Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, cấp tiểu học giữ vai trò nền tảng ban đầu cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người theo Quyết định số 2957/GD - ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục - Đào tạo. Ở lứa tuổi này, hoạt động học tập lần đầu tiên trở thành hoạt động chủ đạo, giúp học sinh tiếp thu hệ thống tri thức và hình thành các kĩ năng học tập cơ bản.

Chương trình môn Tiếng Việt ở trường tiểu học có mục tiêu rèn luyện và phát triển bốn kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết. Trong các phân môn, Tập làm văn giữ vị trí mang tính thực hành toàn diện, tổng hợp và sáng tạo cao. Phân môn này tiếp nối một cách tự nhiên các phân môn khác như Tập đọc, Kuyện từ và câu, Kể chuyện nhằm hình thành cho học sinh năng lực tạo lập văn bản (dưới dạng ngôn bản nói và văn bản viết). Thông qua phân môn Tập làm văn lớp 3, học sinh bước đầu được rèn luyện kĩ năng trình bày văn bản ở nhiều thể loại: miêu tả, kể chuyện, viết thư, tường thuật, kể lại bản in, tập tổ chức cuộc họp, giới thiệu về bản thân và những người xung quanh.

Mặc dù giữ vai trò quan trọng, Tập làm văn là phân môn có độ khó cao đối với học sinh tiểu học do đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa tư duy logic, vốn từ vựng, khả năng quan sát và kĩ năng diễn đạt. Việc khảo sát thực trạng nắm bắt kĩ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3 là cơ sở thực tiễn cần thiết để tìm ra nguyên nhân và đề xuất giải pháp sư phạm thích hợp.

Mục tiêu nghiên cứu: Nghiên cứu nhằm phát hiện thực trạng kĩ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3, phân tích nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó, từ đó đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp sư phạm nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lí luận liên quan đến hoạt động học tập, kĩ năng học tập và các kĩ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3.
  2. Xây dựng hệ thống bài tập nhằm tìm hiểu thực trạng kĩ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3, chỉ ra nguyên nhân của thực trạng đó.
  3. Thử nghiệm một số biện pháp nhằm nâng cao kĩ năng học phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Kĩ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3.
  • Khách thể nghiên cứu: 62 học sinh thuộc hai lớp 3A1 và 3A2 tại Trường Tiểu học Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Phạm vi nghiên cứu: Giới hạn ở việc nghiên cứu kĩ năng nói và kĩ năng viết của học sinh trong phân môn Tập làm văn lớp 3.
  • Giả thuyết khoa học: Kĩ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Đồng Xuân đạt ở mức trung bình và không đồng đều; nguyên nhân chủ yếu do giáo viên chưa chủ động luyện tập để hình thành các kĩ năng học cho học sinh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lí luận dựa trên các lý thuyết tâm lý học sư phạm và giáo dục học tiểu học:

  • Lý thuyết hoạt động học tập: Dựa trên quan điểm của D.B. Elkonin, V.V. Davydov, Bùi Văn Huệ, Lê Văn Hồng và Nguyễn Quang Uẩn. Hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo của học sinh tiểu học, có cấu trúc gồm ba thành tố:
    • Động cơ học tập: Gồm động cơ nhận thức (động cơ bên trong) và động cơ xã hội (nảy sinh bên ngoài).
    • Nhiệm vụ học tập: Cụ thể hóa nội dung học thành mục đích và phương tiện học (phương tiện bên trong là vốn kinh nghiệm, tri thức; phương tiện bên ngoài là đồ dùng học tập).
    • Hành động học tập: Bao gồm hành động phân tích, hành động mô hình hóa và hành động cụ thể hóa.
  • Khái niệm kĩ năng và kĩ năng học tập: Kĩ năng là khả năng vận dụng tri thức đã thu nhận vào thực tiễn để giải quyết nhiệm vụ mới thông qua nỗ lực ý chí. Kĩ năng học tập thể hiện năng lực và phương thức hành động học tập của học sinh. Khóa luận phân định ba bước hình thành kĩ năng:
    • Bước 1: Nhận thức đầy đủ về mục đích, cách thức và điều kiện thực hiện hành động.
    • Bước 2: Quan sát mẫu và làm thử theo mẫu.
    • Bước 3: Luyện tập để thực hiện hành động theo đúng yêu cầu nhằm đạt mục đích đề ra.
  • Đặc điểm tâm lí học sinh lớp 3: Giai đoạn chuyển tiếp với tri giác có chủ định chiếm ưu thế, tư duy trừu tượng phát triển mạnh hơn lớp 2 nhưng vẫn còn dựa nhiều vào hình ảnh trực quan; trí nhớ có chủ định phát triển cùng năng lực tưởng tượng tái tạo.
  • Hệ thống kĩ năng học Tập làm văn lớp 3: Bao gồm kĩ năng nói (độc thoại, đối thoại thông qua 6 loại bài tập: phát âm theo chuẩn, tình huống đóng vai, trả lời theo câu hỏi định hướng, nói theo dàn bài, hội thoại, kể chuyện) và kĩ năng viết văn bản (gồm kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý sơ lược/chi tiết, diễn đạt câu và liên kết đoạn văn).
  • Chương trình và tiến trình dạy học Tập làm văn lớp 3: Khung phân phối gồm 35 tiết/năm (31 tiết thực học, 4 tiết ôn tập; học kì 1 gồm 16 tiết thực học + 2 tiết ôn tập, học kì 2 gồm 15 tiết thực học + 2 tiết ôn tập). Quy trình một tiết học gồm 3 phần: Phần I (Ổn định tổ chức và kiểm tra bài cũ: 3-5 phút); Phần II (Dạy bài mới gồm giới thiệu bài 1-2 phút và hướng dẫn làm bài tập 20-25 phút); Phần III (Củng cố, dặn dò).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả đã kết hợp đồng bộ năm phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp nghiên cứu lí luận: Phân tích, tổng hợp tài liệu chuyên môn về hoạt động học tập, kĩ năng học tập và phương pháp dạy học Tiếng Việt tiểu học.
  2. Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát tinh thần học tập và hành vi học tập của học sinh trong các tiết Tập làm văn tại trường tiểu học.
  3. Phương pháp thực nghiệm: Biên soạn các bài tập kiểm tra để khảo sát thực trạng và tổ chức 3 tiết dạy thử nghiệm sư phạm.
  4. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động: Thu thập, chấm điểm và phân tích trực tiếp vở bài tập, bài kiểm tra nói và viết của học sinh.
  5. Phương pháp xử lí số liệu: Ứng dụng toán thống kê để phân loại mức độ, tính tỉ lệ phần trăm, so sánh đối chiếu giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận

Chương 1 tổng quan các công trình nghiên cứu về kĩ năng theo ba hướng: nghiên cứu đại cương (A. Cruchetxiki), góc độ tâm lý lao động (V. Tebuseva, Trần Trọng Thủy) và hoạt động sư phạm (N. Levitov, Bùi Văn Huệ, Nguyễn Kế Hào, Đặng Thành Hưng, Vũ Trọng Rỹ, Nguyễn Thị Mùi, Nguyễn Minh Hải, Nguyễn Phụ Thông Thái, Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh, Nguyễn Trí).

Chương này phân tích bản chất tâm lý của hoạt động học tập, các giai đoạn hình thành kĩ năng, đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 3 và cấu trúc chương trình Tập làm văn lớp 3. Tác giả chỉ rõ mối quan hệ giữa kĩ năng và kĩ xảo, đồng thời khẳng định việc hình thành kĩ năng nói và viết đòi hỏi học sinh phải nắm vững thao tác phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý và chuyển hóa vốn ngôn ngữ từ các phân môn Tiếng Việt khác vào tạo lập văn bản.

Chương 2: Thực trạng kĩ năng học phân môn Tập làm văn của học sinh lớp 3

Chương 2 trình bày kết quả điều tra thực trạng trên 62 học sinh lớp 3A1 và 3A2 Trường Tiểu học Đồng Xuân qua 4 nhóm kĩ năng bộ phận:

  1. Thực trạng kĩ năng nói: Khảo sát qua đề bài "Kể về một ngày hội mà em biết":

    • Mức 1 (Khá, giỏi): 30 học sinh (chiếm 48.4%).
    • Mức 2 và Mức 3 (Trung bình, yếu, kém): 32 học sinh (chiếm 51.6%).
    • Đặc điểm: Nhiều học sinh nói ấp úng, trả lời thụ động theo từng câu hỏi gợi ý của giáo viên, thiếu liên kết ý, thiếu tự tin trước tập thể hoặc có kĩ năng diễn đạt nhưng thiếu khả năng quan sát thực tế.
  2. Thực trạng kĩ năng xác định yêu cầu của bài viết: Khảo sát qua đề bài "Viết về một trận thi đấu thể thao":

