Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học cho trẻ khuyết tật tại Bà Rịa - Vũng Tàu

Chuyên đề nghiên cứu Quản lý dạy học cho trẻ khuyết tật tại Bà Rịa - Vũng ..., cập nhật xu hướng mới, giá trị tham khảo cao cho chuyên gia y học

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2009

137
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản lý dạy học cho trẻ khuyết tật tại Bà Rịa Vũng Tàu

Bài viết này tập trung vào quản lý dạy học cho trẻ khuyết tật tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, một vấn đề quan trọng trong giáo dục hiện đại. Thực trạng cho thấy rằng trẻ khuyết tật cần được giáo dục trong môi trường hòa nhập, giúp các em phát triển toàn diện. Theo Công ước của Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em, trẻ khuyết tật có quyền được giáo dục và tham gia vào các hoạt động xã hội. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý giáo dục để đảm bảo rằng trẻ khuyết tật không bị cách ly và có cơ hội học tập như những trẻ em khác.

1.1. Tình hình hiện tại của giáo dục trẻ khuyết tật

Tại Bà Rịa - Vũng Tàu, số lượng trẻ khuyết tật được đi học đã tăng lên đáng kể trong những năm qua. Năm 1996, chỉ có 42.000 trẻ khuyết tật được đi học, nhưng đến năm 2005, con số này đã tăng lên 269.000. Điều này cho thấy sự quan tâm của chính quyền và xã hội đối với giáo dục trẻ khuyết tật. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc quản lý hoạt động dạy học, đặc biệt là về chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên. Việc thiếu hụt tài liệu và phương pháp dạy học phù hợp cũng là một vấn đề cần được giải quyết.

II. Thực trạng công tác quản lý dạy học

Công tác quản lý dạy học tại các trường dạy trẻ khuyết tật ở Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay gặp nhiều khó khăn. Các hiệu trưởng và phó hiệu trưởng chưa được đào tạo đầy đủ về quản lý giáo dục cho trẻ khuyết tật. Điều này dẫn đến việc áp dụng các phương pháp dạy học không phù hợp, ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục. Theo khảo sát, nhiều giáo viên cho rằng họ cần thêm hỗ trợ và đào tạo để nâng cao kỹ năng giảng dạy cho trẻ khuyết tật. Việc quản lý hoạt động dạy học cần được cải thiện để đáp ứng nhu cầu của học sinh và gia đình.

2.1. Những khó khăn trong quản lý

Một trong những khó khăn lớn nhất trong quản lý dạy học là thiếu hụt nguồn lực và cơ sở vật chất. Nhiều trường không có đủ thiết bị dạy học và tài liệu hỗ trợ cho trẻ khuyết tật. Điều này làm giảm hiệu quả của quá trình dạy học. Hơn nữa, sự thiếu hụt trong việc đào tạo giáo viên cũng là một vấn đề nghiêm trọng. Nhiều giáo viên không có đủ kiến thức và kỹ năng để dạy trẻ khuyết tật, dẫn đến việc không thể đáp ứng nhu cầu học tập của các em.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dạy học

Để nâng cao chất lượng quản lý dạy học cho trẻ khuyết tật tại Bà Rịa - Vũng Tàu, cần có một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường đào tạo cho đội ngũ giáo viên về phương pháp dạy học cho trẻ khuyết tật. Thứ hai, cần cải thiện cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học. Cuối cùng, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và gia đình để tạo ra một môi trường học tập tốt nhất cho trẻ khuyết tật.

3.1. Đào tạo và phát triển đội ngũ giáo viên

Đào tạo giáo viên là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao chất lượng quản lý dạy học. Cần tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về phương pháp dạy học cho trẻ khuyết tật, giúp giáo viên nắm vững kiến thức và kỹ năng cần thiết. Hơn nữa, việc tạo ra các chương trình bồi dưỡng thường xuyên sẽ giúp giáo viên cập nhật các phương pháp giảng dạy mới và hiệu quả hơn.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ giáo dục học thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học tại các trường dạy học trẻ khuyết tật tỉnh bà rịa vũng tàu

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Quản lý hoạt động dạy học trẻ khuyết tật trên thế giới * Trẻ khiếm thính (TKTh): Thời cổ Hy Lạp và đế chế La mã hưng thịnh, đã nghĩ đến trẻ khuyết tật (TKT), nhưng việc đưa TKT đến lớp học thì chưa nghĩ đến. Cho đến thế kỷ XVI xuất hiện một lớp học tại Tây Ban Nha, do Ponce Delean sáng lập ra và có 15 em điếc – câm học tập.

