Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học ngành Giáo dục Tiểu học của tác giả Đỗ Thị Mai Đào (Trường Đại học Hùng Vương, năm 2016) tập trung giải quyết bài toán phát triển năng lực tư duy cho học sinh lớp 3 thông qua dạy học kiểu câu kể "Ai thế nào?" trong môn Tiếng Việt.

Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn

Trong bối cảnh đổi mới giáo dục tiểu học nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao dân trí và phát triển nguồn nhân lực, môn Tiếng Việt giữ vai trò hạt nhân trong việc rèn luyện 4 kỹ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết) và hình thành các thao tác tư duy ban đầu. Đối với học sinh lớp 3, các em đã hoàn thành giai đoạn làm quen chữ viết ở lớp 1 và lớp 2, bước vào giai đoạn tiếp thu tri thức mới nhanh chóng. Tác giả chỉ ra 3 lý do chính dẫn đến việc lựa chọn đề tài:

  1. Kiểu câu kể trong văn bản nghệ thuật phản ánh khả năng nhận thức hiện thực khách quan của nhà văn, nhà thơ. Dạng câu kể "Ai thế nào?" xuất hiện phổ biến trong văn bản văn xuôi và phản ánh tư duy khách quan rõ nét. Nghiên cứu kiểu câu này giúp giáo viên có cơ sở xây dựng hệ thống bài tập theo chủ điểm nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh.
  2. Dạy học câu kể "Ai thế nào?" không chỉ cung cấp tri thức ngữ pháp đơn thuần mà còn giúp học sinh nắm vững cấu trúc, vận dụng linh hoạt vào hoạt động giao tiếp và phát triển 3 phân loại tư duy: tư duy ngôn ngữ, tư duy sự vật (miêu tả) và tư duy hình tượng.
  3. Thực tiễn nghiên cứu ngôn ngữ học sư phạm trước đó chủ yếu tập trung vào lý thuyết câu tiếng Việt nói chung hoặc rèn kỹ năng nhận diện câu trần thuật cơ bản ở tiểu học, chưa có công trình đi sâu nghiên cứu việc dạy học câu kể "Ai thế nào?" gắn với mục tiêu phát triển tư duy học sinh lớp 3.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Xác định đặc điểm cấu tạo, phân loại ngữ pháp và ý nghĩa của dạng câu kể "Ai thế nào?" thông qua các văn bản Tập đọc lớp 3.
  • Xây dựng hệ thống bài tập theo chủ điểm nhằm rèn luyện và phát triển tư duy cho học sinh.
  • Tổ chức thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của các giải pháp đề xuất.

Nhiệm vụ nghiên cứu

Văn bản xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu cơ sở khoa học của đề tài: Tổng quan tài liệu về câu tiếng Việt, câu kể, tư duy và tư duy ngôn ngữ; khảo sát thực tiễn dạy học câu kể "Ai thế nào?" và sự phát triển tư duy của học sinh lớp 3 tại Trường Tiểu học Phong Châu.
  2. Nghiên cứu đặc điểm dạng câu kể "Ai thế nào?" trong các bài Tập đọc lớp 3 để làm rõ sự phân loại, đặc điểm cấu trúc và ý nghĩa phát triển tư duy.
  3. Xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm môn Tiếng Việt lớp 3 nhằm phát triển tư duy cho học sinh.
  4. Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động dạy học câu kể "Ai thế nào?" trong môn Tiếng Việt lớp 3 nhằm phát triển tư duy của học sinh.
  • Phạm vi nội dung: Các văn bản trong phân môn Tập đọc sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 (tập một và tập hai), đồng thời mở rộng tìm hiểu ứng dụng trong các phân môn Luyện từ và câu, Tập làm văn, Chính tả.
  • Phạm vi không gian và thời gian: Triển khai khảo sát và thực nghiệm sư phạm tại Trường Tiểu học Phong Châu, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ trong thời gian từ tháng 9 năm 2015 đến tháng 5 năm 2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và quan niệm ngôn ngữ học

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các lý thuyết ngôn ngữ học và tâm lý học nhận thức:

  • Lý thuyết về câu: Tiếp thu các quan điểm kinh điển của Aristote, học phái Alecxandri, M.A.K. Halliday (ba bình diện nghĩa: ý niệm, liên nhân, ngôn bản), V.Vinogradov. Tác giả vận dụng quan điểm ngữ pháp của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam như Nguyễn Kim Thản, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Đỗ Thị Kim Liên, Nguyễn Minh Thuyết và đặc biệt là hệ thống phân loại của GS.TS Lê A. Theo đó, câu được phân loại theo cấu tạo ngữ pháp (câu đơn, câu ghép), theo cấu trúc đề - thuyết và theo mục đích phát ngôn (nghi vấn, cầu khiến, cảm thán, trần thuật). Đề tài tập trung vào dạng câu trần thuật (câu kể), khu biệt thành ba kiểu câu cơ bản ở tiểu học: "Ai là gì?", "Ai làm gì?" và "Ai thế nào?".
  • Lý thuyết về tư duy và tư duy ngôn ngữ: Vận dụng lý thuyết tâm lý học về 5 đặc điểm của tư duy (tính có vấn đề, tính gián tiếp, tính trừu tượng - khái quát, tính chất lý tính, mối quan hệ mật thiết với ngôn ngữ và nhận thức cảm tính) cùng 7 phẩm chất tư duy (tính định hướng, bề rộng, độ sâu, tính linh hoạt, tính mềm dẻo, tính độc lập, tính khái quát). Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ được nhìn nhận là thống nhất nhưng không đồng nhất trên 4 phương diện: bản chất, chức năng, hệ thống sản phẩm và quy luật hoạt động.
  • Tâm lý học lứa tuổi học sinh lớp 3: Khóa luận dựa trên thuyết hoạt động hóa nhận thức của Jean Piaget: Học sinh lớp 3 đang trong giai đoạn chuyển tiếp từ trí tuệ biểu tượng (tiền thao tác) sang giai đoạn thao tác cụ thể, hình thành tính thuận nghịch và bắt đầu chuyển các hành động phân tích, so sánh từ bên ngoài thành thao tác trí óc bên trong nhưng vẫn cần điểm tựa trực quan.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài phối hợp đồng bộ 6 phương pháp nghiên cứu sư phạm:

  1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, phân tích, tổng hợp các tài liệu ngôn ngữ học, giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt và tâm lý học giáo dục.
  2. Phương pháp thống kê – phân loại: Thống kê định lượng toàn bộ các bài Tập đọc trong 15 chủ điểm sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3; phân loại các mô hình kết cấu chủ ngữ, vị ngữ; xử lý số liệu điều tra giáo viên và học sinh.
  3. Phương pháp phân tích: Luận giải các cấu trúc ngữ pháp, phân tích sản phẩm học tập của học sinh và thực trạng giờ dạy.
  4. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Xin ý kiến chuyên môn từ các giảng viên Khoa Giáo dục Tiểu học và Mầm non (Trường Đại học Hùng Vương) cùng giáo viên tiểu học có kinh nghiệm.
  5. Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ các tiết dạy Tập đọc, Luyện từ và câu; quan sát hành vi, mức độ tập trung và phản xạ tư duy của học sinh.
  6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng để đo lường tính khả thi của hệ thống bài tập đề xuất.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu

  • Ngữ liệu văn bản: Toàn bộ các bài Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt 3 (tập một và tập hai), ngoại trừ các văn bản khoa học thuần túy.
  • Dữ liệu khảo sát thực tiễn: Thu thập từ 29 giáo viên (trên tổng số 35 cán bộ, giáo viên, nhân viên) và 139 học sinh thuộc 4 lớp khối 3 (3A, 3B, 3C, 3D) tại Trường Tiểu học Phong Châu, thị xã Phú Thọ.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về cấu trúc câu tiếng Việt, phân biệt bản chất giữa câu kể, câu trần thuật và câu tường thuật. Kiểu câu "Ai thế nào?" được xác định có chức năng miêu tả đặc điểm, trạng thái, tính chất của sự vật, hiện tượng hoặc thông báo về sự tồn tại, xuất hiện của đối tượng. Vị ngữ câu kết hợp với từ phủ định "không" (khác với "không phải" ở câu "Ai là gì?").

Nội dung chương trình Luyện từ và câu lớp 3 bố trí dạy 3 mẫu câu kể. Tác giả phân tích khó khăn thực tế: Học sinh lớp 3 thường lúng túng khi xác định vị ngữ, mặc định vị ngữ của câu "Ai thế nào?" bắt buộc phải là tính từ mà không nhận diện được các động từ chỉ trạng thái; khi đặt câu, học sinh thường sao chép máy móc theo mẫu, diễn đạt thiếu linh hoạt.

