Khóa luận tốt nghiệp dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu tốt nghiệp dạy học câu kể ai thế nào trong môn tiếng việt lớp 3 theo hướng cải thiện năng lực tư, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp

Trường đại học

Trường Đại học Hùng Vương

Chuyên ngành

Giáo dục Tiểu học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2016

125
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Dạy học Tiếng Việt và câu kể Ai thế nào

Dạy học Tiếng Việt là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục tiểu học, đặc biệt ở lớp 3. Câu kể 'Ai thế nào?' là một dạng câu trần thuật được sử dụng phổ biến trong các bài Tập đọc. Dạng câu này giúp học sinh miêu tả sự vật, hiện tượng một cách rõ ràng và logic. Nghiên cứu này tập trung vào việc sử dụng câu kể 'Ai thế nào?' để phát triển tư duy học sinh, đặc biệt là tư duy ngôn ngữ và tư duy hình tượng. Việc dạy học câu kể này không chỉ giúp học sinh nắm vững cấu trúc ngữ pháp mà còn rèn luyện kỹ năng miêu tả và phản ánh hiện thực.

1.1. Đặc điểm của câu kể Ai thế nào

Câu kể 'Ai thế nào?' có cấu trúc gồm chủ ngữ và vị ngữ, trong đó vị ngữ thường là tính từ hoặc cụm tính từ miêu tả trạng thái, tính chất của chủ ngữ. Dạng câu này xuất hiện nhiều trong các bài Tập đọc lớp 3, giúp học sinh nhận thức rõ hơn về hiện thực khách quan. Ví dụ, trong câu 'Cô giáo rất dịu dàng', 'Cô giáo' là chủ ngữ và 'rất dịu dàng' là vị ngữ. Việc phân tích cấu trúc này giúp học sinh hiểu sâu hơn về cách thức miêu tả sự vật và hiện tượng.

1.2. Vai trò của câu kể trong phát triển tư duy

Câu kể 'Ai thế nào?' đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tư duy học sinh. Thông qua việc sử dụng câu kể, học sinh được rèn luyện kỹ năng miêu tả, phân tích và phản ánh hiện thực. Điều này không chỉ giúp các em nâng cao khả năng ngôn ngữ mà còn phát triển tư duy logic và tư duy hình tượng. Ví dụ, khi miêu tả một nhân vật, học sinh cần sử dụng các tính từ phù hợp để thể hiện đặc điểm của nhân vật đó, từ đó hình thành khả năng tư duy sáng tạo và phản biện.

II. Phương pháp dạy học câu kể Ai thế nào

Phương pháp dạy học câu kể 'Ai thế nào?' cần được thiết kế một cách khoa học và sáng tạo để đáp ứng mục tiêu phát triển tư duy học sinh. Các phương pháp như thực nghiệm sư phạm, quan sát sư phạm và phân tích lý thuyết được áp dụng để đảm bảo tính hiệu quả. Việc xây dựng các nhóm bài tập theo chủ điểm giúp học sinh thực hành và củng cố kiến thức một cách hệ thống. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành trong quá trình dạy học.

2.1. Xây dựng nhóm bài tập theo chủ điểm

Việc xây dựng nhóm bài tập theo chủ điểm là một phương pháp hiệu quả để giúp học sinh nắm vững cấu trúc và cách sử dụng câu kể 'Ai thế nào?'. Các bài tập được thiết kế theo từng chủ điểm cụ thể, giúp học sinh thực hành và áp dụng kiến thức vào thực tế. Ví dụ, chủ điểm 'Gia đình' có thể bao gồm các bài tập yêu cầu học sinh miêu tả các thành viên trong gia đình bằng câu kể 'Ai thế nào?'. Điều này không chỉ giúp học sinh hiểu bài mà còn phát triển kỹ năng ngôn ngữ và tư duy.

2.2. Thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm được tiến hành để kiểm tra tính khả thi của các phương pháp dạy học. Qua thực nghiệm, học sinh lớp 3A trường Tiểu học Phong Châu đã thể hiện sự tiến bộ rõ rệt trong việc sử dụng câu kể 'Ai thế nào?'. Kết quả thực nghiệm cho thấy, việc áp dụng các phương pháp dạy học sáng tạo và khoa học không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển tư duy logic và sáng tạo.

III. Ý nghĩa và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu về phương pháp dạy học câu kể 'Ai thế nào?' có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp giáo viên có thêm công cụ để phát triển tư duy học sinh mà còn góp phần vào việc đổi mới phương pháp giảng dạy. Việc áp dụng các phương pháp dạy học sáng tạo và khoa học sẽ giúp học sinh phát triển toàn diện cả về kiến thức và kỹ năng.

3.1. Ý nghĩa khoa học

Nghiên cứu này đóng góp vào việc làm rõ đặc điểm và vai trò của câu kể 'Ai thế nào?' trong việc phát triển tư duy học sinh. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc thiết kế các phương pháp dạy học hiệu quả, giúp học sinh nắm vững kiến thức và phát triển kỹ năng ngôn ngữ.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi trong các trường tiểu học để nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt. Các phương pháp dạy học được đề xuất trong nghiên cứu giúp giáo viên có thêm công cụ để phát triển tư duy và kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh, từ đó góp phần vào việc đổi mới giáo dục tiểu học.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài Ngôn ngữ là thành tựu vĩ đại lớn nhất của loài người. Sự ra đời của ngôn ngữ là thể hiện một chức năng mà nó chính là chức năng giao tiếp. Cao Xuân Hạo đã nhận định: thoạt tiên những nhu cầu thực tiễn của giao tiếp xã hội đặt ra cho con người những nhiệm vụ trao đổi và thông báo cần được thực hiện bằng phương tiện ngôn ngữ và công việc của ngôn ngữ học là tìm hiểu xem những nhiệm vụ ấy được thể hiện bằng những phát ngôn nào, có những quy tắc gì chi phối việc sử dụng những phát ngôn ấy.

Như vậy, mỗi ngôn ngữ được hình dung hai bộ phận: bộ phận sử dụng các yếu tố ngôn ngữ và bộ phận các quy tắc hoạt động của các ngôn ngữ ấy. Trong các bộ phận của các yếu tố ngôn ngữ, câu được xem như một đơn vị ngôn ngữ có cấu trúc nhất định phù hợp với quy tắc của một thứ tiếng.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở nước ngoài Nói đến vấn đề về câu hẳn ai cũng biết rằng đây không phải là vấn đề hoàn toàn mới vì ngay khi chữ viết xuất hiện, tiếng nói hình thành thì câu cũng được hình thành theo đó. Trong lịch sử ngôn ngữ học có khá nhiều nghiên cứu định nghĩa về câu khác nhau có thể dẫn ra một số định nghĩa về câu như sau: - Từ thời cổ Hi Lạp, Aristote quan niệm: “Câu là một âm phức hợp có ý nghĩa độc lập mà mỗi bộ phận riêng biệt trong đó cũng có ý nghĩa độc lập”. - Học phái Alecxandri (thế kỉ III - II tr.

CN) đã nêu định nghĩa : “Câu là tổ hợp của các từ biểu thị một tư tưởng trọn vẹn”.105] - Theo Halliday (1985) quan niệm câu là nơi cả ba bình diện của nghĩa đều được thực hiện, theo đó câu thực hiện 3 chức năng cơ bản đó là chức năng ý niệm, chức năng liên nhân và chức năng ngôn bản. Như vậy, một câu có thể đồng thời có ba mô hình cấu trúc không tương hợp nhau về các đơn vị ngôn ngữ trên trục hình tuyến. 16 Những định nghĩa vừa nêu trên mang tính chất sơ lược, đơn giản, dễ hiểu tuy nhiên qua thử thách hàng ngàn năm và cho đến ngày nay vẫn sử dụng nó phổ biến. Và qua các quan niệm đó góp phần có những cống hiến nhất định cho việc nghiên cứu câu sau này.

Ngoài nghiên cứu về câu việc nghiên cứu sự phát triển tư duy của học sinh cũng được nghiên cứu nhiều. Như Alêcxâyep với công trình "Phát triển tư duy học sinh"đã chỉ ra tầm quan trọng của phát triển tư duy học sinh, đồng thời đưa ra những phương pháp, biện pháp nhằm phát triển khả năng tư duy cho học sinh. Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, đã có nhiều tác giả nghiên cứu về câu như Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết, GS. Lê A, Nguyễn Kim Thản, G.S Đỗ Thị Kim Liên… Theo tác giả Nguyễn Minh Thuyết câu là đơn vị có chức năng thông báo, tức là biểu hiện một thông điệp.

Trong đó, vị ngữ là nòng cốt là “xuất phát điểm” của thông điệp. Cao Xuân Hạo cho rằng “Câu là đơn vị cơ bản của lời nói, của ngôn từ, của văn bản. Nó là đơn vị nhỏ nhất có thể sử dụng vào việc giao tiếp, nói cách khác, câu là ngôn bản (văn bản) nhỏ nhất”. Nguyễn Kim Thản thì chọn định nghĩa của V.Vinogradov: “Câu là đơn vị hoàn chỉnh của lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo qui tắc của một ngôn ngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để cấu tạo, biểu thị và truyền đạt tư tưởng.

Trong câu, không phải chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có cả mối quan hệ của người nói với hiện thực”. Đỗ Thị Kim Liên, câu được thành lập khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy nhằm mục đích giao tiếp hay bày tỏ thái độ. Chính vì vậy, câu phải có chức năng thông báo, thể hiện: câu mang nội dung thông tin, được dùng để bày tỏ cảm xúc câu tác động đến nhận thức của người nghe. Lê A cũng nghiên cứu định nghĩa về câu, nghiên cứu về sự phân loại, các kiểu câu thường gặp… Đặc biệt ông đã đề cập đến sự phân loại các 17 dạng câu theo mục đích nói và chia ra làm bốn kiểu câu như (câu cầu khiến, câu cảm thán, câu trần thuật, câu nghi vấn) trong đó dạng thức câu trần thuật được ông nghiên cứu rất kĩ.

Ông chỉ ra rõ khái niệm câu trần thuật đó là “Câu trần thuật là kiểu câu có chức năng chính dùng để kể, miêu tả, nhận định một sự kiện, một hiện tượng. Trần thuật là ý nghĩa tình thái trong câu miêu tả hay nhận định một sự kiện hiện tượng. Tất cả các câu đơn, câu ghép trong tiếng Việt đều có thể dùng để trần thuật” [1, tr. Hay Diệp Quang Ban cũng nghiên cứu về dạng câu trần thuật (câu kể - tường thuật) như ông đã chỉ ra định nghĩa tường thuật như sau “Câu tường thuật dùng để kể, xác nhận (là có hay không có) mô tả sự vật với các đặc trưng (hành động, trạng thái, tính chất, quan hệ) của nó, hoặc một sự kiện với các chi tiết nào đó, là hình thức biểu hiện, thông thường của một phán đoán.

Câu tường thuật được thể hiện bằng thực từ, phụ từ của chúng, sử dụng các tiểu từ tình thái riêng để bày tỏ thái độ với nội dung câu nói, hoặc đối với người nói người nghe nhằm hoàn chỉnh câu, giúp cho câu đứng trước được” [2, tr. Như vậy việc nghiên cứu về câu nói chung và dạng câu trần thuật nói riêng đã được nhiều người nghiên cứu, tuy nhiên phần lớn các tác giả chỉ nghiên cứu các định nghĩa quan điểm về câu, phân loại câu (câu đơn bình thường, câu đơn, câu đặc biệt, câu rút gọn…). Ở trường Tiểu học việc nghiên cứu về các kiểu câu trong chương trình cũng đã có nhiều người đề cập đến tuy nhiên các kiểu câu kể cũng ít được nghiên cứu, cũng có một số đề tài đã được nghiên cứu như “Sử dụng linh hoạt ba kiểu câu kể “Ai là gì?”,“Ai thế nào?”,“Ai làm gì?” hay cũng có đề tài nghiên cứu về việc “Biện pháp hướng dẫn học sinh lớp 2, lớp 3 nhận diện và sử dụng ba loại câu kể “Ai thế nào?”,“Ai là gì?”, “Ai làm gì?”. Nguyễn Thị Xuân Yến với bài viết “Phát triển tư duy cho học sinh qua dạy học môn Tiếng Việt” đã đề cập đến những phương pháp tổ chức đồng tâm và phát triển.

Phương pháp dạy học hướng vào người học nhằm tôn trọng lợi 18 ích, quyền lợi, sáng tạo cá nhân của HS. Nhờ đó, tư duy của người học sẽ được hình thành và phát triển trong môi trường, điều kiện tốt nhất. Trên đây là những tài liệu quý báu cho tôi trong tiến trình thực hiện đề tài của mình, phát triển tư duy cho học sinh tiểu học là một vấn đề mà đang được các nhà giáo dục quan tâm, đề cập đến nhiều phương diện, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức độ khái quát chung. Với đề tài này chúng tôi nghiên cứu cụ thể chi tiết hơn trong "Dạy học câu kể " Ai thế nào?"trong môn Tiếng Việt lớp 3 theo hướng phát triển tư duy học sinh".

Cơ sở lí luận 1. Giới thuyết chung về câu tiếng Việt 1. Câu tiếng Việt Nói đến khái niệm về câu có rất nhiều định nghĩa khác nhau về câu tiếng Việt, có thể dẫn ra một số định nghĩa về câu tiếng Việt như sau: Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn, dùng ngữ mà cấu tạo nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoàn chỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, và có tính chất độc lập. Câu là một ngữ tuyến được hình thành một cách tương đối trọn vẹn về ngữ pháp và về ngữ nghĩa với một ngữ điệu theo các quy luật của ngôn ngữ nhất định, là phương tiện diễn đạt, biểu hiện tư tưởng về thực tế và thái độ của người nói đối với hiện thực.

Diệp Quang Ban định nghĩa về câu như sau “Câu là đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp tự lập và ngữ điệu kết thúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá của người nói, hoặc có thể kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm. Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [2; tr. Như vậy, nhóm tác gỉa trên tập trung chú ý về nghĩa hoàn chỉnh của câu, chú trọng đến cấu tạo ngữ pháp của câu đặc biệt chú ý đến tính chỉnh thể của câu. 19 Tác giả Lê A cũng nghiên cứu về câu và ông đã chỉ ra định nghĩa câu dựa trên hai phương diện đó là: Ở phương diện cấu tạo ngữ pháp, cũng tức là ở bậc trừu tượng, khái quát, câu là đơn vị ngôn ngữ được cấu tạo bởi các đơn vị từ nhỏ (từ, ngữ cố định, cụm từ tự do) theo những quy tắc ngữ pháp nhất định.

Ở phương diện sử dụng, mỗi câu gắn với một tình huống cụ thể, một mục đích giao tiếp cụ thể, biểu hiện một ý nghĩa cụ thể. Câu cụ thể đó được gọi là phát ngôn; phát ngôn chính là câu trong họat động giao tiếp. VD: + Hôm nay, trời mưa to. Tuy có nhiều định nghĩa về câu như vậy song chúng ta hiểu câu với định nghĩa như sau: Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suy nghĩ, được gắn với một ngữ cảnh nhất định, nhằm một mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá.

Câu có cấu tạo ngữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc. Từ những định nghĩa trên chúng ta thấy câu được chia ra làm 3 nhóm chính: câu theo quan hệ ngữ pháp, câu theo quan hệ ngữ nghĩa và câu theo quan hệ ngữ dụng. Trong đó, đề tài tập trung nghiên cứu nhóm câu theo quan hệ ngữ pháp dụng. Nhóm câu này phù hợp với lứa tuổi tiểu học và được sử dụng phổ biến trong các văn bản tập đọc ở tiểu học.

Đặc điểm của câu Qua những định nghĩa về câu ta có thể thấy câu có hai đặc điểm chính đó là về nội dung và về hình thức như sau: Xét về nội dung: - Câu là sản phẩm hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ là loại đơn vị không có sẵn trong ngôn ngữ, là kết hợp tự do của những đơn vị có sẵn (từ, cụm từ cố định) hoặc những đơn vị không có sẵn (các kiểu cụm từ tự do).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu với tiêu đề "Phương pháp dạy học câu kể 'Ai thế nào' trong Tiếng Việt lớp 3 phát triển tư duy học sinh" trình bày những phương pháp hiệu quả trong việc giảng dạy câu kể cho học sinh lớp 3, nhằm phát triển tư duy và khả năng ngôn ngữ của các em. Tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng các câu hỏi mở và các hoạt động tương tác để khuyến khích học sinh suy nghĩ sáng tạo và diễn đạt ý tưởng của mình một cách rõ ràng. Bằng cách áp dụng những phương pháp này, giáo viên có thể tạo ra một môi trường học tập tích cực, giúp học sinh không chỉ nắm vững kiến thức ngữ pháp mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho các đối tượng học sinh khác, hãy tham khảo tài liệu "Luận văn thạc sĩ thực trạng và giải pháp dạy học môn tiếng việt cho trẻ điếc lớp 2 trên địa bàn hà nội", nơi cung cấp cái nhìn sâu sắc về việc dạy học cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt. Ngoài ra, bạn cũng có thể khám phá "Luận án phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học trong môn tiếng việt theo mô hình chuyển giao kĩ năng", tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về cách phát triển kỹ năng đọc hiểu cho học sinh. Cuối cùng, tài liệu "Skkn về một số kinh nghiệm tổ chức trò chơi trong tiết học tiếng việt lớp 2" sẽ cung cấp những kinh nghiệm thực tiễn trong việc tổ chức các hoạt động học tập thú vị, giúp tăng cường sự hứng thú của học sinh trong giờ học. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về phương pháp giảng dạy tiếng Việt và cách thức phát triển tư duy cho học sinh.