Tuy nhiên, nó chưa phải là trường cụ thể cho TKT, lớp học mang tính chất hoàn toàn chuyên biệt. Lớp học này thu được kết quả khá tốt. Sự thành công của lớp học này, mở màn cho một chặng đường mới, là điểm đột phá cho GD đặc biệt ra đời và phát triển. Vì vậy, trường học của DeLean có thể coi là trường khởi nguồn cho một mô hình giáo dục chuyên biệt dành cho TKTh.

Năm 1760 tại phố Cối Xay (Rue des Moulins) ở Paris, một tu sĩ Pháp Abbé de L’Epee đã sáng lập ra trường dạy HSKTh bằng phương pháp sử dụng thủ ngữ điệu bộ (ra dấu). Sau này được Sicard kế tục phát triển thành một trường phái dạy HSKTh theo phương pháp “Thủ ngữ điệu bộ thuần túy”. Thế kỷ 19, Gainike người Đức mở trường dạy HSKTh theo phương pháp sử dụng ngôn ngữ nói thuần túy. Ngoài ra còn có một số trường phái khác thành lập trường dạy trẻ điếc theo phương pháp chữ viết (bút đàm) là chính.

Sang thế kỷ 20, nhiều nước trên thế giới phát triển mạnh mẽ các trường chuyên biệt dạy HSKTh theo nhiều phương pháp khác nhau. * Trẻ chậm phát triển trí tuệ (TCPTTT): Người đặt nền móng cho giáo dục TCPTTT là Jean Mare Gaspard Itard (1774 – 1836). Ông là bác sĩ, là nhà vật lý, là nhà giáo dục người Pháp. Ông được cử đến trung tâm quốc gia trẻ câm điếc ở Paris.

Tại đây ông được giao nhiệm vụ chăm sóc một cậu bé hoang dã vùng Aveyron – đứa trẻ có biểu hiện như một TCPTTT. Ông phát hiện ra đây là một trường hợp bệnh lý đơn thuần và thuộc phạm vi điều trị của y tế. Ông tin tưởng đứa trẻ sẽ tiến bộ nếu có chế độ chăm sóc, điều trị đặc biệt. Từ niềm tin đó ông có kế hoạch chữa trị cho cậu bé.

Itard vượt qua những khó khăn, làm thay đổi quan điểm về TCPTTT. Ông luôn có niềm tin vào khả năng phát triển của cậu bé, niềm tin ấy đã thúc đẩy kế hoạch của ông đạt kết quả và sự ra đời của việc giáo dục đặc biệt dành TCPTTT. Thế kỷ 19, hai nhà giáo dục là Edouard Seguin và Samel Gridley Howe đã thực hiện những công việc sư phạm đầy khó khăn và thách thức dựa trên nền tảng của Itard. Có thể coi đây là những nhà tiên phong kêu gọi việc thành lập trung tâm, trường học chuyên biệt cho học sinh chậm phát triển trí tuệ.

Năm 1846, chính quyền bang Massachusetts, (Pháp) đã tài trợ cho Wowe thành lập một trường thí điểm cho người mất trí. Trường thử nghiệm thành công và quyết định duy trì trường với tên gọi “Trường Massachusetts cho trẻ mất trí và CPTTT”. Năm 1901, Ovide Deroly (1871 – 1932) mở trường khuyết tật tại Bỉ, ở đây ông đã xây dựng phương pháp dạy học cho TCPTTT. Phương pháp của ông chủ yếu sử dụng trò chơi, những bài học sinh động, các hành động dựa trên sở thích của từng cá nhân và kinh nghiệm thực tế.

Decroly sử dụng phương pháp này để dạy cho học sinh các khái niệm toán thông qua việc tính các đồ vật trong môi trường của chúng. Vận dụng phương pháp của Decroly, các trung tâm ở Mỹ tiến hành việc đào tạo những kỹ năng lao động, đặc biệt là kỹ năng sống trong gia đình, dựa vào các thiết bị hơn là khả năng tự lập của HS. Nhìn chung từ đầu thế kỷ 19 đến nay, trên thế giới nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu quan tâm tới việc tìm hiểu TCPTTT. Có thể nhìn thấy điểm nổi bật và chung nhất của các công trình nghiên cứu là các nhà giáo dục đều tin tưởng rằng TCPTTT có thể phát triển nhờ vào giáo dục.

