Chương 1: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ VIỆC LÀM THỎA ĐÁNG CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG KHUYẾT TẬT 1. Khái niệm về việc làm thỏa đáng 1. Khái niệm về việc làm Tổ chức Lao động Quốc tế - ILO đã đưa ra khái niệm: Người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trở lại làm việc.
Theo Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13 (điều 9); Luật Việc làm số 38/2013/QH13 đều khẳng định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị pháp luật cấm” và Nhà nước, người sử dụng lao động và xã hội có trách nhiệm tham gia giải quyết việc làm, bảo đảm cho mọi người có khả năng lao động đều có cơ hội có việc làm. Như vậy, một hoạt động được coi là việc làm khi có những đặc điểm sau: 1) Là một hoạt động, có thể là một công việc do người khác tạo dựng và cũng có thể là công việc tự cá nhân tạo ra cho bản thân; 2) Hoạt động đó mang lại thu nhập; 3) Hoạt động đó phải được pháp luật thừa nhận. Khái niệm về việc làm thỏa đáng Tổ chức ILO đã đưa ra khái niệm việc làm thỏa đáng để thúc đẩy các nguyên tắc và đạo đức cơ bản về bình đẳng, nhân quyền và công bằng. Khái niệm việc làm thỏa đáng bao gồm việc làm có thu nhập công bằng, điều kiện làm việc an toàn, cơ hội và đối xử bình đẳng, bảo trợ xã hội cho người lao động và gia đình họ, cơ hội phát triển cá nhân và hòa nhập xã hội, cũng như quyền tự do bày tỏ quan điểm và mối quan tâm tại nơi làm việc (ILO, 1999).
Chương trình nghị sự về Việc làm thỏa đáng được Tổng giám đốc ILO phát động từ năm 1999 với bốn trụ cột chính là: tạo việc làm, an sinh xã hội, thúc đẩy quyền của người lao động và đối thoại xã hội. Ở đây, việc làm bao gồm công việc thuộc mọi loại hình và có cả khía cạnh số lượng lẫn chất lượng. Do đó, việc làm thỏa đáng không chỉ áp dụng cho người lao động trong nền kinh tế chính thức (formal economy) mà còn cho cả người lao động làm trong khu vực kinh tế phi chính thức (unregulated wage workers), người tự 5 làm chủ và ‘người làm việc tại nhà’ (home workers - hình thức làm việc tại nhà hoặc các địa điểm khác ngoài văn phòng công ty). Nó cũng đề cập đến các cơ hội làm việc phù hợp, thù lao (bằng tiền mặt và hiện vật), và bao gồm cả an toàn tại nơi làm việc và điều kiện làm việc lành mạnh.
An sinh xã hội và an ninh thu nhập (social security and income security) cũng là những thành phần thiết yếu - được xác định theo khả năng và mức độ phát triển của mỗi xã hội. Hai thành phần còn lại nhấn mạnh đến các mối quan hệ xã hội của người lao động: quyền cơ bản của người lao động (tự do hiệp hội, không phân biệt đối xử tại nơi làm việc, và không có lao động cưỡng bức); và đối thoại xã hội, trong đó người lao động thực hiện quyền trình bày quan điểm của mình, bảo vệ lợi ích của họ và tham gia thảo luận để đàm phán các vấn đề liên quan đến công việc với người sử dụng lao động và các cơ quan chức năng. Khái niệm người khuyết tật và việc làm thỏa đáng cho người lao động khuyết tật a. Khái niệm về người khuyết tật Người khuyết tật (NKT) có nghĩa là một cá nhân mà triển vọng đảm bảo, duy trì và thăng tiến trong công việc phù hợp bị giảm sút đáng kể do sự suy yếu về thể chất, giác quan, trí tuệ hoặc tinh thần được công nhận hợp lệ.
