CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.Vai trò của ngữ pháp trong việc dạy tiếng. Trong địa hạt dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, người ta thường cung cấp cho người học rất nhiều ngữ liệu bao gồm: ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp. Trong đó việc giảng dạy ngữ pháp có vai trò rất quan trọng và có tính quyết định trong việc xây dựng khả năng giao tiếp của người học. Trước kia đã có nhiều ý kiến trái chiều về vai trò của ngữ pháp trong việc dạy và học tiếng.
Có những người phản đối cũng có những người đề cao vai trò của việc dạy ngữ pháp. Về phía những người phản đối phải kể đến như Prabhu (1987), ông chỉ chú trọng vào phát triển năng lực giao tiếp, và cho rằng không cần ghi nhớ các quy tắc ngữ pháp. Ngoài Prabhu, Newmark (1966), Corder (1981), Pieneman (1984) cũng đều cho rằng dạy ngữ pháp làm cho người học buồn chán, không hiệu quả nên họ phản đối việc dạy ngữ pháp. Trái ngược với các nhà ngôn ngữ trên thì Stevick (1982) và Selinger (1979) chỉ rõ, tri thức ngữ pháp được dạy lúc đầu được lưu giữ ở trí nhớ ngắn hạn, sau đó chuyển lên vùng trí nhớ dài hạn và nhớ vĩnh viễn được sử dụng khi nói năng – đó là quá trình thụ đắc ngôn ngữ.
Đồng thời, Pienemann (1985) cũng đưa ra kết quả nghiên cứu là đối với người học không có mục đích, động lực và hứng thú thì việc dạy ngữ pháp không có kết quả, nhưng lại có kết quả rất tốt với học viên có hứng thú học ngữ pháp. Dù thế nào thì chúng ta cũng thấy rằng ngữ pháp có một vị trí đắc địa trong việc dạy ngoại ngữ. Ngữ pháp giúp tăng độ chính xác trong ngôn ngữ của người học, đẩy nhanh quá trình thụ đắc, giảm tối đa cách diễn đạt không phù hợp. Biết rõ vai trò và tầm quan trọng của ngữ pháp nhưng không phải tác giả nào cũng thành công khi biên soạn sách giáo trình bởi ngữ pháp cần phải được giới thiệu một cách thực tế, khoa học, có tính ứng dụng cao, phù hợp với 10 z trình độ, đáp ứng nhu cầu của đối tượng thì mới có thể có hiệu quả cho việc giảng dạy.
Ngữ pháp giao tiếp 1. Khái niệm ngữ pháp giao tiếp Nói đến ngữ pháp, thường hình thành hai khái niệm: ngữ pháp lý thuyết và ngữ pháp thực hành. Ngữ pháp lý thuyết được hiểu là ngữ pháp miêu tả, nó miêu tả một đồng đại, trong đó ngữ pháp được thể hiện ra như một hệ quy tắc cấu trúc các đơn vị từ đơn giản đến phức tạp và đưa các đơn vị ấy vào sử dụng để diễn đạt tư duy của người Việt cũng như tư duy của người học tiếng Việt. 45] Bởi vì tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập – phân tích nên có ba phương thức ngữ pháp chính: - Trật tự từ - Dùng từ phụ và từ hư - Dùng các phương tiện tình thái khá đa dạng.
Khác với ngữ pháp lý thuyết, ngữ pháp thực hành (hay còn được gọi với các tên khác như “ngữ pháp giao tiếp”, “ngữ pháp hội thoại”) - chính là ngữ pháp trong quá trình giao tiếp thường đưa ra các quy tắc ngữ pháp của tiếng Việt đến người sử dụng, người học, theo định hướng giao tiếp thông qua các kỹ năng nghe, nói, đọc viết và có sự đối chiếu với chuẩn mực. Đối với người học tiếng Việt như ngôn ngữ thứ hai họ có thể tái lập được hệ thống ngữ pháp của ngôn ngữ cùng với việc từng bước mở rộng khả năng giao tiếp trong khi học. Trong việc dạy tiếng, mối quan hệ giữa ngữ pháp miêu tả và ngữ pháp thực hành là rất quan trọng. Khả năng miêu tả ngữ pháp của một ngôn ngữ có ảnh hưởng rõ tới khả năng thực hành tiếng.
