Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2: Thực trạng dạy học môn tiếng Việt cho trẻ điếc lớp 2 trên địa bàn Hà Nội Chương 3: Đề xuất thử nghiệm một số giải pháp trong phương pháp dạy học môn tiếng Việt cho trẻ điếc lớp 2 5 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Hệ thống khái niệm cơ bản Tật điếc: Sự tiếp nhận âm thanh của bộ máy thính giác có thể không đầy đủ và trung thực, thậm chí bị mất… Hiện tượng này có thể xảy ra ngay từ tai ngoài. Trong ống tai có nhiều ráy, làm cản trở sóng âm vào màng hoặc màng nhĩ quá dày, kém rung động làm ảnh hưởng đến âm thanh nghe được. Đặc biệt ở tai giữa rất hay bị viêm nhiễm (chảy mủ tai) làm cho âm thanh không thể truyền vào tai trong làm chúng ta không nghe được hoặc nghe rất ít.
Đặc biệt tai trong là bộ phận rất nhạy cảm với một số độc tố làm suy giảm khả năng nghe và khả năng hiểu gây ra mất thính lực nặng. Trẻ khiếm thính ( Heading impaired children): trẻ khiếm thính là những trẻ bị suy giảm chức năng nghe ở các mức độ khác nhau, dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của trẻ Trường chuyên biệt ( Speacail school) : Là loại hình trường học được thiết lập dành riêng cho những trẻ em không học trường bình thường. Ngƣời khiếm thính: biểu hiện, nguyên nhân, phân loại Biểu hiện: Người khiếm thính là người có sự suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau, dẫn đến sự khó khăn trong tri giác âm thanh, trong đó có âm thanh ngôn ngữ, làm hạn chế khả năng giao tiếp bằng lời và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của người. Hay đơn giản hơn, khi một đứa người không thể nghe được âm thanh như những đứa người cùng tuổi, chúng ta nói rằng, người bị khiếm thính.
Việc hình thành kĩ năng giao tiếp cho người khiếm thính, thì khó khăn lớn nhất là dạy người học nói. So sánh với những người mắc khuyết tật khác và những người bình thường, người khiếm thính có những khó khăn, 6 z thuận lợi, được đánh giá theo các kĩ năng cần thiết cho việc hình thành hoạt động giao tiếp dưới đây: a. Lời nói: Có thể sử dụng âm thanh nhưng sẽ gặp khó khăn nghiêm trọng khi nói b. Hiểu: Thường gặp khó khăn nghiêm trọng khi hiểu ngôn ngữ nói nhưng có thể hiểu tình huống và cử chỉ c.
Cử chỉ: Biết sử dụng cử chỉ để thể hiện d. Chơi đùa: Giống như những người cùng tuổi khác e. Sự chú ý: Giống như những người cùng tuổi khác f. Nghe: Khó khăn.
Mức độ nghiêm trọng của nó tùy thuộc vào sức nghe của người khiếm thính. Bắt chước: Giống như những người cùng tuổi khác, nhưng khó khăn khi bắt chước âm thanh hoặc từ. Các hoạt động thường ngày: Giống như những người cùng tuổi khác. Nguyên nhân Ở người, tai là cơ quan thính giác, vì vậy, tật khiếm thính là do những khuyết tật ở tai gây nên.
Tuy nhiên, không giống với những tật khác, rất ít người bị khiếm thính được phát hiện kịp thời. Một người khiếm thính trông hoàn toàn bình thường.1 Lát cắt dọc của tai Âm thanh từ ngoài, đập vào màng nhỉ, qua tai giữa vào ốc tai 8 z Hình 1. Sự kết nối những sợi nang lông trong ốc tai và dây thần kinh thính giác Hình 1. Thần kinh thính giác chuyển tín hiệu âm thanh lên não Phân loại Có nhiều cách phân loại điếc, nhưng cách phân loại dựa trên tiêu chí thính lực của người là phổ biến hơn cả.