    • Mức 1 (Đúng trọng tâm, đủ ý): 26 học sinh (chiếm 41.9%).
    • Mức 2 (Đúng trọng tâm nhưng thiếu nhiều ý): 29 học sinh (chiếm 46.8%).
    • Mức 3 (Xác định sai yêu cầu đề): 7 học sinh (chiếm 11.3%).
  3. Thực trạng kĩ năng lập dàn ý: Khảo sát bằng bài tập lập dàn ý và bài tập phục hồi dàn ý từ bài văn mẫu:

    • Mức 1 (Lập dàn ý tương đối đầy đủ, hợp lý): 27 học sinh (chiếm 43.5%).
    • Mức 2 và Mức 3 (Thiếu ý quan trọng hoặc chưa lập được): 35 học sinh (chiếm 56.5%).
    • Đặc điểm: Học sinh thao tác chuyển từ bài văn mẫu thành dàn ý tốt hơn là tự thiết lập dàn ý mới; đa số chưa có thói quen lập dàn ý trước khi viết đoạn văn.
  4. Thực trạng kĩ năng viết đoạn văn: Khảo sát qua yêu cầu viết đoạn văn từ 5 đến 7 câu đề tài "Viết về một trận thi đấu thể thao":

    • Mức 1 (Khá, giỏi): 24 học sinh (chiếm 38.7%).
    • Mức 2 và Mức 3 (Trung bình, yếu, kém): 38 học sinh (chiếm 61.3%).
    • Đặc điểm: Học sinh thường viết câu mở đoạn và kết đoạn tốt hơn các câu phát triển đoạn; phần thân đoạn hay mắc lỗi liệt kê dài dòng, lủng củng, lặp từ, thiếu mạch lạc và thiếu cảm xúc.

Tác giả chỉ ra các nguyên nhân chính của thực trạng: học sinh nhanh nản do hứng thú chưa bền vững; thói quen ỷ lại, sao chép tùy tiện sách văn mẫu; vốn từ vựng tích lũy từ các phân môn khác (Tập đọc, Luyện từ và câu) còn hạn chế; giáo viên chưa khắc sâu kĩ năng lập dàn ý và phương pháp tạo lập văn bản độc lập.

Chương 3: Thử nghiệm biện pháp nâng cao kĩ năng học phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 3

Chương 3 đề xuất hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm và tiến hành dạy thử nghiệm 3 tiết (2 tiết dạy viết, 1 tiết dạy nói):

  • Biện pháp 1: Tăng cường hướng dẫn học sinh học và tích lũy vốn kiến thức văn qua các phân môn Tiếng Việt khác (học cách miêu tả, dùng từ nghệ thuật từ phân môn Tập đọc; học cách dùng từ, đặt câu, mở rộng vốn từ từ phân môn Luyện từ và câu; rèn kĩ thuật viết và liên kết câu trong đoạn).
  • Biện pháp 2: Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh thông qua phương pháp đặt tình huống có vấn đề, thảo luận nhóm và trò chơi học tập.
  • Biện pháp 3: Tăng cường các hoạt động tham quan thực tế, tìm hiểu thiên nhiên, quan sát đời sống và đọc sách báo tại thư viện trường.

Chương trình thử nghiệm được triển khai với lớp thử nghiệm là 3A2 (30 học sinh) và lớp đối chứng là 3A1 (32 học sinh). Kết quả chấm bài theo thang điểm 10 cho thấy sự tiến bộ rõ rệt ở lớp thực nghiệm ở cả hai kĩ năng nói và viết đoạn văn.