Khi học ngữ pháp, người học sẽ vận dụng nó trong những câu nói cụ thể trong quá trình giao tiếp. Chính vì vậy ở đây chúng tôi muốn đề cập đến chính là khái niệm “ngữ pháp giao tiếp”. 11 z Ngữ pháp giao tiếp (Communicative Grammar) luôn đi theo hướng thực hành. Ngữ pháp giao tiếp khác với ngữ pháp cổ điển, nó cùng lúc chỉ ra các quy tắc kết hợp lời nói trên những bậc khác nhau và các quy tắc sử dụng chúng trong những tình huống giao tiếp khác nhau để diễn đạt tư duy [10] Các nhà ngữ pháp chức năng có cùng chung một nhận thức cốt lõi về bản chất của hành động ngôn từ, với ngữ pháp giao tiếp thì câu là đơn vị ngữ pháp trung tâm, là đơn vị căn bản của việc truyền đạt thông tin còn các đơn vị khác (từ, đoản ngữ, các tổ hợp đẳng lập,…) chỉ là phương tiện thuộc về một bậc thứ cấp trên phương diện tổ chức câu.
Trong mối tương quan giữa nội dung và hình thức, hay nói cách khác là ngữ nghĩa và ngữ pháp, đối với ngữ pháp giao tiếp thì ngữ nghĩa của phát ngôn là cơ bản. Một hình thức ngữ pháp có thể dùng để biểu đạt hai ba nội dung nghĩa khác nhau cũng như một nội dung ngữ nghĩa cũng có thể được biểu đạt bằng hai ba hai ba hình thức ngữ pháp. Thực tế, mối quan hệ giữa ngữ pháp và ngữ nghĩa không phải là một đối một. Ngữ pháp giao tiếp, theo chức năng luận sau mấy chục năm hình thành vẫn được xác lập với ba bộ phận có quan hệ chặt chẽ với nhau: - Kết học (cú học) - Nghĩa học - Dụng học Ở bình diện kết học, ngữ pháp giao tiếp lấy cấu trúc đề - thuyết là cấu trúc cú pháp cơ bản và các phân tích kết học cũng xoay quanh cấu trúc này.
Trong các sách giáo trình tiếng Việt dạy cho người nước ngoài hiện nay vẫn thường phân tích câu theo cấu trúc C – V (chủ ngữ - vị ngữ), ngữ pháp chức năng thay thế lối phân tích đó bằng cấu trúc đề - thuyết. Xét trên phương diện thông báo, câu trong tiếng Việt được biểu đạt bằng một cấu trúc ngữ pháp song phần kết hợp với nhau một cách hữu cơ và được đánh dấu ngữ pháp 12 z trong giao tiếp. Vế đứng trước là Đề ngữ, vế đứng sau là Thuyết ngữ. Ranh giới giữa đề ngữ và thuyết ngữ được đánh dấu ngữ pháp bắc các từ công cụ “thì, là”.
Đề là biểu thức thứ nhất, luôn đứng trước có thể thêm “thì” (là, mà) để đánh dấu ranh giới giữa hai vế. Về nghĩa, đề luôn luôn là điểm xuất phát của thông tin về sự tình. Nó không mô tả sự tình mà chỉ giới thiệu chủ thể hoặc không gian, thời gian ứng với sự tình. Trong một số trường hợp, biểu thức Đề có thể vắng trong đối thoại khi người nghe biết rõ người nói đề cập đến sự tình gì.
Đề có thể là một chủ thể, hoặc có thể là một cái khung nào đó chỉ ra phạm vi có giá trị với Thuyết. Thuyết là biểu thức thứ hai, trong tiếng Việt luôn đứng sau đề, nó nói rõ sự tình của câu, mô tả thông tin sự tình. Trong câu đơn, trên nguyên tắc, thuyết trùng với vị ngữ trong phân tích ngữ pháp truyền thống, nó thể hiện bằng động từ, tính từ, danh từ hoặc giới ngữ. Thuyết được biểu đạt sự tình của câu nên đa phần biểu thức Thuyết được diễn đạt bằng cấu trúc động ngữ và tính ngữ.