Quản lý hoạt động dạy học trẻ khuyết tật ở Việt Nam * Trẻ khiếm thính: Những năm cuối thế kỷ 19, cha xứ có tên là Azemar linh mục người Pháp với động cơ là nhân đạo, ông đã thành lập trường dạy trẻ điếc Thuận An (Sông Bé cũ) là trường đầu tiên của Việt Nam vào 1866. Năm 1976, theo quyết định của Bộ Lao động – Thương binh xã hội, Trường có chức năng nuôi dưỡng, dạy văn hoá, dạy nghề cho HSKTh và đào tạo đội ngũ giáo viên dạy chuyên biệt. Ngày 17/4/1995 trường được chuyển giao sang ngành giáo dục quản lý. Trường có mô hình giáo dục ổn định, có nhiều kinh nghiệm trong quản lý và dạy học, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội Việt Nam.

Sau năm 1954, tại phố Hàng Lược (Hà Nội) xuất hiện một cơ sở dạy học cho trẻ điếc do một cô giáo bị điếc dạy học theo phương pháp cử chỉ điệu bộ và chữ viết (bút đàm). Những năm 60 và đầu 70, bệnh viện Bạch Mai có chương trình dạy cho HSKTh, người chủ trì chương trình này là bác sĩ Trần Hữu Tước. Mô hình giáo dục chuyên biệt của bệnh viện Bạch Mai cho thấy có thể giáo dục TKTh trở thành những người có ích cho gia đình và xã hội. Quan niệm về giáo dục TKTh không chỉ dừng lại ở sự thương hại, mà dần dần đã trở thành mục tiêu giáo dục ở Việt Nam.

Năm 1978 trường dạy trẻ điếc ở Xã Đàn (Hà Nội) ra đời, như là mô hình mẫu về nội dung, chương trình, phương pháp trong cả nước. Tiếp đó là hàng loạt các trường chuyên biệt và trung tâm nuôi dạy HSKTh được xây dựng và đi vào hoạt động như: Nhân Chính (Hà Nội), Hải Phòng, Hải Hưng, Hà Tây, Nghệ An, Đà Nẵng, Đà Lạt. Tại các quận (huyện) của TP Hồ Chí Minh các trường chuyên biệt với tên chung là trường Hy vọng như các quận 1, 4, 5, 8, 10, 11, Gò Vấp, Bình Thạnh. Về chương trình dạy học ở các trường dựa theo bậc tiểu học, được điều chỉnh tùy theo trường và một số môn đặc thù theo đặc điểm tâm lý học sinh.

Về phương pháp các trường sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau. * Trẻ chậm phát triển trí tuệ: Năm 1974, nữ tu sĩ Nguyễn Thị Định mở lớp học đầu tiên dành cho HSCPTTT ở Sài Gòn. Từ đó đến nay đã có nhiều trường chuyên biệt dạy cho HSCPTTT. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện có đề cập đến TCPTTT và tính cần thiết phải có những phương pháp giáo dục đặc biệt dành cho HS này.

Theo ông “Trẻ chậm phát triển trí tuệ khó có thể theo một quy trình học bình thường mà cần phải có những phương pháp đặc biệt”. [54] Hiện nay, chương trình dạy học TCPTTT một số trường dựa theo bậc tiểu học kéo dài 8, 10 – 12 năm, được điều chỉnh tùy theo trường và một số môn đặc thù theo đặc điểm tâm lý học sinh. Một số trường áp dụng chương trình mầm non. Các trường sử dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau tùy theo địa phương.

Về công tác quản lý: Các trường khuyết tật ở TP Hồ Chí Minh trực thuộc phòng Giáo dục & Đào tạo, các trường khuyết tật ở tỉnh hầu như trực thuộc Sở Giáo dục & Đào tạo. Tóm lại: Mô hình giáo dục TKT ở Việt Nam từ trước đến nay do sáu cơ quan quản lý chính: Thương binh – Xã hội; Y tế; Hội chữ thập đỏ; Hội người mù; Hội phụ nữ, Giáo dục & Đào tạo và một số tổ chức xã hội (nhà thờ, chùa. Mỗi trường có một chương trình dạy học, thời gian dạy học, phương pháp dạy học khác nhau. Bộ Giáo dục & Đào tạo đang xây dựng chương trình chung cho loại đối tượng này.