Kết quả điều tra thực trạng tại Trường Tiểu học Phong Châu cung cấp các cứ liệu định lượng:

  • Nhận thức của giáo viên (n = 29): 27,6% (8 GV) đánh giá việc phát triển tư duy là rất quan trọng; 69,0% (20 GV) đánh giá quan trọng; 3,4% (1 GV) cho rằng không quan trọng.
  • Khó khăn khi dạy học phát triển tư duy: 72,4% (21 GV) phản ánh không đủ thời gian; 58,6% (17 GV) cho biết trình độ học sinh không đồng đều; 48,8% (14 GV) thừa nhận chưa thấy hết tầm quan trọng của việc khai thác câu kể "Ai thế nào?" để rèn luyện tư duy.
  • Mức độ xây dựng bài tập theo chủ điểm của giáo viên: Thường xuyên chỉ chiếm 6,9% (2 GV); thỉnh thoảng chiếm 41,4% (12 GV); không bao giờ chiếm 51,7% (15 GV).
  • Hành vi tư duy của học sinh (n = 139): 57,5% rất thường xuyên ngồi ngay ngắn nghe giảng và 64,7% thường xuyên tham gia hoạt động; tuy nhiên, có tới 50,3% học sinh không bao giờ đưa ra các câu trả lời khác nhau cho cùng một vấn đề, 57,6% không thường xuyên đưa ra nhiều lý do bảo vệ câu trả lời, và 45,6% không bao giờ biết chi tiết hóa các ý một cách phong phú.

Tác giả thống kê tỷ lệ xuất hiện của câu kể "Ai thế nào?" trong 15 chủ điểm phân môn Tập đọc lớp 3:

STT Tên chủ điểm bài Tập đọc Tỷ lệ câu kể "Ai thế nào?" so với các câu còn lại (%)
1 Măng non 36,5
2 Mái ấm 54,2
3 Tới trường 42,0
4 Cộng đồng 31,5
5 Quê hương 34,5
6 Bắc – Trung – Nam 37,8
7 Anh em một nhà 28,7
8 Thành thị và nông thôn 69,2
9 Bảo vệ tổ quốc 44,6
10 Sáng tạo 14,8
11 Nghệ thuật 27,4
12 Lễ hội 37,1
13 Thể thao 33,6
14 Ngôi nhà chung 35,6
15 Bầu trời và mặt đất 40,6

Số liệu cho thấy câu kể "Ai thế nào?" chiếm tỷ lệ đặc biệt cao trong các bài văn xuôi miêu tả, biểu cảm. Ví dụ: Bài "Nhớ lại buổi đầu đi học" (SGK Tiếng Việt 3, tập 1, tr. 51) có 8/8 câu (100%) là câu kể "Ai thế nào?"; bài "Trên đường mòn Hồ Chí Minh" có 10/12 câu (83,3%) là câu kể "Ai thế nào?".

Chương 2: Đặc điểm của dạng câu kể "Ai... thế nào?" trong các bài Tập đọc lớp 3

Chương này đi sâu khảo sát cấu trúc ngữ pháp và khả năng biểu đạt tư duy của kiểu câu:

  • Đặc điểm chủ ngữ: Chủ ngữ biểu thị đối tượng có đặc điểm, tính chất, trạng thái nêu ở vị ngữ. Chủ ngữ trả lời cho các câu hỏi Ai? Cái gì? Con gì? Việc gì?. Trong các bài Tập đọc lớp 3, chủ ngữ chủ yếu do danh từ đảm nhiệm (danh từ chỉ người/đại từ xưng hô như "Tôi" trong "Tôi nổi giận"; danh từ chỉ loài vật như "Sẻ non" trong "Sẻ non rất yêu bằng lăng và bé thơ"; danh từ chỉ sự vật tự nhiên như "Mặt trời" trong "Mặt trời so với lúc nhìn trái đất cũng rực rỡ hơn nhiều") hoặc cụm danh từ. Chủ ngữ cũng có thể là từ ngữ chỉ không gian, thời gian như "Trời cuối đông lạnh buốt".
  • Đặc điểm vị ngữ: Trả lời câu hỏi thế nào?, do tính từ, cụm tính từ, động từ hoặc cụm động từ chỉ trạng thái tạo thành, đảm nhận chức năng miêu tả thuộc tính sự vật hoặc bộc lộ tâm trạng nhân vật.
  • Mối quan hệ với phản ánh hiện thực tư duy: Câu kể "Ai thế nào?" là phương tiện thể hiện tư duy ngôn ngữ, tư duy sự vật (năng lực quan sát, miêu tả thuộc tính bản chất của sự vật) và tư duy hình tượng nghệ thuật. Thông qua việc phân tích và tiếp nhận cấu trúc câu này trong bài Tập đọc, học sinh được rèn luyện kỹ năng liên kết câu, diễn đạt mạch lạc và phát triển năng lực thẩm mỹ.