Trong cấu trúc của biểu thức Đề và biểu thức Thuyết thì ngữ pháp chức năng tuy thiên về các hành động ngôn từ, nhưng cái nghĩa đó luôn hiện diện trong các phương tiện ngữ pháp. Ngữ pháp giao tiếp trong công tác dạy ngoại ngữ Hiện nay công tác dạy tiếng Việt cho người nước ngoài đã phát triển khá mạnh. Nhiều tài liệu, tập bài giảng, sách giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài được phát hành. Nhiều thành công đã đạt được nhưng cũng có nhiều hạn chế có thể nhận thấy rõ.
Trong đó có những mặt yếu kém như đội ngũ giáo viên chưa chuyên nghiệp, phương pháp giảng dạy chưa phù hợp và giáo trình trình chưa hoàn thiện. Trào lưu mới là ngữ pháp chức năng (functional grammar) phát triển mạnh mẽ trong ngữ học quốc tế nhưng lại đến Việt Nam chưa lâu. Cả một 13 z thời gian dài, việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài chỉ tập trung nhiều vào việc truyền đạt các quy tắc ngữ pháp, nhất là các quy tắc hình thức, việc giảng dạy ngữ pháp chỉ chú ý đến cú học (syntax), được hiểu như là hệ thống của các quy tắc kết hợp thuần túy từ với từ để tạo ra các đơn vị cấu trúc hình thức của câu. Phù hợp với yêu cầu dạy tiếng theo định hướng tình huống giao tiếp và theo phương pháp thực hành có ý thức hiện nay nhưng những quan niệm về ngữ pháp chức năng còn quá thô sơ và chưa có đảm bảo chất lượng.
Trong khi đó, trên thế giới, phương pháp dạy ngữ pháp giao tiếp ra đời từ cuối những năm 60 ở Anh và đã lan rộng sang các nước phương Đông khoảng 20 năm cuối thế kỷ XX. Phương pháp này đã khắc phục được những hạn chế và kế thừa những ưu điểm của các phương pháp truyền thống (phương pháp ngữ pháp - dịch, phương pháp nghe – nói, phương pháp tình huống, phương pháp trực chỉ…) trước kia. Chúng ta nhận thức được những điểm mạnh của nó nhưng chúng ta chưa áp dụng một cách có hiệu quả trong việc dạy tiếng cho người nước ngoài. Trong bài “Ngữ pháp chức năng giúp gì cho việc dạy tiếng Việt ở nước ta” trong cuốn “Tiếng Việt và việc dạy tiếng Việt cho người nước ngoài” (1997), GS.
Đinh Văn Đức đã trình bày: “Khi ngữ pháp chức năng xuất hiện, người ta tôn trọng cú học như một tất yếu bởi sự thực cú học vẫn là một yếu tố không thể thiếu nhưng ngữ pháp chức năng đã bổ sung thêm nghĩa học và dụng học. Đây chính là cơ sở sâu xa trong việc dạy tiếng theo tình huống giao tiếp. Nghĩa của câu không chỉ là nghĩa của các từ trong câu cộng lại mà còn bao gồm các tham tố tạo nghĩa khác như bối cảnh của một phát ngôn và mục đích phát ngôn” [2, tr. Ngữ pháp giao tiếp là một tập hợp các công cụ và kỹ năng để tiếp cận tiếng Việt như một ngoại ngữ theo nguyên tắc: “Người bản ngữ bao giờ cũng đúng”.Cao Xuân Hạo thì “mỗi con người bình thường, khi đã biết 14 z nói, đều nói và hiểu được tiếng mẹ đẻ một cách hoàn hảo về cơ bản, ít nhất là về phương diện ngữ pháp”.
Cũng theo ông thì khi đến năm tuổi một đứa trẻ đã nắm được toàn bộ ngữ pháp cơ bản của tiếng mẹ đẻ một cách không hiển ngôn.