Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống giáo dục quốc dân, bậc Tiểu học giữ vai trò nền tảng đối với sự hình thành tri thức cơ bản và phát triển nhân cách của học sinh. Môn Tiếng Việt tại trường tiểu học đảm nhiệm chức năng kép: vừa trang bị tri thức về hệ thống ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) và rèn luyện bốn kĩ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết), vừa là công cụ tư duy giúp học sinh tiếp nhận, diễn đạt các kiến thức khoa học khác. Trong đó, phân môn Luyện từ và câu đảm nhận vai trò trọng tâm trong việc mở rộng, hệ thống hóa vốn từ, trang bị các hiểu biết sơ giản về ngữ nghĩa và ngữ pháp, đồng thời bồi dưỡng thói quen dùng từ chính xác, văn hóa.

Hiện tượng từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa là hai mảng từ vựng quan trọng, phản ánh sự phong phú của tiếng Việt và có giá trị tu từ cao. Tuy nhiên, đây là nội dung có tính chất khái quát, trừu tượng, trong khi đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học lứa tuổi lớp 4, 5 vẫn thiên về tư duy cụ thể. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Vân (ngành Giáo dục Tiểu học, Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng, thực hiện tháng 01/2018 dưới sự hướng dẫn của ThS. Lê Sao Mai) lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Rèn kĩ năng sử dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5".

Mục đích nghiên cứu của đề tài là khảo sát thực trạng giảng dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5; từ đó thiết kế một số dạng bài tập thực hành nhằm nâng cao hiệu quả rèn luyện kĩ năng sử dụng các lớp từ này cho học sinh.

Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5.
  2. Khảo sát thực trạng việc dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5.
  3. Đề xuất một số bài tập nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5 (đây là nhiệm vụ chủ yếu).

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình dạy học từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5. Về phạm vi không gian và thời gian, do điều kiện nghiên cứu, đề tài giới hạn phạm vi khảo sát thực trạng tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng vào năm học 2017 - 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự liên kết giữa lý luận ngôn ngữ học, lý luận phương pháp dạy học tiếng Việt và tâm lý học lứa tuổi học sinh tiểu học:

  • Cơ sở từ vựng học: Tác giả tiếp thu các quan niệm ngôn ngữ học của Đỗ Hữu Châu (Giáo trình Việt ngữ, tập 2; Đại cương ngôn ngữ học, tập 2; Giáo trình từ vựng học tiếng Việt), Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt), Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Tồn (Từ đồng nghĩa tiếng Việt), kết hợp với định nghĩa tinh giản trong Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5 (tập 1). Theo đó, từ đồng nghĩa được chia thành: từ đồng nghĩa tuyệt đối và từ đồng nghĩa tương đối (khác biệt về sắc thái biểu cảm hoặc sắc thái ý nghĩa/phạm vi sử dụng). Từ trái nghĩa được phân chia thành hai loại: từ trái nghĩa loại trừ lẫn nhau và từ trái nghĩa biểu thị trạng thái/tính chất đối lập có điểm trung gian.
  • Cơ sở phương pháp dạy học: Dựa trên các công trình của Lê Phương Nga (Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học II), Lê Thị Thanh Nhàn (Từ vựng tiếng Việt ở tiểu học), Phan Thiều và Lê Hữu Tỉnh (Dạy học Từ ngữ ở tiểu học). Phân môn Luyện từ và câu thực hiện ba nhiệm vụ cốt lõi: phong phú hóa vốn từ (trọng tâm), chính xác hóa vốn từ và tích cực hóa vốn từ.
  • Cơ sở chương trình học: Khóa luận phân tích chương trình Luyện từ và câu lớp 4 và lớp 5 hiện hành với tổng thời lượng 62 tiết/lớp (Học kì I: 32 tiết, Học kì II: 30 tiết). Trong đó, nội dung mở rộng hệ thống hóa vốn từ chiếm 19 tiết ở mỗi lớp; cấu tạo từ chiếm 5 tiết ở lớp 4 và 11 tiết ở lớp 5 (tập trung dạy trực tiếp về từ đồng nghĩa, từ trái nghĩa, từ đồng âm, từ nhiều nghĩa).
  • Cơ sở tâm lý học lứa tuổi: Dẫn xuất từ Giáo trình tâm lí học tiểu học của Bùi Văn Huệ, xác định các đặc điểm nhân cách (tình cảm dễ kích động, thiếu bền vững; ý chí chưa có khả năng theo đuổi mục đích lâu dài) và nhận thức (tri giác đại thể, chú ý không chủ định chiếm ưu thế, trí nhớ trực quan - hình tượng, tư duy cảm xúc chuyển dần sang tư duy logic).