Những năm gần đây, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về mô hình quản lý và giáo dục chuyên biệt TKT gần gũi với đề tài chúng tôi nghiên cứu như: - Nguyễn Hữu Chùy chủ nhiệm đề tài “Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy trẻ khuyết tật ở một số tỉnh phía Nam và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo” (TP. Hồ Chí Minh – 2003). Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng giáo viên dạy trẻ khuyết tật ở một số tỉnh phía Nam. - Nguyễn Hữu Dũng với chuyên đề “Tìm hiểu sự phát triển ngôn ngữ nói của trẻ khiếm thính 3 đến 6 tuổi” (Hà Nội, tháng 3/1999).

Nghiên cứu nhằm tìm hiểu khả năng tiếp thu ngôn ngữ nói của trẻ khiếm thính trong giao tiếp. - Phạm Thị Ngọc Bích với chuyên đề “Thực trạng sử dụng phương pháp dạy học nhằm phát triển kỹ năng cá nhân – xã hội cho trẻ chậm phát triển trí tuệ tại một số trường chuyên biệt trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” (Khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Giáo dục đặc biệt tháng 5/2005). - Chủ nhiệm đề tài Lê Anh Cường, cùng các thành viên: Nguyễn Hữu Chùy, Nguyễn Thị Hạnh Năm, Nguyễn Thị Phú với chuyên đề “Giáo dục nghệ thuật để phát triển tư duy cho trẻ khiếm thính 6 – 9 tuổi” (TP.

Hồ Chí Minh, 2004). Trong những nghiên cứu trên, các tác giả quan tâm đến việc nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường chuyên biệt dạy TKT. Tuy nhiên, chưa đề tài nào đề cập đến việc quản lý và giáo dục TKT. Ở đề tài này, chúng tôi khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học tại các trường dạy trẻ khuyết tật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động dạy học của HT, PHT, tại các trường dạy trẻ khuyết tật tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm công cụ 1. Quản lý - Robert Kreitner “Quản lý là tiến trình làm việc và thông qua người khác, để đạt được các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường thay đổi. Trọng tâm của tiến trình này là kết quả và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực giới hạn” [23] - “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” (F.

[21] - “Quản lý là chức năng của những hệ thống có tổ chức, với bản chất khác nhau, nó bảo toàn cấu trúc xác định của chúng, duy trì chế độ hoạt động, thực hiện những chương trình mục đích hoạt động”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Quản lý dạy học cho trẻ khuyết tật tại Bà Rịa - Vũng Tàu: Thực trạng và giải pháp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình giáo dục cho trẻ khuyết tật tại khu vực này. Tác giả phân tích những thách thức mà trẻ khuyết tật đang phải đối mặt trong quá trình học tập, từ cơ sở vật chất đến phương pháp giảng dạy. Đồng thời, bài viết cũng đề xuất các giải pháp khả thi nhằm cải thiện chất lượng giáo dục cho nhóm trẻ này, như tăng cường đào tạo giáo viên và cải thiện môi trường học tập. Những thông tin này không chỉ hữu ích cho các nhà quản lý giáo dục mà còn cho phụ huynh và cộng đồng, giúp họ hiểu rõ hơn về nhu cầu và quyền lợi của trẻ khuyết tật.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác của quản lý giáo dục, hãy tham khảo bài viết Luận văn quản lý hoạt động dạy học môn tự nhiên và xã hội ở các trường tiểu học huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa, nơi bạn có thể khám phá cách quản lý dạy học trong bối cảnh khác. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý giáo dục quản lý hoạt động giáo dục an toàn giao thông cho học sinh tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương cũng sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bổ ích về quản lý giáo dục an toàn cho trẻ em. Cuối cùng, bạn có thể tham khảo Quản lý giáo dục quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh ở trường tiểu học Đoàn Thị Điểm Hà Nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế để hiểu thêm về việc giáo dục văn hóa ứng xử trong môi trường học đường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý giáo dục hiện nay.