chương 1, chúng tôi đã tìm hiểu một số vấn đề về từ đồng nghĩa và trái nghĩa, vai trò của việc giảng dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong chương trình Tiếng Việt, đồng thời hiểu tâm lý của học sinh tiểu học. Từ đó làm cơ sở vững chắc để chúng tôi có thể thực hiện quá trình khảo sát dễ dàng và chính xác hơn. 16 Luan van Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VIỆC GIẢNG DẠY TỪ ĐỒNG NGHĨA VÀ TRÁI NGHĨA TRONG PHÂN MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU CHO HỌC SINH LỚP 4, 5. Mục đích điều tra Thu thập thông tin để tìm hiểu thực trạng việc dạy và học từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5, từ đây xây dựng một số bài tậpnhằm rèn kĩ năng sử dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh lớp 4, 5.
Đối tƣợng điều tra Đề tài khảo sát 160 học sinh lớp 4, 5 và 10 giáo viên đang làm công tác chủ nhiêm và giảng dạy lớp 4, 5 tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, TP Đà Nẵng, cụ thể là: - Khối lớp 4: 80 học sinh và 5 giáo viên. - Khối lớp 5: 80 học sinh và 5 giáo viên. Phƣơng pháp điều tra - Sử dụng phương pháp điều tra bằng anket đối với giáo viên dạy phân môn Luyện từ và câuvà học sinh khối lớp 4, 5. - Dự giờ các tiết dạy học Luyện từ và câu ở lớp 4, 5.
- Lấy ý kiến của 5 giáo viên dạy phân môn Luyện từ và câu ở lớp 4, 5. - Nghiên cứu các sản phẩm hoạt động của học sinh lớp 4, 5 trong phân môn Luyện từ và câuvề từ đồng nghĩa và trái nghĩa. Nội dung điều tra 2. Nội dung điều tra giáo viên - Nhận xét, đánh giá của giáo viên về khả năng nhận biết từ đồng nghĩa và trái nghĩa của học sinh.
- Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucho học sinh. - Những phương pháp thường dùng khi dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucho học sinh. - Những khó khăn thường gặp của giáo viên khi dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucho học sinh. Những nội dung điều tra được thể hiện cụ thể qua phiếu khảo sát giáo viên ở phần phụ lục.
Nội dung điều tra học sinh - Thái độ của học sinh khi học từ đồng nghĩa và trái nghĩa. - Tìm hiểu về khả năng nhận biết và giải nghĩa từ đồng nghĩa và trái nghĩa của học sinh. - Tìm hiểu về khả năng vận dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa của học sinh. - Tìm hiểu về quá trình học từ đồng nghĩa và trái nghĩa của học sinh.
Những nội dung điều tra được thể hiện cụ thể qua phiếu khảo sát học sinh ở phần phụ lục. Kết quả điều tra 2. Kết quả điều tra giáo viên Được sự cho phép của nhà trường, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, xin ý kiến của 10 giáo viên đang trực tiếp làm công tác giảng dạy phân môn Luyện từ và câulớp 4, 5 tại trường Tiểu học Huỳnh Ngọc Huệ, Thành phố Đà Nẵng thông qua phiếu trắc nghiệm (xem phụ lục). Kết quả thu được như sau: Câu 1: Theo thầy (cô), việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa có ý nghĩa như thế nào? Mức độ Cần thiết Bình thường Không cần thiết Số lượng 9/10 1/10 0/10 Tỉ lệ 90% 10% 0% Bảng 1: Nhận xét, đánh giá của giáo viên về ý nghĩa của việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa cho học sinh.
Từ bảng trên, ta vẽ được biểu đồ như sau: Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện sự cần thiết của việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa cho học sinh. (Đơn vị %) 10% Cần thiết Bình thường Không cần thiết 90% 19 Luan van Nhận xét:Như vậy, dựa vào kết quả biểu đồ 1, có thể thấy: Có 90% số giáo viên đều đồng tình cho rằng việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa là cần thiết; 10% số giáo viên cho rằng bình thường và 0% cho rằng không cần thiết. Kết quả cho thấy phần lớn các giáo viên đều hiểu được tầm quan trọng của việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong nhà trường Tiểu học và đồng ý việc dạy và rèn cho học sinh sử dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa là rất cần thiết, cần được quan tâm và chú trọng. Câu 2: Theo thầy (cô), khả năng nhận biết từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucủa học sinh lớp 4, 5 được đánh giá ở mức độ nào? Mức độ Giỏi Khá Trung bình Yếu Số lượng 1/10 6/10 2/10 1/10 Tỉ lệ 10% 60% 20% 10% Bảng 2: Nhận xét, đánh giá của giáo viên về khả năng nhận biết từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucủa học sinh lớp 4, 5 Nhận xét: Kết quả khảo sát ở bảng trên cho thấy: Có 10% số giáo viên cho rằng khả năng nhận biết từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucủa học sinh lớp 4, 5 đạt mức độ giỏi; 60% giáo viên chọn mức độ khá; 20% giáo viên chọn mức độ trung bình và 10% giáo viên chọn mức độ yếu.