Khoản 1 Điều 2 Luật Người khuyết tật số: 51/2010/QH12 quy định “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn. Người khuyết”. Theo quy định này, NKT là những cá nhân có đủ các điều kiện sau: (1) Có khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng; (2) Các khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng phải được biểu hiện trong sáu dạng tật (chi tiết ở phần nhỏ c dưới đây); (3) Khiếm khuyết bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng là nguyên nhân khiến người đó gặp khó khăn khi tham gia lao động, sinh hoạt và học tập. Điều 2, Nghị định 28/2012/NĐ-CP quy định cụ thể về dạng tật, bao gồm: Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác.org/public/english/revue/download/pdf/ghai.pdf 6 Căn cứ theo quy định tại tiểu mục 3 Mục I Phần 1 Hướng dẫn ban hành kèm theo Quyết định 2170/QĐ-BYT năm 2022 hướng dẫn về mức độ khuyết tật như sau: Mức độ đặc biệt nặng; Mức độ nặng; Mức độ nhẹ.
Theo đó, hướng dẫn ban hành kèm theo Quyết định 2170/QĐ-BYT năm 2022 đã hướng dẫn cụ thể khái niệm NKT đặc biệt nặng như sau: NKT đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khắc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. Khái niệm người lao động khuyết tật Kết hợp giữa khái niệm NKT theo Luật người khuyết tật và người lao động trong Luật lao động, có thể đưa ra khái niệm về người lao động khuyết tật (LĐKT): Là những NKT từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, đang làm việc hoặc tìm việc làm để tạo ra thu nhập cho bản thân và gia đình. Khái niệm việc làm thỏa đáng cho người lao động khuyết tật Việc làm thỏa đáng là tổng hòa những khát vọng của con người trong cuộc đời làm việc của họ, do đó, không có sự khác biệt nào giữa cách xác định việc làm phù hợp cho NKT và việc làm tốt cho người không khuyết tật. Có thể hiểu, việc làm thỏa đáng cho người lao động khuyết tật là đảm bảo bình đẳng và không phân biệt đối xử (theo hướng tiêu cực) về cơ hội tìm kiếm việc làm và cơ hội phát triển nghề nghiệp cho NKT, những NKT cũng như những người không khuyết tật được hưởng các quyền cơ bản của người lao động tại nơi làm việc, được bảo vệ tại nơi làm việc (như bảo vệ khỏi bạo lực và quấy rối, v.) và có đối thoại xã hội (ví dụ quyền tham gia công đoàn).
Các tiêu chí đo lường việc làm thỏa đáng cho người lao động khuyết tật Đề án sử dụng các chỉ số do PhD. Cameron Crawford (2018) đề xuất với 8 khía cạnh (cùng với các chỉ số cụ thể), tương đương với bốn trụ cột chính của việc làm thỏa đáng đề cập ở mục 1.ca/sites/default/files/pdf/decent_work_july_4_2018_crwdp_rev_sept_4_titleup.pdf 7 • Có thể làm thuê cho người sử dụng lao động (Working for an employer) • Có thể thỏa thuận/nhận các công việc được điều chỉnh cho phù hợp với thể chất hoặc các công việc không giới hạn về thời gian và địa điểm làm việc (Need and receive all modified duties or telework needed) Khía cạnh 2: Thu nhập vừa đủ và công việc hiệu quả (Adequate earnings and productive work) • Việc làm và thu nhập bằng/trên ngưỡng thu nhập thấp (sau thuế) (Working and income at/above low-income cut-offs (after tax)) • Thu nhập trung bình ít nhất bằng 2/3 nam giới không khuyết tật (Median earnings at least 2/3 of non-disabled males' earnings) • Người sử dụng lao động đào tạo nhân sự bằng các lớp học truyền thống (Classroom training provided by present employer) • Người sử dụng lao động đào tạo tại chỗ – là quá trình đào tạo nhân sự trực tiếp dựa trên công việc thực tế tại nơi làm việc (On-the-job training provided by present employer) • Có nhu cầu và được đáp ứng những nhu cầu về các thiết bị công nghệ hỗ trợ phù hợp (Need and receive all technological support needed) • Có nhu cầu và được đáp ứng những hỗ trợ khác (Need and receive all misc.