Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài Ngôn ngữ là thành tựu vĩ đại lớn nhất của loài người. Sự ra đời của ngôn ngữ là thể hiện một chức năng mà nó chính là chức năng giao tiếp. Cao Xuân Hạo đã nhận định: thoạt tiên những nhu cầu thực tiễn của giao tiếp xã hội đặt ra cho con người những nhiệm vụ trao đổi và thông báo cần được thực hiện bằng phương tiện ngôn ngữ và công việc của ngôn ngữ học là tìm hiểu xem những nhiệm vụ ấy được thể hiện bằng những phát ngôn nào, có những quy tắc gì chi phối việc sử dụng những phát ngôn ấy.
Như vậy, mỗi ngôn ngữ được hình dung hai bộ phận: bộ phận sử dụng các yếu tố ngôn ngữ và bộ phận các quy tắc hoạt động của các ngôn ngữ ấy. Trong các bộ phận của các yếu tố ngôn ngữ, câu được xem như một đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc nhất định phù hợp với quy tắc của một thứ tiếng.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài Nói đến vấn đề về câu hẳn ai cũng biết rằng đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới vì ngay khi chữ viết xuất hiện, tiếng nói hình thành thì câu cũng được hình thành theo đó. Trong lịch sử ngôn ngữ học có khá nhiều nghiên cứu định nghĩa về câu khác nhau có thể dẫn ra một số định nghĩa về câu như sau: - Từ thời cổ Hi Lạp, Aristote quan niệm: “Câu là một âm phức hợp có ý nghĩa độc lập mà mỗi bộ phận riêng biệt trong đó cũng có ý nghĩa độc lập”. - Học phái Alecxandri (thế kỉ III - II tr.
CN) đã nêu định nghĩa : “Câu là tổ hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”.105] - Theo Halliday (1985) quan niệm câu là nơi cả ba bình diện của nghĩa đều được thực hiện, theo đó câu thực hiện 3 chức năng cơ bản đó là chức năng ý niệm, chức năng liên nhân và chức năng ngôn bản. Như vậy, một câu có thể đồng thời có ba mô hình cấu trúc không tương hợp nhau về các đơn vị ngôn ngữ trên trục hình tuyến. 16 Những định nghĩa vừa nêu trên mang tính chất sơ lược, đơn giản, dễ hiểu tuy nhiên qua thử thách hàng ngàn năm và cho đến ngày nay vẫn sử dụng nó phổ biến. Và qua các quan niệm đó góp phần có những cống hiến nhất định cho việc nghiên cứu câu sau này.
Ngoài nghiên cứu về câu việc nghiên cứu sự phát triển tư duy của học sinh cũng được nghiên cứu nhiều. Như Alêcxâyep với công trình "Phát triển tư duy học sinh"đã chỉ ra tầm quan trọng của phát triển tư duy học sinh, đồng thời đưa ra những phương pháp, biện pháp nhằm phát triển khả năng tư duy cho học sinh. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về câu như Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết, GS. Lê A, Nguyễn Kim Thản, G.S Đỗ Thị Kim Liên… Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết câu là đơn vị có chức năng thông báo, tức là biểu hiện một thông điệp.
Trong đó, vị ngữ là nòng cốt là “xuất phát điểm” của thông điệp. Cao Xuân Hạo cho rằng “Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản. Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tiếp, nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất”. Nguyễn Kim Thản thì chọn định nghĩa của V.Vinogradov: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo qui tắc của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu thị và truyền đạt tư tưởng.
Trong câu, không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực”. Đỗ Thị Kim Liên, câu được thành lập khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy nhằm mục đích giao tiếp hay bày tỏ thái độ. Chính vì vậy, câu phải có chức năng thông báo, thể hiện: câu mang nội dung thông tin, được dùng để bày tỏ cảm xúc câu tác động đến nhận thức của người nghe. Lê A cũng nghiên cứu định nghĩa về câu, nghiên cứu về sự phân loại, các kiểu câu thường gặp… Đặc biệt ông đã đề cập đến sự phân loại các 17 dạng câu theo mục đích nói và chia ra làm bốn kiểu câu như (câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật, câu nghi vấn) trong đó dạng thức câu trần thuật được ông nghiên cứu rất kĩ.
Ông chỉ ra rõ khái niệm câu trần thuật đó là “Câu trần thuật là kiểu câu có chức năng chính dùng để kể, miêu tả, nhận định một sự kiện, một hiện tượng. Trần thuật là ý nghĩa tình thái trong câu miêu tả hay nhận định một sự kiện hiện tượng. Tất cả các câu đơn, câu ghép trong tiếng Việt đều có thể dùng để trần thuật” [1, tr. Hay Diệp Quang Ban cũng nghiên cứu về dạng câu trần thuật (câu kể - tường thuật) như ông đã chỉ ra định nghĩa tường thuật như sau “Câu tường thuật dùng để kể, xác nhận (là có hay không có) mô tả sự vật với các đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó, là hình thức biểu hiện, thông thường của một phán đoán.
Câu tường thuật được thể hiện bằng thực từ, phụ từ của chúng, sử dụng các tiểu từ tình thái riêng để bày tỏ thái độ với nội dung câu nói, hoặc đối với người nói người nghe nhằm hoàn chỉnh câu, giúp cho câu đứng trước được” [2, tr. Như vậy việc nghiên cứu về câu nói chung và dạng câu trần thuật nói riêng đã được nhiều người nghiên cứu, tuy nhiên phần lớn các tác giả chỉ nghiên cứu các định nghĩa quan điểm về câu, phân loại câu (câu đơn bình thường, câu đơn, câu đặc biệt, câu rút gọn…). Ở trường Tiểu học việc nghiên cứu về các kiểu câu trong chương trình cũng đã có nhiều người đề cập đến tuy nhiên các kiểu câu kể cũng ít được nghiên cứu, cũng có một số đề tài đã được nghiên cứu như “Sử dụng linh hoạt ba kiểu câu kể “Ai là gì?”,“Ai thế nào?”,“Ai làm gì?” hay cũng có đề tài nghiên cứu về việc “Biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 2, lớp 3 nhận diện và sử dụng ba loại câu kể “Ai thế nào?”,“Ai là gì?”, “Ai làm gì?”. Nguyễn Thị Xuân Yến với bài viết “Phát triển tư duy cho học sinh qua dạy học môn Tiếng Việt” đã đề cập đến những phương pháp tổ chức đồng tâm và phát triển.
Phương pháp dạy học hướng vào người học nhằm tôn trọng lợi 18 ích, quyền lợi, sáng tạo cá nhân của HS. Nhờ đó, tư duy của người học sẽ được hình thành và phát triển trong môi trường, điều kiện tốt nhất. Trên đây là những tài liệu quý báu cho tôi trong tiến trình thực hiện đề tài của mình, phát triển tư duy cho học sinh tiểu học là một vấn đề mà đang được các nhà giáo dục quan tâm, đề cập đến nhiều phương diện, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung. Với đề tài này chúng tôi nghiên cứu cụ thể chi tiết hơn trong "Dạy học câu kể " Ai thế nào?"trong môn Tiếng Việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh".
Cơ sở lí luận 1. Giới thuyết chung về câu tiếng Việt 1. Câu tiếng Việt Nói đến khái niệm về câu có rất nhiều định nghĩa khác nhau về câu tiếng Việt, có thể dẫn ra một số định nghĩa về câu tiếng Việt như sau: Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, và có tính chất độc lập. Câu là một ngữ tuyến được hình thành một cách tương đối trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định, là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với hiện thực.
Diệp Quang Ban định nghĩa về câu như sau “Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [2; tr. Như vậy, nhóm tác gỉa trên tập trung chú ý về nghĩa hoàn chỉnh của câu, chú trọng đến cấu tạo ngữ pháp của câu đặc biệt chú ý đến tính chỉnh thể của câu. 19 Tác giả Lê A cũng nghiên cứu về câu và ông đã chỉ ra định nghĩa câu dựa trên hai phương diện đó là: Ở phương diện cấu tạo ngữ pháp, cũng tức là ở bậc trừu tượng, khái quát, câu là đơn vị ngôn ngữ được cấu tạo bởi các đơn vị từ nhỏ (từ, ngữ cố định, cụm từ tự do) theo những quy tắc ngữ pháp nhất định.
Ở phương diện sử dụng, mỗi câu gắn với một tình huống cụ thể, một mục đích giao tiếp cụ thể, biểu hiện một ý nghĩa cụ thể. Câu cụ thể đó được gọi là phát ngôn; phát ngôn chính là câu trong họat động giao tiếp. VD: + Hôm nay, trời mưa to. Tuy có nhiều định nghĩa về câu như vậy song chúng ta hiểu câu với định nghĩa như sau: Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với một ngữ cảnh nhất định, nhằm một mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá.
Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc. Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy câu được chia ra làm 3 nhóm chính: câu theo quan hệ ngữ pháp, câu theo quan hệ ngữ nghĩa và câu theo quan hệ ngữ dụng. Trong đó, đề tài tập trung nghiên cứu nhóm câu theo quan hệ ngữ pháp dụng. Nhóm câu này phù hợp với lứa tuổi tiểu học và được sử dụng phổ biến trong các văn bản tập đọc ở tiểu học.
Đặc điểm của câu Qua những định nghĩa về câu ta có thể thấy câu có hai đặc điểm chính đó là về nội dung và về hình thức như sau: Xét về nội dung: - Câu là sản phẩm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là loại đơn vị không có sẵn trong ngôn ngữ, là kết hợp tự do của những đơn vị có sẵn (từ, cụm từ cố định) hoặc những đơn vị không có sẵn (các kiểu cụm từ tự do).