CHƯƠNG 1 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ LÝ THUYẾT ÁP DỤNG 1. Khái niệm nghiên cứu 1. Khái niệm di cư và người lao động di cư 1. Di cư Theo Mục 7, Điều 1, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vị Quốc hội, số 06/2003/PL – UBTVQH11, ngày 09/01/2003 ghi rõ, “Di cư là sự di chuyển dân số từ quốc gia này sang quốc gia khác, từ địa phương này sang địa phương khác” Năm 1958, Liên Hợp Quốc đưa ra quan niệm về di cư (migration) “đó là sự di chuyển dân cư trong không gian giữa một đơn vị địa lý hành chính này sang một đơn vị hành chính khác, kèm theo sự thay đổi về chỗ ở thường xuyên trong một khoảng cách di dân xác định”.
Năm 1973, Liên hợp quốc đưa ra khái niệm di cư ngắn hạn và dài hạn. Di cư dài hạn là người di cư đến nơi ở mới trên 12 tháng trở lên. Di cư ngắn hạn là người di cư di chuyển đến nơi ở mới dưới 12 tháng. Di cư từ nông thôn ra thành phố Có nhiều cách phân loại di cư.
Về tính chất, có di cư tự nguyện và di cư cưỡng bức (bắt buộc). Về đặc trưng, có di cư theo tổ chức và di cư tự do (di dân không tổ chức, di dân tự phát). Theo địa bàn, có: xuất cư và nhập cư, có di dân nội vùng và ngoại vùng, di dân nội tỉnh, ngoại tỉnh, di dân trong nước và quốc tế, di dân nông thôn – đô thị, đô thị - nông thôn… Theo độ thời gian cư trú, có di cư tạm thời, di cư mùa vụ, di cư con lắc, v.[33] Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu hình thức di cư tự do từ nông thôn ra thành thị và đối tượng là phụ nữ. Di cư tự do (di cư không có tổ chức, di cư tự phát) là di cư không theo kế hoạch, các chương trình dự án của Nhà nước và các địa phương; sự dịch chuyển mang tính tự phát của các cá nhân, hộ gia đình, nhóm hộ gia đình từ địa phương đang cư trú đến địa phương khác để sinh sống.
Ví như, một số hộ đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi Phía Bắc di cư đến các tỉnh ở Tây Nguyên sau năm 1975; các cá nhân, hộ gia đình từ nông thôn di chuyển ra các đô thị, khu công nghiệp để mưu sinh; v.v… Dòng di dân này thể hiện bản chất 11 tự nguyện, tính năng động của con người trong xã hội. Ngoài ra nó còn thể hiện sức hút của nơi đến và lực đẩy của nơi đi.[33] Di cư tự do nông thôn – thành thị là di cư không theo kế hoạch, các chương trình dự án của Nhà nước và các địa phương; sự dịch chuyển mang tính tự phát của cá nhân, hộ gia đình từ khu vực nông thôn đến khu vực đô thị để làm ăn, sinh sống. Nơi xuất cư là nông thôn, nơi nhập cư là đô thị. Chiều hướng của di cư là từ nông thôn đến thành thị.
Đặc trưng là di cư tự phát. Các loại hình phổ biến của di cư tự do nông thôn – đô thị: di cư tạm thời, di cư theo mùa vụ, di cư con lắc.[33] Di cư tạm thời: là hình thái di cư của người dân khu vực nông thôn đến một khu vực đô thị định cư trong thời gian ngắn, sau đó chuyển đến chỗ ở khác hoặc trở về nơi cũ. Người di cư không có ý định hoặc chưa có ý định định cư lâu dài ở thành phố mà có xu hướng trở về quê sau một thời gian làm ăn, sinh sống ở đô thị. Thời gian tạm trú ở thành phố khoảng từ 6 – 12 tháng.
Di cư mùa vụ: là hình thái di cư theo công việc, theo “mùa, vụ”; vào thời nông nhàn, một số người nông dân di cư ra thành phố để kiếm việc làm, đến thời điểm cấy cày, gặt hái, người dân trở lại về nông thôn để làm việc; hoặc di cư theo mùa lễ hội, du lịch. Thời gian ở thành phố khoàng 1 – 3 tháng. Di cư “con lắc”:là hình thái di cư luân chuyển giữa nông thôn và thành thị khá ổn định về không gian, thời gian; loại hình di cư có thời hạn liên quan đến việc làm hoặc lý do khác đòi hỏi người di chuyển phải ngủ qua đêm ở đô thị, được lặc đi lặp lại và không nhất thiết phải thay đổi nơi cư trú chính thức. Ví như, di cư theo thời vụ, thời kỳ nông nhàn nông dân ra thành phố kiếm việc làm, đến mùa vụ sản xuất nông nghiệp lại trở về quê, cứ thế lặp đi lặp lại trong năm hoặc nhiều năm của một nhóm cộng đồng cư dân nông thôn.
Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa di cư tạm thời, di cư mùa vụ, di cư con lắc là ở quy mô về thời gian(quãng thời gian, chu kỳ về thời gian) di cư tự do nông thôn – đô thị. Người lao động di cư từ nông thôn ra thành phố Người lao động Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật lao động: Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động. Nhìn dưới góc độ lao động, di cư tự do từ nông thôn – đô thị có thể được xem là “di cư lao động”, “di chuyển lao động”. 12 Như vậy, người lao động di cư tự do từ nông thôn ra thành phố là: sự di chuyển của nhóm dân cư nông thôn trong độ tuổi lao động đến đô thị để tìm kiếm việc làm nhằm đảm bảo cuộc sống một cách tự phát, không có tổ chức.
Nữ lao động di cư tự do từ nông thôn ra thành phố là nhóm nữ giới trong độ tuổi lao động di cư ra thành phố một cách tự phát, không có tổ chức, họ ra thành phố để tìm kiếm cơ hội làm việc tốt hơn, đảm bảo cuộc sống cho bản thân họ và gia đình. Công tác xã hội và phương pháp công tác xã hội nhóm Có nhiều tổ chức, tác giả nghiên cứu về CTXH dưới các góc độ khác nhau. Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH Hoa Kỳ (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ. CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống.
Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến. Có thể đưa ra một định nghĩa chung, khái quát về CTXH như sau: Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp được thực hiện dựa trên nền tảng khoa học chuyên ngành nhằm hỗ trợ đối tượng có vấn đề xã hội (cá nhân, nhóm, cộng động) giải quyết vấn đề gặp phải, cải thiện hoàn cảnh, vươn lên hòa nhập xã hội theo hướng tích cực, bền vững. Khái niệm công tác xã hội nhóm CTXH nhóm: là một phương pháp của CTXH nhằm tạo dựng và phát huy sư tương tác, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực giữa các thành viên, giúp củng cố, tăng cường chức năng xã hội và khả năng giải quyết vấn đề, thỏa 13 mãn nhu cầu của nhóm. Thông qua sinh hoạt nhóm, mỗi cá nhân hòa nhập, phát huy tiềm năng, thay đổi thái độ, hành vi và khả năng đương đầu với nan đề của cuộc sống, tự lực và hợp tác giải quyết vấn đề đặt ra vì mục tiêu cải thiện hoàn cảnh một cách tích cực.
[22] Công tác xã hội nhóm tạo ra bối cảnh trong đó các cá nhân hỗ trợ lẫn nhau, làm cho các cá nhân và nhóm có khả năng ảnh hưởng và thay đổi các vấn đề của bản thân, của tổ chức và của cộng đồng. Mục đích của CTXH nhóm là giúp cá nhân thuộc nhóm thỏa mãn nhu cầu, giải quyết các vấn đề tiến tới sự trợ giúp và đóng trọn vẹn vai trò xã hội của mình. Phương pháp luận 1. Chủ nghĩa duy vật biện chứng Biện chứng là khái niệm dùng để chỉ những mối liên hệ, tương tác, chuyển hóa và vận động, phát triển theo quy luật của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong giới tự nhiên, xã hội và tư duy.Ăngghen: “Phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy” (C.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, t.
Phương pháp luận duy vật biện chứng là xem xét sự vật trên nền tảng của thế giới quan duy vật khoa học. Các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy luôn có mối liên hệ với nhau và xu hướng vận động của chúng là phát triển đi lên. Chủ nghĩa duy vật lịch sử Chủ nghĩa duy vật lịch sử (hay còn gọi là quan niệm duy vật về lịch sử): là khoa học nghiên cứu các quy luật vận động và phát triển của xã hội với tư cách một chỉnh thể. Vì vậy, nếu các môn khoa học xã hội chuyên ngành, như kinh tế học, luật học, sử học, xã hội học nghiên cứu từng mặt khác nhau của đời sống xã hội, thì chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu toàn bộ xã hội như một chỉnh thể thống nhất.
Các quy luật xã hội mà nó nghiên cứu là những quy luật tác động trong tất cả hoặc trong nhiều hình thái kinh tế – xã hội. 14 Ứng dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử trong đề tài. Khi trợ giúp nhóm nữ lao động di cư tự do từ nông thôn ra thành phố giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống của họ, cần tìm hiểu và phân tích môi trường xã hội của nhóm đối tượng này, như: Gia đình, các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa đối tượng với các thành viên trong gia đình, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh của gia đình đối tượng có tác động đến đối tượng như thế nào. Cộng đồng, chính quyền địa phương, các nhóm xã hội, việc làm… ở nông thôn trong mối quan hệ tác động qua lại với đối tượng.
Cộng đồng, người dân, chính quyền, nhóm bạn bè, xã hội, việc làm, các tổ chức….