Chương 3: Xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm và thực nghiệm sư phạm

  • Xây dựng nhóm bài tập theo chủ điểm: Tác giả xác lập nguyên tắc thiết kế bài tập dựa trên ngữ liệu của các bài Tập đọc theo từng chủ điểm. Việc gắn bài tập ngữ pháp với chủ điểm giúp khắc phục tính rời rạc của các bài học Luyện từ và câu truyền thống, rèn luyện cho học sinh các thao tác tư duy: phân tích, so sánh, trừu tượng hóa, khái quát hóa và rèn luyện tính linh hoạt trong sử dụng ngôn ngữ.
  • Thực nghiệm sư phạm: Tiến hành tại Trường Tiểu học Phong Châu trên hai nhóm đối tượng: lớp 3A (lớp thực nghiệm) và lớp 3B (lớp đối chứng). Tiến trình thực nghiệm gồm chuẩn bị bài giảng, tổ chức dạy học theo hệ thống bài tập chủ điểm đề xuất, tiến hành kiểm tra, thu thập bài làm và đối sánh năng lực giải quyết vấn đề, độ linh hoạt trong đặt câu của học sinh giữa hai lớp để khẳng định tính khả thi của đề tài.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Khóa luận làm rõ bức tranh định lượng về mật độ sử dụng câu kể "Ai thế nào?" trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 với tỷ lệ dao động từ 14,8% (chủ điểm Sáng tạo) đến 69,2% (chủ điểm Thành thị và nông thôn). Các chủ điểm miêu tả cuộc sống sinh hoạt và thiên nhiên (Mái ấm 54,2%, Bảo vệ tổ quốc 44,6%, Tới trường 42,0%) đều có mật độ câu kể "Ai thế nào?" chiếm ưu thế.
  • Cung cấp số liệu phản ánh thực trạng dạy học tại địa bàn khảo sát: Mặc dù 96,6% giáo viên nhận thức việc phát triển tư duy là quan trọng và rất quan trọng, nhưng có đến 51,7% giáo viên chưa từng tự thiết kế nhóm bài tập theo chủ điểm để rèn tư duy cho học sinh do áp lực thời gian (72,4%).
  • Khái quát các khiếm khuyết trong tư duy học sinh lớp 3: Thói quen thụ động, phụ thuộc vào khuôn mẫu có sẵn; gặp khó khăn khi đảo ngữ hoặc mở rộng thành phần câu; hạn chế trong việc nhìn nhận vấn đề nhiều chiều (50,3% không đưa ra phương án trả lời khác biệt).