Mức độ Khả năng nghe Điếc nhẹ ( 20 – 40dB) Nghe được những âm thanh có âm lượng lớn hơn bình thường Điếc trung bình ( 40 – 70dB) Chỉ nghe được nhờ máy trợ thính Điếc nặng, điếc sâu ( 70 – 90dB) Chỉ nghe được rất ít, dù có đeo máy trợ thính Bảng 1. Bảng phân loại mức độ điếc 9 z 1. Những nét đặc trưng tâm lí của người khiếm thính có ảnh hưởng tới việc phát triển ngôn ngữ kí hiệu Những đặc điểm tâm lý của người khiếm thính cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới việc phát triển Ngôn ngữ kí hiệu, trong đó phải kể đến hai hoạt động chính của tâm lí đó là: cảm giác và tri giác Bất kì quá trình nhận thức nào cũng bắt đầu từ hai quá trình tâm lí là cảm giác và tri giác. Trong đó, cảm giác là nền tảng cảm tính của nhận thức, nó phản ánh những thuộc tính riêng lẻ của sự vật còn tri giác lại là hình ảnh toàn vẹn của sự vật trong nhận thức của chúng ta.
Trong những dạng cảm giác khác nhau, thì cảm giác nghe và cảm giác nhìn là hai loại cảm giác cơ bản nhất trong việc thu nhận thông tin, qua đó con người mới nhận thức được thế giới. Người khiếm thính do bị mất sức nghe, vì vậy, sẽ mất luôn cả những kiến thức mà họ có thể tiếp nhận được nhờ cảm giác nghe đem lại. Trong đó, hậu quả nghiêm trọng nhất là việc không tiếp nhận được âm thanh lời nói. Sự phá hủy tri giác về tiếng nói của người xung quanh kéo theo sự phá hủy quá trình hình thành ngôn ngữ.
Trong thực tế, người khiếm thính sẽ bị câm nếu không được phát hiện sớm những khó khăn về thính giác và được hỗ trợ bằng những phương pháp chuyên biệt trong việc tiếp nhận ngôn ngữ. Do đó, mà với người khiếm thính, cảm giác thị giác và cảm giác vận động có vai trò đặc biệt quan trọng. Thị giác của con người đóng vai trò chủ yếu trong nhận thức thế giới xung quanh và trong việc tiếp nhận ngôn ngữ. Như trên đã nhận xét, quy luật bù trừ nhiều khi đem lại cho con người những khả năng vượt trội, trong trường hợp này, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, cảm giác và tri giác nhìn ở người khiếm thính không kém so với người thường, thậm chí còn tích cực và tinh nhạy hơn.
Bởi vậy, người khiếm thính thường để ý đến chi tiết nhỏ của thế giới xung quanh mà người thường không để ý. Điều này có ý 10 z nghĩa rất quan trọng trong việc học ngôn ngữ kí hiệu. Cũng tương tự như thế với cảm giác vận động của con người. Vài nét về trẻ điếc 1.2 Đặc điểm về cảm giác, tri giác Trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác, tri giác thì thính giác có vai trò quan trọng đặc biệt.
Trên cơ sở này diễn ra sự phát triển các hình thái chủ động và bị động của lời nói. Nghe được tiếng nói của người xung quanh, đứa trẻ bắt chước và bập bẹ được những từ đầu tiên. Nhờ lời nói, đứa trẻ nhận được những thông tin cơ bản, lĩnh hội những kiến thức và kinh nghiệm mà người lớn truyền cho. Sự phá hủy tri giác về tiếng nói của những người xung quanh tự nhiên sẽ kéo theo sự phá hủy quá trình hình thành ngôn ngữ tích cực.
Trẻ Điếc không thể tự mình lĩnh hội được những ngôn ngữ một cách tự nhiên. Sự thực là, trẻ Điếc sẽ bị câm nếu trẻ không được phát hiện sớm. Với trẻ bình thường, chúng chủ yếu dựa vào cảm giác nghe và vận động, còn tri giác là thứ yếu. Với trẻ Điếc thì ngược lại, cảm giác thị giác và cảm giác vận động là hai yếu tố hình thành nên nhận thức ở trẻ Điếc; trong đó, thị giác trở thành yếu tố chủ đạo và chủ yếu nhất để hình thành tiếng nói.
