tiếp không đạt mục đích vì bị các trở ngại tâm lý ngăn cản. 9 Nhƣ vậy, qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nƣớc, chúng ta có thể khẳng định đƣợc sự cần thiết của giao tiếp trong học tập và cuộc sống. Một số vấn đề lý luận giao tiếp và những khó khăn trong giao tiếp 1. Giao tiếp Giao tiếp là đối tƣợng nghiên cứu của khoa học Tâm lý.
Nhƣng hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về giao tiếp. Mỗi định nghĩa đƣợc dựa trên một qua điểm riêng và có hạt nhân hợp lý của nó. Có thể khái quát các hƣớng nghiên cứu và định nghĩa giao tiếp theo các trƣờng phái tâm lý học tiêu biểu nhƣ sau: Đối với các nhà nghiên cứu nước ngoài V.Miaxixev, 1960: Giao tiếp là một quá trình tác động qua lại giữa các nhân cách cụ thể. Giao tiếp chỉ đƣợc thực hiện trong môi trƣờng xã hội.
Trong giao tiếp con ngƣời bộc lộ thái độ với ngƣời khác và với chính mình. Nhờ đó các nhà trị liệu tâm lý mới chuẩn đoán đƣợc các bệnh nhân bằng cách khác nhau rồi kết hợp với các phƣơng pháp khác để trị liệu.Chuccon (Mỹ) chú ý đến khía cạnh hành động, hành vi của giao tiếp xem giao tiếp nhƣ là một sự tác động qua lại trực tiếp lên nhân cách dẫn đến việc hình thành những ý nghĩ, biểu tƣợng chuẩn mực và mục đích hành động.Acgain (Anh) quan niệm: Giao tiếp là quá trình hai mặt của sự thông báo thiết lập sự tiếp xúc, trao đổi thông tin. - Theo quan niệm giao tiếp của các nhà Tâm lý học Liên Xô: Trong một thời gian khá dài khái niệm giao tiếp bị thu hẹp lại. Đại diện là L.Vƣgôtxki cho rằng: Giao tiếp là sự thông báo hoặc là sự quan hệ qua lại một cách thuần tuý giữa ngƣời với ngƣời, nhƣ là một sự trao đổi quan điểm và cảm xúc.Rubintein: Giao tiếp là hình thức liên kết giữa ngƣời với nhau.
10 Bên cạnh quan điểm thu hẹp khái niệm giao tiếp, có một số tác giả lại mở rộng khái niệm giao tiếp: B.V Xôcôlov xem giao tiếp nhƣ là một yếu tố chung có cả ngƣời và động vật, ông cho rằng: “Giao tiếp là sự tác động lẫn nhau giữa những con ngƣời với nhau và những động vật có tâm lý với nhau, nếu thu hẹp hơn thì có thể coi giao tiếp là mối quan hệ giữa con ngƣời và những động vật nuôi trong nhà” [4; 103]. Quan niệm này có xu hƣớng mở rộng khái niệm giao tiếp.Leeonchiev: “Giao tiếp là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tƣơng tác giữa ngƣời này với ngƣời khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phƣơng tiện đặc thù mà trƣớc hết là ngôn ngữ” [9; 35]. Ngoài ra còn có một số khái niệm về giao tiếp sƣ phạm của một số tác giả: A.Lêonchiev trong tác phẩm “Giao tiếp sƣ phạm” đã đƣa ra định nghĩa về GTSP bao quát hơn và nhấn mạnh đƣợc bản chất chức năng của giao tiếp: “GTSP là giao tiếp nghề nghiệp của giáo viên với học sinh trong hoặc ngoài giờ học (Trong qua trình giảng dạy và giáo dục) có những chức năng sư phạm nhất định (nếu giao tiếp là chọn vẹn và tối ưu) nhằm tạo ra bầu không khí thuận lợi cũng như sự tối ưu khác về tâm lý cho quá trình học tập, cho việc xây dựng mối quan hệ giữa thầy và trò, cũng như trong tập thể nội bộ học sinh” [9].Cancalic quan niệm: “GTSP là một hệ thống biện pháp và kỹ năng tác động qua lại. Tâm lý học xã hội một cách có tổ chức giữa giáo viên và học sinh.
Nội dung của nó là trao đổi thông tin, tác động giáo dục, tổ chức quan hệ qua lại thông qua các phương tiện giao tiếp. Ngoài ra, giáo viên còn là người chủ động, người tổ chức và điều khiển quá trình đó” [18]. Đối với các nhà nghiên cứu Việt Nam Khái niệm giao tiếp cũng đƣợc dùng với nhiều thuật ngữ khác nhau trong các công trình nghiên cứu của các nhà Tâm lý học ở Việt Nam. 11 Trần Trọng Thuỷ, 1998: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa con người với con người, qua đó con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tri giác lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau [6].