Để giải quyết các nhiệm vụ đề ra, tác giả sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lí thuyết: Phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tài liệu khoa học chuyên ngành.
  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
    • Phương pháp điều tra bằng anket: Thực hiện bằng phiếu hỏi đối với giáo viên và phiếu trắc nghiệm/bài tập đối với học sinh.
    • Phương pháp quan sát sư phạm: Dự giờ các tiết dạy học Luyện từ và câu.
    • Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Phỏng vấn sâu 5 giáo viên trực tiếp giảng dạy phân môn Luyện từ và câu.
    • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục: Phân tích các bài kiểm tra định kì, bài kiểm tra miệng và phiếu học tập của học sinh.

Mẫu khảo sát thực tế gồm 10 giáo viên (5 giáo viên khối 4, 5 giáo viên khối 5) và 160 học sinh (80 học sinh khối 4, 80 học sinh khối 5) đang giảng dạy và học tập tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lí luận của đề tài

Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, phân loại và đặc trưng ngôn ngữ của từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa trong tiếng Việt. Tác giả phân tích đối chiếu định nghĩa mang tính học thuật của các nhà ngôn ngữ học với định nghĩa thực hành sư phạm trong Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 5: từ đồng nghĩa là những từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau; từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau.

Chương này cũng xác định vai trò của việc dạy hai lớp từ này đối với việc phát triển vốn từ, năng lực tu từ và tư duy ngôn ngữ cho học sinh tiểu học; đồng thời làm rõ ba nhiệm vụ của phân môn Luyện từ và câu (phong phú hóa, chính xác hóa, tích cực hóa vốn từ). Ngoài ra, tác giả tổng thuật chi tiết cấu trúc nội dung 62 tiết học của phân môn Luyện từ và câu ở cả hai khối lớp 4 và 5, phân tích đặc trưng tâm sinh lý lứa tuổi tiểu học làm căn cứ khoa học cho việc lựa chọn biện pháp sư phạm.

Chương 2: Thực trạng việc giảng dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5

Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả điều tra thực trạng tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ thông qua hệ thống bảng thống kê số liệu định lượng:

Nội dung khảo sát giáo viên (n = 10) Tỉ lệ (%) Chi tiết số lượng
Đánh giá việc dạy từ đồng nghĩa, trái nghĩa là cần thiết 90% 9/10 giáo viên
Đánh giá việc dạy từ đồng nghĩa, trái nghĩa là bình thường 10% 1/10 giáo viên
Khả năng nhận biết của học sinh đạt loại Giỏi 10% 1/10 giáo viên
Khả năng nhận biết của học sinh đạt loại Khá 60% 6/10 giáo viên
Khả năng nhận biết của học sinh đạt loại Trung bình 20% 2/10 giáo viên
Khả năng nhận biết của học sinh đạt loại Yếu 10% 1/10 giáo viên
Lỗi học sinh chưa biết vận dụng vào đặt câu, kể chuyện 80% 8/10 giáo viên
Lỗi học sinh hiểu sai nghĩa của từ 70% 7/10 giáo viên
Lỗi học sinh chưa nhận biết được từ 50% 5/10 giáo viên
Lỗi học sinh tìm sai từ đồng nghĩa, trái nghĩa 40% 4/10 giáo viên
Mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp trực quan 100% 10/10 giáo viên
Mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp thực hành, luyện tập 90% 9/10 giáo viên
Mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp thảo luận nhóm 80% 8/10 giáo viên
Mức độ thường xuyên sử dụng phương pháp trò chơi 50% 5/10 giáo viên
Khó khăn: Thiết kế các dạng bài tập khó và mất thời gian 90% 9/10 giáo viên
Khó khăn: Tư liệu dạy học còn hạn chế 90% 9/10 giáo viên
Khó khăn: Thời lượng một tiết dạy không đủ 80% 8/10 giáo viên
Khó khăn: Học sinh chưa chủ động, không tập trung 70% 7/10 giáo viên
Nội dung khảo sát học sinh (n = 160) Tỉ lệ (%) Chi tiết số lượng
Thái độ: Thích học từ đồng nghĩa và trái nghĩa 85,0% 136/160 học sinh
Thái độ: Cảm thấy bình thường 10,0% 16/160 học sinh
Thái độ: Không thích học 5,0% 8/160 học sinh
Hiểu đúng khái niệm từ đồng nghĩa 80,0% 128/160 học sinh
Nhận thức sai: Từ đồng nghĩa thay thế được cho nhau trong mọi hoàn cảnh 15,0% 24/160 học sinh
Nhận thức sai: Từ đồng nghĩa là từ có cách đọc gần giống nhau 5,0% 8/160 học sinh
Hiểu đúng khái niệm từ trái nghĩa 82,5% 132/160 học sinh
Nhận thức sai: Từ không cùng chỉ một sự vật, hiện tượng 12,5% 20/160 học sinh
Nhận thức sai: Tất cả từ có nghĩa khác nhau đều là từ trái nghĩa 5,0% 8/160 học sinh

Khi khảo sát khả năng thực hành qua ngữ liệu văn bản (đoạn trích Dế Mèn bênh vực kẻ yếu và Thư gửi các học sinh), đa số học sinh tìm được các cặp từ nhưng bộc lộ hạn chế rõ rệt ở khâu giải nghĩa từ và đặt câu. Nhiều học sinh đặt câu lủng củng, thiếu nghĩa, viết câu ngắn cụt hoặc mắc lỗi chính tả do không hiểu thấu đáo sắc thái nghĩa của từ. Về phía giáo viên, phương pháp trò chơi ít được áp dụng do sĩ số lớp đông và áp lực thời gian; tình trạng "dạy chay" còn diễn ra do ngại chuẩn bị đồ dùng trực quan.

Chương 3: Xây dựng một số bài tập rèn kĩ năng sử dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5

Tác giả xác định ba nguyên tắc sư phạm cốt lõi khi thiết kế bài tập:

  • Đảm bảo tính tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh (tạo tình huống có vấn đề, tổ chức học tập hợp tác, khuyến khích tự kiến tạo tri thức).
  • Đảm bảo mục tiêu của bài học (gắn chặt với nội dung phân môn Luyện từ và câu theo chuẩn kiến thức kĩ năng).
  • Đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới đặc điểm lứa tuổi (phù hợp với giới hạn vùng phát triển gần nhất và đặc điểm cá biệt của học sinh).

Trên cơ sở đó, chương 3 đề xuất hệ thống bài tập thực hành gồm hai phân hệ hoàn chỉnh:

  1. Hệ thống bài tập về từ đồng nghĩa:

    • Dạng bài tập điền từ: Rèn kĩ năng nhận diện từ ngữ phù hợp ngữ cảnh (Bài 1: chọn từ sinh, chết, đẻ, qua đời; Bài 2: điền từ ngữ gợi tả trong văn cảnh miêu tả kéo lưới).
    • Dạng bài tập thay thế từ: Huy động vốn từ tương đương (Bài 3: thay thế từ đa nghĩa; Bài 4: thay thế từ gợi tả sắc thái sáng, dòng sông, giọt sương).
    • Dạng bài tập đặt câu: Rèn kĩ năng sử dụng từ trong văn cảnh (Bài 5: phân nhóm các từ chết, hi sinh, máy bay, nhỏ, rộng... rồi đặt câu; Bài 6: tìm và đặt câu với từ đồng nghĩa với từ "địu").
    • Dạng bài tập viết đoạn văn: Rèn kĩ năng tạo lập văn bản (Bài 7: viết đoạn văn miêu tả cảnh sắc mùa xuân khoảng 5 câu có dùng cặp từ đồng nghĩa).
    • Dạng bài tập phân biệt sắc thái nghĩa: Nâng cao năng lực cảm thụ ngôn ngữ (Bài 8: phân biệt trắng bệch, trắng muốt, trắng phau, trắng xóa).
    • Trò chơi học tập: Thiết kế quy tắc chơi cho trò chơi "Nhanh tìm từ đồng nghĩa" (dùng băng giấy) và trò chơi "Ô chữ bí mật" (gồm 9 hàng ngang và từ khóa trung tâm).
  2. Hệ thống bài tập về từ trái nghĩa:

    • Dạng bài tập điền từ: Xác định thế đối lập trực tiếp (Bài 1: hoàn thành cặp từ đối lập; Bài 2: điền từ hoàn chỉnh thành ngữ, tục ngữ: Lên thác xuống ghềnh, Việc nhỏ nghĩa lớn...).
    • Dạng bài tập thay thế từ: Tạo lập ngữ nghĩa tương phản (Bài 3: thay thế các nét nghĩa khác nhau của từ "lành": bát vỡ, món ăn độc, áo rách, tính dữ; Bài 4: thay thế từ "mở": đóng cửa, gấp vở, đậy nắp, ngậm miệng, nhắm mắt).
    • Dạng bài tập đặt câu: Vận dụng cặp từ tương phản (Bài 5: đặt câu với cặp từ oi bức - mát mẻ...; Bài 6: tìm từ trái nghĩa với từ "ngọt" và đặt câu chứa cả hai từ).
    • Dạng bài tập viết đoạn văn: Kết hợp đối lập trong diễn đạt (Bài 7: viết đoạn văn về đức tính của bạn có dùng cặp từ trái nghĩa; Bài 8: miêu tả cảnh buổi sáng yên bình sử dụng các từ trái nghĩa với "chiến tranh").
    • Dạng bài tập phân tích tác dụng của từ trái nghĩa: Cảm thụ biện pháp tu từ đối lập trong văn học (Bài 9: phân tích cặp từ to - nhỏ trong bài thơ của Nguyễn Khoa Điềm; Bài 10: phân tích cặp trẻ - già, đi - trở lại trong thơ dịch của Trần Trọng San).
    • Trò chơi học tập: Thiết kế quy tắc tổ chức trò chơi "Đuổi hình bắt chữ" (nhận diện thành ngữ qua hình ảnh) và trò chơi tiếp sức "Nhanh tay nhanh mắt".

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể thông qua số liệu trích xuất từ văn bản:

  • Làm rõ bức tranh thực trạng dạy và học từ đồng nghĩa, trái nghĩa tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ: 85% học sinh có hứng thú học tập và trên 80% nhận diện đúng khái niệm trên phương diện lý thuyết. Tuy nhiên, 80% giáo viên xác nhận học sinh gặp lỗi nghiêm trọng nhất ở khâu vận dụng từ ngữ vào việc đặt câu và tạo lập văn bản; 70% học sinh mắc lỗi hiểu sai nghĩa và lúng túng khi giải thích nghĩa của từ.
  • Chỉ ra những rào cản từ phía giảng dạy: 90% giáo viên phản ánh việc tự thiết kế các dạng bài tập phân hóa gặp nhiều khó khăn, tốn kém thời gian và nguồn tư liệu bổ trợ còn rất nghèo nàn; 80% giáo viên cho rằng thời lượng tiết học không đủ để tổ chức thực hành chuyên sâu.
  • Xây dựng được hệ thống tư liệu thực hành phong phú, đồng bộ gồm 18 bài tập thực hành được phân hóa thành 5 dạng chuyên biệt cho mỗi mảng kiến thức, đi kèm 4 trò chơi học tập có hướng dẫn tổ chức, thang điểm và gợi ý đáp án chi tiết. Hệ thống bài tập khai thác trực tiếp ngữ liệu từ các văn bản đọc trong chương trình Tiểu học và tục ngữ, ca dao truyền thống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định một số điểm hạn chế dựa trên phạm vi và điều kiện nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát thực trạng còn hẹp, mới chỉ dừng lại ở quy mô một trường tiểu học (Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, TP. Đà Nẵng) với 10 giáo viên và 160 học sinh, do đó tính đại diện cho các vùng miền khác nhau chưa cao.
  • Đề tài chỉ dừng lại ở việc khảo sát thực trạng và đề xuất hệ thống bài tập rèn kĩ năng trên cơ sở lý luận, chưa tiến hành tổ chức dạy học thực nghiệm sư phạm (chia lớp thực nghiệm và lớp đối chứng) để kiểm chứng, đo lường định lượng sự cải thiện kết quả học tập của học sinh bằng các công cụ thống kê toán học.
  • Hướng mở tiếp theo của nghiên cứu là tổ chức thực nghiệm sư phạm trên diện rộng, kiểm định tính khả thi và hiệu quả thực tế của hệ thống bài tập đã đề xuất; đồng thời mở rộng quy trình biên soạn bài tập rèn kĩ năng cho các lớp từ vựng khác như từ đồng âm và từ nhiều nghĩa trong chương trình Tiếng Việt tiểu học.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị ứng dụng thực tiễn rõ rệt đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học: Nguồn tài liệu tham khảo bổ ích trong quá trình học tập học phần Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học, thực tập sư phạm và chuẩn bị cho khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành.
  • Giáo viên tiểu học trực tiếp dạy lớp 4 và lớp 5: Cung cấp trực tiếp ngân hàng bài tập thực hành và kịch bản trò chơi học tập (như trò chơi "Ô chữ bí mật", "Đuổi hình bắt chữ") có thể ứng dụng ngay vào các tiết Luyện từ và câu hoặc các buổi sinh hoạt chuyên môn, tiết ôn tập cuối tuần.
  • Phần nội dung đáng tham khảo nhất: Bảng phân loại lỗi sai điển hình của học sinh tại Chương 2 (Bảng 3) và hệ thống bài tập phân biệt sắc thái nghĩa, phân tích tác dụng tu từ của từ ngữ tại Chương 3 (từ Bài tập 8 đến Bài tập 10).

Câu hỏi thường gặp

1. Khảo sát thực trạng trong khóa luận được triển khai trên cỡ mẫu và địa bàn nào?
Khảo sát được thực hiện tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, thành phố Đà Nẵng, bao gồm 10 giáo viên trực tiếp giảng dạy (5 giáo viên lớp 4, 5 giáo viên lớp 5) và 160 học sinh tiểu học (80 học sinh lớp 4, 80 học sinh lớp 5).

2. Học sinh lớp 4, 5 thường mắc phải những lỗi phổ biến nào khi học từ đồng nghĩa và trái nghĩa?
Theo kết quả điều tra giáo viên tại Bảng 3: 80% học sinh mắc lỗi chưa biết vận dụng từ vào sử dụng ngôn ngữ (đặt câu, kể chuyện); 70% học sinh mắc lỗi hiểu sai nghĩa của từ; 50% học sinh chưa nhận biết được từ; 40% tìm sai từ và 40% mắc các lỗi khác như nhầm lẫn từ đồng nghĩa với từ nhiều nghĩa hoặc sắp xếp các từ chưa phù hợp.

3. Khó khăn lớn nhất mà giáo viên tiểu học gặp phải khi dạy mảng kiến thức này là gì?
Theo Bảng 7 của khóa luận: Có đến 90% giáo viên cho rằng việc thiết kế các dạng bài tập về từ đồng nghĩa và trái nghĩa rất khó, mất nhiều thời gian; 90% giáo viên phản ánh tư liệu dạy học về mảng này còn hạn chế; 80% giáo viên nhận định thời lượng một tiết dạy không đủ để vừa truyền thụ kiến thức vừa tổ chức cho học sinh luyện tập.

4. Khóa luận phân chia hệ thống bài tập thực hành thành những dạng cụ thể nào?
Hệ thống bài tập cho cả từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa đều được xây dựng theo 5 dạng bài tập và 1 dạng trò chơi sư phạm: (1) Dạng bài tập điền từ; (2) Dạng bài tập thay thế từ; (3) Dạng bài tập đặt câu; (4) Dạng bài tập viết đoạn văn; (5) Dạng bài tập phân biệt sắc thái nghĩa (đối với từ đồng nghĩa) hoặc phân tích tác dụng (đối với từ trái nghĩa); (6) Dạng trò chơi học tập.

5. Mức độ nhận biết lý thuyết của học sinh về khái niệm từ đồng nghĩa và từ trái nghĩa đạt kết quả ra sao?
Đa số học sinh nắm chắc khái niệm cơ bản trên lý thuyết: 80% học sinh nhận định đúng khái niệm từ đồng nghĩa là từ có nghĩa giống nhau hoặc gần giống nhau; 82,5% học sinh nhận định đúng khái niệm từ trái nghĩa là những từ có nghĩa trái ngược nhau.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Vân đã giải quyết trọn vẹn các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra thông qua việc hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát chi tiết thực trạng dạy học tại Trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ và xây dựng hệ thống bài tập rèn kĩ năng có tính ứng dụng sư phạm cao. Các số liệu điều tra phản ánh chính xác khoảng cách giữa việc nắm bắt lý thuyết định tính và kĩ năng thực hành vận dụng ngôn ngữ của học sinh lớp 4, 5. Công trình là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên sư phạm và giáo viên tiểu học trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy phân môn Luyện từ và câu.