Thậm chí có trẻ chỉ dựa vào tri giác để tiếp nhận ngôn ngữ. Rất nhiều những nghiên cứu đã chứng minh được rằng cảm giác và tri giác của trẻ Điếc không hề kém so với trẻ thường thậm chí còn nhận bén hơn. Ví dụ: - Phân biệt màu sắc: Việc phân biệt màu sắc gần giống nhau như: xanh - tím, đỏ - da cam thì trẻ Điếc phân biệt tinh tế hơn so với trẻ bình thường. - Phân biệt người tiếp xúc: Trẻ Điếc có thể nhận thấy từng chi tiết về khuôn mặt, thân hình, cách ăn mặc, màu sắc và chất liệu của quần áo nhanh hơn trẻ bình thường.
11 z - So sánh những bức tranh của trẻ Điếc với trẻ bình thường, chúng ta thấy bức tranh của trẻ Điếc có nội dung phong phú tỉ mỉ hơn và đặc biệt là khi vẽ người. Đặc điểm về trí nhớ Một công trình nghiên cứu quá trình ghi nhớ ba dạng từ sau của học sinh Điếc và học sinh nghe được: - Những từ biểu thị đồ vật và hiện tượng thu nhận bằng mắt. - Những từ biểu thị chất lượng của những đồ vật thu nhận nhờ cơ quan xúc giác. - Những từ biểu thị hiện tượng âm thanh.
Kết quả thu được cho thấy rằng, giữa học sinh Điếc và học sinh nghe - nói có sự khác nhau rất ít trong việc ghi nhớ những từ trong phạm vi lĩnh hội bằng mắt. Và trẻ Điếc khác xa trẻ nghe được trong việc ghi nhớ những từ biểu thị âm thanh. Trong khi đó, so với trẻ nghe được, trẻ Điếc ghi nhớ tốt hơn những từ biểu thị chất lượng của những đồ vật tiếp nhận nhờ xúc giác và chúng có thể ghi nhớ được những từ biểu thị những hiện tượng âm thanh. Thậm chí chúng có khả năng nhớ tốt hơn người khác những từ biểu thị những âm phát ra từ những con vật nuôi trong nhà và những từ phát ra từ tiếng máy; khó ghi nhớ những từ biểu thị những âm thanh cường độ nhỏ.
Đặc điểm về tƣởng tƣợng, tƣ duy và tính sáng tạo Trẻ Điếc thiếu hụt ở mức lớn khả năng tưởng tượng. Nguyên nhân là do quá trình hình thành ngôn ngữ ở trẻ không đầy đủ và hoàn chỉnh nên tư duy trừu tượng bị hạn chế. Mặc dù thị giác của trẻ đạt mức độ cao và sống động nhưng sự hình thành tư duy bằng khái niệm quá chậm, làm chúng rất khó thoát khỏi ý nghĩ cụ thể, nghĩa đen của từ. Điều đó làm khó khăn cho sự hình thành hình tượng mới.
Ở trẻ Điếc, trước thời gian tiếp nhận ngôn ngữ hoặc ngay cả trong quá trình tiếp nhận ngôn ngữ đã có thời gian dừng lại ở mức độ tư duy trực quan – 12 z hình tượng, nghĩa là chúng suy nghĩ không bằng lời mà bằng những hình ảnh, hình tượng. Sự diễn đạt bằng hình tượng được trẻ Điếc tri giác với nội dung sự vật theo nghĩa đen của nó. Cách diễn đạt đó khơi dậy ở trẻ những biểu tượng cụ thể, những hình ảnh đơn nhất, gây khó khăn cho việc mở rộng hiểu biết về hiện tượng và sự vật. Bởi vậy, ta không ngạc nhiên khi hỏi trẻ Điếc “Bàn tay vàng là gì?” trẻ sẽ trả lời “ làm bằng vàng”, “tay màu vàng”.