Như vậy, có thể thấy khả năng nhận biết từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucủa học sinh lớp 4, 5 phần lớn chỉ đạt ở mức độ khá, mức độ giỏi chỉ chiếm số ít. Bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những học sinh chưa có khả năng nhận biết từ đồng nghĩa và trái nghĩa. 20 Luan van Câu 3: Khi làm các bài tập về từ đồng nghĩa và trái nghĩa, học sinh thường mắc phải những lỗi nào? Lỗi thường gặp Số lượng Tỉ lệ Chưa nhận biết được từ đồng nghĩa, trái nghĩa 5/10 50% Tìm sai từ đồng nghĩa và trái nghĩa 4/10 40% Hiểu sai nghĩa của từ đồng nghĩa, trái nghĩa 7/10 70% Chưa biết vận dụng từ đồng nghĩa, trái nghĩa vào 8/10 80% sử dụng ngôn ngữ như đặt câu, kể chuyện,. Lỗi khác 4/10 40% Bảng 3: Những lỗi học sinh thƣờng mắc phải khi làm các bài tập về từ đồng nghĩa và trái nghĩa Nhận xét: Theo kết quả khảo sát, học sinh thường mắc phải các lỗi cụ thể như sau:Có 5/10 giáo viên (chiếm 50%) cho rằng học sinh mắc lỗi chưa nhận biết được từ đồng nghĩa, trái nghĩa.
Lỗi tìm sai từ đồng nghĩa và tráin ghĩa có 4/10 giáo viên (chiếm 40%). Lỗi hiểu sai nghĩa của từ đồng nghĩa, trái nghĩa có 7/10 giáo viên (chiếm 70%). Có 8/10 giáo viên (chiếm 80%) cho rằng học sinh chưa biết vận dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa vào sử dụng ngôn ngữ như đặt câu, kể chuyện,. Ngoài ra, các thầy (cô) còn nêu thêm một số lỗi mà học sinh mắc phải như nhầm lẫn từ đồng nghĩa với từ nhiều nghĩa, sắp xếp từ đồng nghĩa và trái nghĩa chưa phù hợp,.
Qua một số tiết dự giờ thì chúng tôi thấy được nguyên nhân ban đầu dẫn đến kết quả trên là do thời gian thực hành còn ít khiến học sinh nắm kiến thức chưa chắc và chưa có thời gian để luyện tập nhằm khắc sâu hơn kiến thức cũng như vận dụng vào thực hành ngôn ngữ tiếng Việt. Như vậy, theo kết quả thống kê ý kiến của giáo viên cho thấy rằng học sinh mắc lỗi chưa biết vận dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa vào sử dụng ngôn ngữ như đặt câu, kể chuyện,. chiếm tỉ lệ cao nhất. Bên cạnh đó, học sinh còn mắc các lỗi như chưa nhận biết được từ đồng nghĩa và trái nghĩa, sử dụng từ 21 Luan van đồng nghĩa và trái nghĩa chưa hợp lí, nhầm lẫn từ đồng nghĩa với từ nhiều nghĩa, sắp xếp từ đồng nghĩa và trái nghĩa chưa phù hợp,.
Từ đây, chúng tôi đề xuất biện pháp là xây dựng một số bài tập để rèn kĩ năng sử dụng từ đồng nghĩa và trái nghĩa cho học sinh. Câu 4: Thầy (cô) thường sử dụng những phương pháp dạy học nào trong khi dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa ở phân môn Luyện từ và câuvà mức độ sử dụng phương pháp đó ra sao? Mức độ Thường Thỉnh Không bao giờ xuyên thoảng Phương pháp SL TL SL TL SL TL Phương pháp trực quan 10/10 100% 0/10 0% 0/10 0% Phương pháp thảo luận nhóm 8/10 80% 2/10 20% 0/10 0% Phương pháp trò chơi 5/10 50% 3/10 30% 2/10 20% Phương pháp thực hành, luyện 9/10 90% 1/10 10% 0/10 0% tập Bảng 4: Các phƣơng pháp dạy học từ đồng nghĩa và trái nghĩa cho học sinh trong phân môn Luyện từ và câuvà mức độ sử dụng Nhận xét: Khi dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucho học sinh, giáo viên thường sử dụng các phương pháp dạy học với mức độ cụ thể như sau: - Phương pháp trực quan được 100% giáo viên sử dụng ở mức độ thường xuyên, không có giáo viên thỉnh thoảng sử dụng hay không sử dụng phương pháp này trong khi dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa cho học sinh. - Phương pháp thảo luận nhóm được 80% giáo viên lựa chọn sử dụng ở mức độ thường xuyên, 20% giáo viênsử dụng ở mức độ thỉnh thoảng và không có giáo viên nào không sử dụng phương pháp này. 22 Luan van - Phương pháp trò chơi được 50% giáo viên sử dụng ở mức độ thường xuyên, có 30% giáo viên sử dụng ở mức độ thỉnh thoảng và có 20% giáo viên không sử dụng phương pháp này khi dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câu cho học sinh.
- Phương pháp thực hành, luyện tập được 90% giáo viên sử dụng ở mức độ thường xuyên, có 10% giáo viên sử dụng ở mức độ thỉnh thoảng. Không có giáo viên nào không sử dụng phương pháp này trong khi dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa cho học sinh. Như vậy, các phương pháp trực quan, thảo luận nhóm, trò chơi, thực hành luyện tập được phàn lớn giáo viên sử dụng ở mức độ thường xuyên khi dạy từ đồng nghĩa và trái nghĩa trong phân môn Luyện từ và câucho học sinh. Trong đó, phương pháp trò chơi là phương pháp mà giáo viên sử sụng còn hạn chế.
Nguyên nhân là do số lượng học sinh trong một lớp khá đông khiến giáo viên khó có thể tổ chức cho tất cả các em cùng hoạt động, đồng thời việc chuẩn bị, tổ chức trò chơi mất khá nhiều thời gian của một tiết học.