Kết quả và đóng góp

Kết quả khảo sát thực trạng và thử nghiệm sư phạm

Nghiên cứu cung cấp số liệu thực nghiệm chi tiết chứng minh tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất:

Nội dung đánh giá Mức điểm / Xếp loại Lớp thử nghiệm - 3A2 (n=30) Lớp đối chứng - 3A1 (n=32)
Kĩ năng nói (Bài "Kể về lễ hội") Điểm 9 - 10 (Giỏi) 26.67% 21.88%
Điểm 7 - 8 (Khá) 53.33% 46.88%
Điểm 5 - 6 (Trung bình) 16.67% 21.88%
Dưới điểm 5 (Yếu, kém) 3.33% 9.38%
Kĩ năng viết đoạn văn (Bài "Viết thư") Điểm 9 - 10 (Giỏi) 13.33% 9.38%
Điểm 7 - 8 (Khá) 43.33% 37.50%
Điểm 5 - 6 (Trung bình) 36.67% 40.63%
Dưới điểm 5 (Yếu, kém) 6.67% 12.50%

Ở cả hai nội dung, tỉ lệ học sinh đạt loại khá, giỏi ở lớp thử nghiệm đều cao hơn lớp đối chứng (kĩ năng nói đạt 80.00% so với 68.75%; kĩ năng viết đạt 56.66% so với 46.88%), đồng thời tỉ lệ học sinh trung bình và dưới trung bình ở lớp thử nghiệm giảm đáng kể so với lớp đối chứng.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với giáo viên:
    • Thường xuyên bồi dưỡng, đổi mới phương pháp giảng dạy, lấy học sinh làm trung tâm.
    • Không chỉ dừng lại ở việc cung cấp kiến thức văn học mà phải chú trọng rèn luyện đồng bộ kĩ năng nhận diện đề, lập dàn ý và kĩ thuật liên kết câu.
    • Tích hợp chặt chẽ việc dạy Tập làm văn với phân môn Tập đọc và Luyện từ và câu.
    • Tổ chức hoạt động trải nghiệm, quan sát thực tế và hướng dẫn học sinh khai thác thư viện trường.
  • Đối với học sinh:
    • Tích cực, chủ động tư duy trong học tập, chấm dứt việc sao chép thụ động từ sách văn mẫu.
    • Chuẩn bị bài đầy đủ, chủ động tích lũy vốn từ và hình thành thói quen lập dàn ý trước khi viết bài.

Đóng góp của đề tài

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kĩ năng học Tập làm văn của học sinh lớp 3 dưới góc độ tâm lý học sư phạm và giáo dục tiểu học.
  • Phản ánh cụ thể thực trạng năng lực nói và viết đoạn văn của học sinh lớp 3 thông qua các dẫn chứng bài làm thực tế và số liệu định lượng tại địa bàn nghiên cứu.
  • Khẳng định tính khả thi của mô hình tích hợp liên phân môn trong môn Tiếng Việt và các biện pháp kích thích tính chủ động sáng tạo nhằm nâng cao kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế

  • Mẫu khảo sát và thử nghiệm chỉ thực hiện trên phạm vi hẹp gồm 62 học sinh của 2 lớp thuộc Trường Tiểu học Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
  • Quá trình dạy thử nghiệm sư phạm chỉ được tiến hành trong thời lượng 3 tiết học, chưa theo dõi được sự biến đổi kĩ năng trong suốt năm học.
  • Đề tài tập trung vào kĩ năng nói và viết đoạn văn ngắn (5-7 câu), chưa khảo sát toàn bộ các dạng bài văn bản hành chính thông thường khác trong chương trình.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng quy mô khảo sát trên nhiều trường tiểu học thuộc các địa bàn khác nhau (thành thị, nông thôn, miền núi).
  • Nghiên cứu quá trình hình thành kĩ năng tạo lập văn bản của học sinh theo tiến trình dài hạn từ lớp 3 lên các lớp 4 và 5.
  • Xây dựng hệ thống bài tập thực hành liên phân môn chuẩn hóa nhằm hỗ trợ giáo viên tiểu học rèn kĩ năng viết đoạn văn theo định hướng phát triển năng lực.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên chuyên ngành Giáo dục Tiểu học và Tâm lý học sư phạm tham khảo phương pháp thiết kế công cụ đo lường thực trạng và quy trình tổ chức thực nghiệm dạy học.
    • Giáo viên tiểu học trực tiếp giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 3 có thể tham khảo quy trình rèn kĩ năng lập dàn ý và cách thức tích hợp rèn kĩ năng viết qua các bài Tập đọc, Luyện từ và câu.
    • Cán bộ quản lý chuyên môn cấp tiểu học tham khảo để định hướng sinh hoạt chuyên môn về đổi mới phương pháp dạy Tập làm văn.
  • Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
    • Tiêu chí đánh giá 3 mức độ cho kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý và viết đoạn văn.
    • Phương pháp phân tích lỗi viết đoạn văn của học sinh (lỗi lặp từ, lỗi thiếu câu kết đoạn, lỗi liên kết logic giữa các câu phát triển đoạn).
    • Quy trình 4 bước rèn luyện viết đoạn văn: Xác định vị trí, nội dung và chọn mô hình đoạn -> Viết câu mở đoạn -> Viết các câu triển khai -> Viết câu kết thúc đoạn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu trên khách thể và địa bàn cụ thể nào?

Khóa luận thực hiện nghiên cứu trên 62 học sinh thuộc hai lớp 3A1 và 3A2 tại Trường Tiểu học Đồng Xuân, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc vào tháng 5 năm 2014, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Lê Xuân Tiến (Khoa Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2).

2. Tác giả khảo sát thực trạng kĩ năng của học sinh qua những đề bài cụ thể nào?

Tác giả đã thiết kế và sử dụng các đề bài cụ thể:

  • Khảo sát kĩ năng nói: Đề bài "Kể về một ngày hội mà em biết".
  • Khảo sát kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý và viết đoạn văn: Đề bài "Viết về một trận thi đấu thể thao", kết hợp với bài tập chuyển đổi từ bài văn mẫu sang dàn ý chi tiết.

3. Nguyên nhân chủ yếu khiến học sinh lớp 3 gặp khó khăn khi viết các câu phát triển đoạn văn là gì?

Theo phân tích của tác giả, học sinh viết câu mở đoạn và kết đoạn tốt hơn vì các câu này ngắn và ít nội dung. Khi viết các câu phát triển đoạn, học sinh lúng túng do vốn từ nghèo nàn, chưa biết cách liên kết câu logic, hay mắc lỗi liệt kê dài dòng, lặp từ, chưa xác định được ý trọng tâm và chưa có thói quen lập dàn ý trước khi viết.

4. Tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nào để học sinh tích lũy vốn văn từ các phân môn Tiếng Việt khác?

Tác giả đề xuất 3 hướng tích lũy cụ thể:

  • Từ phân môn Tập đọc: Hướng dẫn học sinh phát hiện chi tiết hay, hình ảnh đẹp, biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hóa và từ ngữ gợi hình, gợi cảm để học tập cách miêu tả, kể chuyện.
  • Từ phân môn Luyện từ và câu: Gắn lý thuyết với thực hành, hướng dẫn học sinh dùng từ đồng nghĩa, từ láy để tránh lặp từ và nắm chắc quy tắc ngữ pháp, kết cấu chủ - vị, dùng dấu câu.
  • Rèn kĩ thuật đoạn văn: Hướng dẫn quy trình 4 bước lập mô hình đoạn, viết câu mở đoạn, các câu triển khai và câu kết thúc có liên kết chặt chẽ.

5. Kết quả thử nghiệm sư phạm giữa lớp thử nghiệm và lớp đối chứng có sự khác biệt như thế nào?

Sau 3 tiết dạy thử nghiệm, lớp thử nghiệm (3A2) đạt kết quả vượt trội so với lớp đối chứng (3A1): ở kĩ năng nói, tỉ lệ điểm khá - giỏi của lớp thử nghiệm đạt 80.00% (so với 68.75% của lớp đối chứng); ở kĩ năng viết, tỉ lệ điểm khá - giỏi của lớp thử nghiệm đạt 56.66% (so với 46.88% của lớp đối chứng), đồng thời tỉ lệ học sinh dưới trung bình ở lớp thử nghiệm thấp hơn lớp đối chứng ở cả hai bài kiểm tra.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Nhung đã làm sáng tỏ cơ sở lí luận và bức tranh thực trạng về kĩ năng nói và viết phân môn Tập làm văn của 62 học sinh lớp 3 Trường Tiểu học Đồng Xuân (Phúc Yên, Vĩnh Phúc). Bằng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thống kê định lượng, tác giả đã chỉ rõ các nguyên nhân tâm lý - sư phạm dẫn đến những hạn chế trong kĩ năng lập dàn ý và diễn đạt đoạn văn của học sinh. Hệ thống 3 nhóm biện pháp sư phạm đề xuất—đặc biệt là hướng tiếp cận tích hợp liên phân môn và dạy học tích cực—đã được kiểm chứng qua thực nghiệm, mang lại kết quả khả quan và có giá trị ứng dụng thiết thực cho hoạt động giảng dạy phân môn Tập làm văn ở cấp tiểu học.