ĐẶT VẤN ĐỀ Người khuyết tật (NKT) là người bị suy yếu về thể chất và tinh thần, dễ bị tổn thương, gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày, ít được giáo dục và hòa nhập cộng đồng, dẫn đến cơ hội việc làm thấp hơn và tỷ lệ nghèo cao hơn người bình thường [38, 51]. Theo thống kê của Bộ Y tế, tỉ lệ người khuyết tật ở Việt Nam chiếm khoảng 7% dân số, tương đương 6,2 triệu người. Hơn 80% người khuyết tật sống tại cộng đồng. Người khuyết tật thường có sức đề kháng giảm, khả năng chống đỡ bệnh tật kém, dễ mắc bệnh đặc biệt là bệnh COVID-19 hiện nay và nếu mắc thì diễn biến bệnh thường nặng hơn người bình thường, nhất là những người có mức độ khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng [32].
Các chương trình chăm sóc phục hồi chức năng (CSPHCN) có thể giúp người khuyết tật sống độc lập tối đa tại nhà và cộng đồng, mục đích cuối cùng của phục hồi chức năng là cung cấp cho người khuyết tật các cơ hội tham gia hòa nhập hiệu quả hơn trong xã hội [44]. Theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 2019, có hơn 1 tỷ người khuyết tật chiếm 15% dân số thế giới, 20% trong số người khuyết tật gặp khó khăn lớn về hoạt động trong cuộc sống hàng ngày [41]. Tại Việt Nam theo số liệu của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) vào năm 2017 có 7,2 triệu người khuyết tật chiếm 7% dân số cả nước, các gia đình có thành viên khuyết tật thường nghèo hơn,do người khuyết tật có ít cơ hội việc làm hơn [45]. NKT trong độ tuổi lao động chiếm tỷ lệ cao nhất có khoảng 5 triệu người (15-60 tuổi) và gần 1,5 triệu người trong độ tuổi lao động có việc làm [14].
Tình trạng khuyết tật tại Việt Nam có xu hướng tăng do hậu quả chiến tranh, già hóa dân số, tai nạn giao thông, lao động và mắc các bệnh không lây nhiễm cao, người khuyết tật đặt biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%, nữ giới chiếm 58% và khoảng 10% NKT thuộc hộ nghèo. Mạng lưới phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đã được phát triển ở 46/63 tỉnh thành, 63 bệnh viện, trung tâm phục hồi chức năng tuyến trung ương và tuyến tỉnh; 100% bệnh viện đa khoa trung ương và tuyến tỉnh có khoa phục hồi chức năng; 50% bệnh viện chuyên khoa có khoa phục hồi chức năng [8], nhưng chăm sóc PHCN cho NKT vẫn còn nhiều thách thức và khó khăn như nguồn lực hạn chế, đội ngũ cán bộ PHCN mỏng nhất là tuyến cơ sở, chính 2 sách chưa đồng bộ [13]. Mặc dù, người khuyết tật được hưởng chính sách bảo hiểm y tế, nhưng số lượng người khuyết tật tiếp cận được dịch vụ chăm sóc phục hồi chức năng rất thấp (2,3% người khuyết tật) [22]. Đứng trước thực trạng và vấn đề trên thì Bộ Y tế đã đưa ra các tài liệu “Hướng dẫn thực hiện phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” và “Hướng dẫn người khuyết tật và gia đình về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng”, nhằm giúp cán bộ quản lý chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng tại các cơ sở y tế[1, 2].
Những năm gần đây số lượng người tai nạn lao động và tai nạn giao thông ngày càng ra tăng, cùng với di chứng của bệnh bẩm sinh: bại não, tâm thần kinh, chất độc da cam hay bệnh lý Tai biến mạch máu não, chấn thương sọ não và các bệnh: tiểu đường và cao huyết áp… điều này khiến cho tỉ lệ người khuyết tật càng ngày càng gia tăng đặc biệt là người khuyết tật trong độ tuổi lao động. Theo số liệu của Trạm Y tế xã Tân Lập vào Quý II năm 2018 có 310 người khuyết tật và tỷ lệ số người khuyết tật trong độ tuổi lao động là 49% (152 người) [23]. Người khuyết tật trong độ tuổi lao động mất hoặc giảm khả năng tạo nguồn thu nhập cho gia đình, đồng thời trở thành gánh nặng với gia đình và xã hội, chính vì thế đây là đối tượng mà chúng tôi muốn nghiên cứu và hiện nay chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về thực trạng cũng như các yếu tố liên quan tới chăm sóc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động tại địa bàn. Vì lý do đó, nghiên cứu “Thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động tại xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, thành Phố Hà Nội năm 2019” được tiến hành để tìm hiểu các vấn đề: thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động như thế nào? Yếu tố nào liên quan đế chăm sóc phục hồi chức năng của người khuyết tật tại xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội? Từ đó khuyến nghị các chính sách phù hợp nhằm hỗ trợ người khuyết tật tiếp cận, hòa nhập cộng đồng thông qua việc nâng cao chất lượng chăm sóc phục hồi chức năng.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng chăm sóc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng cho người khuyết tật trong độ tuổi lao động tại xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội năm 2019. Xác định một số yếu tố liên quan đến chăm sóc phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng người khuyết tật trong độ tuổi lao động tại xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội năm 2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 1. Người khuyết tật và phân loại khuyết tật Người khuyết tật được định nghĩa theo Đạo luật về người khuyết tật của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA - Americans with Disabilities Act of 1990) là người có sự suy giảm về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống [40]. Phân loại khuyết tật theo Tổ chức Y tế Thế giới năm 1980, có ba mức độ suy giảm là: khiếm khuyết, giảm khả năng, khuyết tật [47]. Khiếm khuyết: là tình trạng thiếu hụt hoặc bất bình thường về cấu trúc giải phẫu, chức năng, tâm lý của cơ thể, do điều kiện sức khỏe gây ra.
Giảm khả năng: do tình trạng khiếm khuyết, dẫn đến sự hạn chế hay thiếu hụt khả năng thực hiện các hoạt động. Khuyết tật: do khiếm khuyết hoặc giảm khả năng làm hạn chế hoặc ngăn cản việc thực hiện vai trò bình thường trong xã hội (phụ thuộc vào tuổi, giới, xã hội, văn hóa) [27]. Mô hình ICF Hình 1. Sơ đồ mô hình của ICF [42].
5 Mô hình của ICF năm 2001 cho thấy: chức năng, cấu trúc của các bộ phận cơ thể và tình trạng sức khỏe ảnh hưởng trực tiếp tới các công việc và hoạt động hàng ngày ảnh hưởng tới sự tham gia hòa nhập xã hội của con người. Các yếu tố môi trường và con người xung quanh là yếu tố bên ngoài có tác động nhất định tới tất cả các cấu phần trên [42]. Theo phân loại của Tổ chức y tế thế giới (WHO) năm 1980, hầu hết các chuyên ngành điều trị trong đó có Phục hồi chức năng mới chỉ chú trọng đến các vấn đề về khiếm khuyết, giảm chức năng, tàn tật của người bệnh. Chính vì lẽ đó người bệnh chưa được quan tâm một cách toàn diện về các khía cạnh khác trong cuộc sống cá nhân cũng như cuộc sống xã hội của họ trong và sau thời gian bị bệnh.
Vì vậy, năm 2001 WHO đã có sự điều chỉnh và thay đổi trong cách phân loại về sức khỏe, chức năng và khuyết tật được khái quát bằng mô hình ICF (International Classification of Functioning, Disability and Health). Mô hình ICF đưa ra khái niệm rằng mức độ chức năng của một người là một mối quan hệ tương tác, tác động giữa tình trạng sức khỏe của người đó với các yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân. Đây là một mô hình sinh lý-tâm lý-xã hội, dựa trên sự kết hợp các mô hình xã hội và can thiệp. Khuyết tật tại Việt Nam: căn cứ theo Điều 3 của Luật số: 51/2010/QH12 về “Luật người khuyết tật năm 2010” các dạng khuyết tật gồm: khuyết tật vận động; khuyết tật nghe, nói; khuyết tật nhìn, khuyết tật thần kinh, tâm thần; khuyết tật trí tuệ; khuyết tật khác [20].
Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động sinh hoạt, di chuyển. Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói. Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. 6 Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường.
Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp trên [27]. Các loại khuyết tật có thể phòng ngừa hoặc giảm nhẹ bằng các biện pháp khác nhau. Căn cứ vào quá trình diễn biến của bệnh chia ra làm làm 3 cấp độ dự phòng (cấp I, II, III), để sớm phát hiện ra khiếm khuyết, can thiệp y học, phục hồi chức năng phù hợp để giảm hoặc khắc phục hậu quả của khuyết tật [2].
Mức độ khuyết tật Mức độ khuyết tật của người khuyết tật được Hội đồng xác định mức độ khuyết tật theo quy định tại Khoản 2, Điều 3 của Luật số: 51/2010/QH12 về “Luật người khuyết tật năm 2010”đánh giá với 3 mức độ: Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại người khuyết tật đặt biệt nặng và nặng [20].