Giải pháp và đóng góp khoa học

  • Đề xuất quy trình dạy học tích hợp giữa phân môn Tập đọc và Luyện từ và câu thông qua hệ thống bài tập ngữ pháp xây dựng theo chủ điểm, lấy ngữ liệu từ chính các bài đọc quen thuộc của học sinh.
  • Xác định phương pháp rèn luyện tư duy ngôn ngữ gắn với các thao tác so sánh, phân loại và miêu tả đặc điểm sự vật, giúp học sinh chủ động mở rộng vốn từ và linh hoạt biến đổi câu trong giao tiếp.
  • Bổ sung tài liệu thực nghiệm có giá trị thực tiễn cho bộ môn Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, chứng minh tính khả thi của việc rèn luyện tư duy cho học sinh ngay từ việc tiếp nhận các mẫu câu kể đơn giản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Địa bàn khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm sư phạm chỉ bó hẹp trong phạm vi một trường tiểu học (Trường Tiểu học Phong Châu, thị xã Phú Thọ) với cỡ mẫu 29 giáo viên và 139 học sinh khối 3, chưa bao quát được các vùng miền có điều kiện giáo dục khác nhau.
  • Ngữ liệu khảo sát tập trung chủ yếu vào chương trình sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 3 hiện hành tại thời điểm nghiên cứu (năm học 2015-2016), chưa mở rộng đối sánh cấu trúc ngữ liệu của các khối lớp 2, 4 và 5.
  • Tác giả tự nhìn nhận do hạn chế về thời gian và trình độ nghiên cứu ban đầu nên việc phân tích sâu các cơ chế tâm lý học nhận thức chuyển hóa từ thao tác ngôn ngữ sang phẩm chất tư duy chưa thực sự triệt để.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng phạm vi khảo sát và thực nghiệm sư phạm trên nhiều trường tiểu học thuộc các địa bàn đô thị, nông thôn và miền núi nhằm kiểm chứng mức độ thích ứng của hệ thống bài tập.
  • Nghiên cứu mở rộng việc dạy học phát triển tư duy sang các kiểu câu kể khác ("Ai làm gì?", "Ai là gì?") và xây dựng mạch bài tập phát triển tư duy ngôn ngữ xuyên suốt toàn cấp tiểu học.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học tại các trường đại học, cao đẳng sư phạm sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm hoặc triển khai khóa luận tốt nghiệp.
    • Giáo viên tiểu học, đặc biệt là giáo viên giảng dạy khối lớp 3, tham khảo trong việc thiết kế bài giảng phân môn Luyện từ và câu và Tập đọc.
    • Cán bộ quản lý chuyên môn tiểu học nghiên cứu định hướng đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao nhất:
    • Bảng số liệu thống kê tỷ lệ phân bố câu kể "Ai thế nào?" trong 15 chủ điểm Tập đọc lớp 3 (phục vụ việc khai thác ngữ liệu dạy học).
    • Bộ tiêu chí và số liệu khảo sát thực trạng nhận thức giáo viên, biểu hiện hành vi tư duy của học sinh lớp 3 tại Bảng 1.1 đến 1.6.
    • Cách tiếp cận phân loại cấu trúc chủ ngữ, vị ngữ câu kể "Ai thế nào?" gắn với việc rèn luyện năng lực tư duy miêu tả và tư duy hình tượng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu kiểu câu nào và trên đối tượng học sinh nào?
Khóa luận nghiên cứu kiểu câu kể "Ai thế nào?" trong môn Tiếng Việt lớp 3, triển khai khảo sát và thực nghiệm trên học sinh khối lớp 3 Trường Tiểu học Phong Châu, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

2. Tác giả dựa trên cơ sở ngữ pháp nào để phân loại và tiếp cận câu kể "Ai thế nào?"?
Tác giả dựa trên quan điểm phân loại câu theo mục đích phát ngôn của GS.TS Lê A, xếp câu kể "Ai thế nào?" vào nhóm câu trần thuật dùng để kể, miêu tả đặc điểm, tính chất, trạng thái của sự vật, hiện tượng hoặc thông báo sự tồn tại.

3. Chủ điểm Tập đọc lớp 3 nào có tỷ lệ câu kể "Ai thế nào?" xuất hiện cao nhất và thấp nhất?
Theo thống kê tại Bảng 1.7 của khóa luận, chủ điểm có tỷ lệ xuất hiện cao nhất là "Thành thị và nông thôn" (chiếm 69,2%), và chủ điểm có tỷ lệ thấp nhất là "Sáng tạo" (chiếm 14,8%).

4. Khó khăn lớn nhất của giáo viên tiểu học khi dạy kiểu câu này nhằm phát triển tư duy là gì?
Theo kết quả khảo sát 29 giáo viên tại Bảng 1.3, khó khăn lớn nhất là "Không đủ thời gian" (chiếm 72,4% ý kiến đồng ý), tiếp theo là "Trình độ học sinh không đồng đều" (chiếm 58,6%).

5. Điểm yếu điển hình trong tư duy của học sinh lớp 3 được khảo sát chỉ ra là gì?
Học sinh có biểu hiện thụ động trong tư duy: 50,3% học sinh không bao giờ đưa ra các câu trả lời khác nhau cho một vấn đề; 57,6% không thường xuyên đưa ra nhiều lý do giải thích; việc đặt câu chủ yếu rập khuôn theo mẫu, chưa biết đảo ngữ hay thêm thành phần phụ để làm phong phú diễn đạt.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thị Mai Đào đã làm rõ cơ sở lý luận ngôn ngữ học và thực tiễn sư phạm của việc dạy học câu kể "Ai thế nào?" trong môn Tiếng Việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh. Thông qua dữ liệu khảo sát 15 chủ điểm bài Tập đọc và thực trạng giảng dạy tại Trường Tiểu học Phong Châu, công trình khẳng định sự cần thiết phải tích hợp dạy học ngữ pháp theo chủ điểm nhằm khắc phục tình trạng thụ động, rập khuôn ở học sinh. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho sinh viên sư phạm và giáo viên tiểu học trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt.