MỞ ĐẦU. Lý do chọn đề tài. Tổng quan vấn đề nghiên cứu. Ý nghĩa của nghiên cứu.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu. Đối tượng và khách thể nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu. Câu hỏi nghiên cứu.
Giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu. Phương pháp luận. Phương pháp thu thập thông tin.
12 NỘI DUNG CHÍNH. 16 Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY NGHỀ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT. Một số khái niệm cộng cụ. Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu.
Lý thuyết nhu cầu. Lý thuyết hệ thống. Lý thuyết vai trò. Cơ sở pháp lý của hoạt động dạy nghề cho trẻ khuyết tật.
Đặc điểm tâm lý thể chất của trẻ khuyết tật từ 14 -18 tuổi. Khái quát về hoạt động dạy nghề cho trẻ khuyết tật hiện nay. Đặc điểm của địa bàn nghiên cứu (Trường dạy trẻ khuyết tật huyện Thanh Trì). 30 Tiểu kết chƣơng 1:.
ĐẶC ĐIỂM, NHU CẦU HỌC NGHỀ CỦA TRẺ KHUYẾT TẬT, ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN VÀ CƠ SỞ VẬT CHẤT CHO DẠY NGHỀ CỦA TRƢỜNG DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT HUYỆN THANH TRÌ. Đặc điểm học sinh khuyết tật Trường dạy trẻ khuyết tật huyện Thanh Trì. Nhu cầu học nghề của trẻ khuyết tật nhà trường. Đội ngũ giáo viên.
Cơ sở vật chất của nhà trường. 47 Tiểu kết chƣơng 2:. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DẠY NGHỀ CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TẠI TRƢỜNG DẠY TRẺ KHUYẾT TẬT HUYỆN THANH TRÌ .1 Hoạt động dạy nghề may. Mục đích hoạt động dạy nghề may.
Đối tượng dạy nghề may. Nội dung giảng dạy. Phương pháp giảng dạy. Hoạt động tìm đầu ra cho sản phẩm học sinh trường nghề.
Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giảng dạy. Hiệu quả của hoạt động dạy nghề may. Hoạt động dạy nghề thêu. Mục đích của hoạt động dạy nghề thêu.
Đối tượng dạy nghề thêu. Nội dung giảng dạy. Phương pháp giảng dạy. Hoạt động tìm đầu ra cho sản phẩm học sinh trường nghề.
Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình giảng dạy. Hiệu quả của hoạt động dạy nghề thêu. 92 Tiểu kết chƣơng 3. 94 z KẾT LUẬN, KHUYẾN NGHỊ.
97 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lý do chọn đề tài TKT là một trong những nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Từ lâu, TKT đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều lĩnh vực khoa học. Trong y học, sức khỏe cộng đồng, thiết kế kỹ thuật.
TKT được quan tâm dưới góc độ làm giảm bớt ảnh hưởng của dạng tật để cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của các em bớt khó khăn hơn. Đồng thời TKT còn đặc biệt được quan tâm, nghiên cứu trong ngành xã hội học, CTXH để hỗ trợ các em sớm hòa nhập với cộng đồng. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 7,2 triệu NKT từ 5 tuổi trở lên, chiếm 7,8% dân số; NKT đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%; khoảng 58% NKT là nữ; 28,3% NKT là trẻ em; 10,2% NKT là người cao tuổi; khoảng 15% NKT thuộc hộ nghèo [4]. Theo thống kê, trong 5 năm từ 2010 đến 2015, có khoảng 120.000 người khuyết tật được hỗ trợ dạy nghề và tạo việc làm thông qua các chương trình hỗ trợ đào tạo nghề, cho vay vốn.
Bên cạnh đó, vẫn tồn tại một thực trạng là số người khuyết tật được học nghề hiện còn quá ít so với nhu cầu. Tỷ lệ người khuyết tật tìm được việc làm sau đào tạo nghề còn thấp, chủ yếu là tự tạo việc làm [3]. TKT chịu bao thiệt thòi về cơ hội học tập, giao lưu bạn bè, hòa nhập với cộng đồng. Các em cũng đang khao khát và cũng mong ước như bao đứa trẻ bình thường khác được cắp sách tới trường, được giao lưu với bạn bè, thầy cô, được đào tạo kỹ năng nghề nghiệp xua đi bao nỗi cay đắng bất hạnh trong cuộc sống.
Hoạt động dạy nghề cho NKT nói chung, dạy nghề cho TKT nói riêng luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta trong suốt những năm qua. Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chủ trương chính sách đào tạo nghề và tạo việc làm cho TKT giúp các em có được những cơ hội việc làm trong tương lai, xóa đi những mặc cảm tự ti về bản thân để hòa nhập vào cộng đồng xã hội. Tuy nhiên, hoạt động dạy nghề cho NKT chủ yếu tập trung 1 z vào người lớn khuyết tật mà chưa thật sự chú trọng tới hoạt động dạy nghề cho TKT. Không được quan tâm đào tạo và định hướng nghề nghiệp phù hợp khiến các em bỡ ngỡ, tự ti khi bước vào độ tuổi lao động.
Không có kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp vững chắc nên các em gặp nhiều khó khăn khi tìm kiếm cơ hội việc làm. Tại huyện Thanh Trì – Thành phố Hà Nội, số lượng TKT từ 6 đến 18 tuổi là trên 520 người. Trong đó khuyết tật vận động là 170 người, khuyết tật nghe nói là 85 người, khuyết tật trí tuệ là 145 người, khuyết tật nhìn là 45 người [13]. Trong giai đoạn Thanh Trì cùng thủ đô đẩy mạnh công nghiệp hóa nền kinh tế và xã hội, vấn đề giáo dục, đào tạo, dạy nghề cho TKT là một vấn đề trọng yếu không chỉ tạo điều kiện cho TKT hòa nhập với cộng đồng, phát triển kinh tế bền vững mà còn giữ nhiệm vụ to lớn giúp huyện Thanh Trì giảm bớt gánh nặng an sinh xã hội, chung tay thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của thủ đô.
Vấn đề đặt ra là thực trạng dạy, đào tạo nghề cho TKT trên địa bàn huyện Thanh Trì đang diễn ra như thế nào và cần làm gì để hoạt động đào tạo nghề cho TKT ở huyện Thanh Trì đạt hiệu quả tốt nhất, đề xuất khuyến nghị về giải pháp phù hợp với tình hình địa phương của huyện Thanh Trì, từ đó có thể nghiên cứu áp dụng trên phạm vi toàn thành phố. Xuất phát từ thực trạng trên tôi chọn đề tài: “Hoạt động dạy nghề cho TKT tại Trường dạy TKT huyện Thanh Trì” làm đề tài nghiên cứu của mình. Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung và các chính sách, quy định pháp luật hiện hành cho TKT, luận văn làm rõ hoạt động dạy nghề cho TKT tại Trường dạy TKT huyện Thanh Trì, từ đó phát huy được vai trò của NV CTXH trong nâng cao hiệu quả hoạt động dạy nghề cho TKT. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Việc nghiên cứu về hoạt động dạy nghề cho NKT nói chung, dạy nghề cho TKT nói riêng đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu khoa học xã hội và 2 z cũng được báo chí đặc biệt quan tâm.
Có thể kể ra những nghiên cứu liên quan đến NKT nói chung và TKT nói riêng như: Trong khuôn khổ chương trình Hội thảo “An sinh xã hội cho người khuyết tật, kinh nghiệm quốc tế và phương pháp tiếp cận ở Việt Nam” (2015), Ts.Matthias Meissner - Giảng viên Đại học Bochum, Cộng hòa Liên bang Đức đã chia sẻ một số kinh nghiệm của Đức trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội với NKT. Ông đã đề cập tới thực trạng về NKT tại Đức và những chính sách an sinh xã hội với NKT mà Đức đang triển khai. Một trong những chính sách hữu hiệu giúp NKT nói chung và TKT nói riêng hòa nhập với cộng đồng là việc triển khai những chính sách về giáo dục, dạy nghề và tạo việc làm cho NKT tuy nhiên vẫn phải chú trọng tới quyền tự quyết của NKT. Đây thật sự là kinh nghiệm quan trọng trong thực hiện các chính sách với NKT mà Việt Nam nên học hỏi.
Tuy nhiên nguồn ngân sách của Đức dành cho việc thực hiện các chính sách an sinh với NKT rất lớn nên Đức có nhiều điều kiện, nhiều cơ hội để trợ giúp cho NKT trong giáo dục, dạy nghề và tạo việc làm hơn so với Việt Nam. Việt Nam cần ứng dụng những kinh nghiệm này một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể của đất nước để có thể thực hiện tốt nhất những chính sách về giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm cho NKT nói chung và TKT nói riêng [26]. Nghiên cứu của Tổ chức Cứu trợ trẻ em Thuỵ Điển (A. Swedish Save the Children; Radda Barnen) chỉ ra rằng các hoạt động trợ giúp TKT hiệu quả nhất là giáo dục, dạy nghề và kết nối các cơ hội việc làm.
Trên cơ sở thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em là một nguyên tắc cơ bản, nguyên tắc này để đảm bảo cho tất cả các quyền khác mà trẻ em đều có quyền được hưởng. Ngiên cứu khuyết tật hoà nhập xã hội ở Ieland, Brenda Gannon and Brian Nolan (2011), nghiên cứu đã xem xét NKT có hoàn cảnh khó khăn khi hoà nhập xã hội, bởi các yếu tố trình độ học vấn, kinh tế và tham gia xã hội…Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra mặc cảm tự ti là một trong những yếu 3 z tố cản trở NKT tham gia hoà nhập xã hội và cuộc sống hàng ngày. Báo cáo còn chỉ ra sự khác biệt giữa NKT và người bình thường trong việc tham gia hoà nhập cộng đồng. Thông qua việc thống kê các số liệu thu thập được để đánh giá mức độ nghèo, sự tham gia vào giáo dục, y tế, việc làm… của NKT.
Nghiên cứu còn nhấn mạnh tới yếu tố NKT ảnh hưởng tới đời sống của mình, thiết kế nơi làm việc không phù hợp, sự kỳ thị của cộng đồng, sự tiếp cận các phương tiện đi lại gây khó khăn cho NKT…[25]. Nghiên cứu của Bộ LĐTB & XH với đề tài: “Vai trò của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc gia về dạy nghề và việc làm cho NKT của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (1993-75tr). Nghiên cứu này nói về việc xây dựng các chương trình, chính sách và thực hiện các chính sách cho NKT để NKT có thể tìm được việc làm cho chính mình. NKT sẽ được tư vấn hỗ trợ về dạy nghề, những nghề phù hợp với khả năng và sở thích của mình.
Qua quá trình tư vấn NKT tìm được những nơi có thể nhận mình vào làm việc, để có thể tìm được một công việc phù hợp với bản thân mình. Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật Việt Nam (2007). Báo cáo đã chỉ ra rằng có nhiều chính sách của nhà nước đưa ra về đào tạo nghề và hỗ trợ việc làm cho NKT nói chung và TKT nói riêng nhưng quá trình triển khai còn nhiều hạn chế.