PHẦN MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Theo Báo cáo tình hình ma túy thế giới năm 2016 của cơ quan Phò ng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC), tình hình sử dụng ma túy trên toàn thế giới vẫn tiếp diễn, không có nhiều xáo trộn. Toàn thế giới có khoảng 275 triệu người, tương đương khoảng hơn 5,6% dân số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã từng sử dụng ma túy trái p hép trong năm 2016. Báo cáo cũng cho thấy rằng sử dụng ma túy cao nhất trong số những người trẻ tuổi và trẻ từ 12 đến 17 tuổi có nguy cơ nghiêm trọng nhất.
Trên toàn cầu, tử vong trực tiếp gây ra bởi việc sử dụng ma tuý tăng 60 % từ năm 2000 đến năm 2015. Những người trên 50 tuổi chiếm 27% trong số này. Tại Việt Nam, theo báo cáo của Bộ Công an, năm 2018 cả nước có 222.582 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, trong đó: Trên 67,5% người đang sinh sống ngoài xã hội; 13,5% người trong cơ sở cai nghiện bắt buộc; 19% người trong trại tạm giam, tạm giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng. Ở Việt Nam tệ nạn ma túy gây thiệt hại lớn về kinh tế cho đất nước, với trên 204.377 người nghiện ma túy và số người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý đã tăng gần 4 lần trong 20 năm qua, kể từ năm 1994 (55.445 người) [35, tr.
Hơn thế nữa, tệ nạn ma túy đã làm cho Nhà nước ta hàng năm phải dành một khoản ngân sách khổng lồ cho công tác phòng chống ma túy như: chi phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động; hoạt động kiểm soát ma túy; hoạt động hợp tác quốc tế; công tác tổ chức cai nghiện và chi phí giam giữ, cải tạo. Những con số đó có thể thấy rằng, tệ nạn ma túy chính là một mối hiểm họa lớn đối với toàn nhân loại. Mỗi quốc gia trên thế giới, không có một quốc gia nào không phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng của tệ nạn này, nó tr ở nên nhức nhối hơn khi tệ nạn này đang ngày càng gia tăng không ngừng về số lượng, diễn biến ngày càng phức tạp hơn và những kẻ bất lương có những hành vi ngày càng xảo quyệt nhằm duy trì tệ nạn này trong xã hội. 1 Thang Long University Library Sử dụng ma túy không chỉ làm tăng tỷ lệ chết trẻ và mất chức năng xã hội mà nó còn ảnh hưởng đến chính bản thân người nghiện ma túy, nó làm xói mòn đạo đức con người…nguy cơ gia tăng phạm tội: giết người, cướp của, trộm cắp, vắt kiệt nguồn nhân lực, tài chính, hủy hoại con người.
Nghiêm trọng hơn cả, ma túy chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến nguy cơ lây nhiễm căn bệnh thế kỉ HIV/AIDS [16, tr. Trước tình hình ngày càng phức tạp của tệ nạn ma túy hiện nay, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương và cùng những biện pháp quyết liệt nhằm chống lại vấn đề tội phạm ma túy, cùng với đó là có những biện p háp điều trị nghiện, giúp đỡ những người lâm vào con đường nghiện ngập có thể thoát khỏi được ma túy và phục hồi sức khỏe. Một trong những chủ trương hàng đầu hiện nay của Nhà nước là tạo công ăn việc làm cho người sau khi cai nghiện, tạo cho họ có một sự tin tưởngvào cuộc sống, giảm bớt thời gian nhàn rỗi nhằm đưa họ trở lại với xã hội và đặc biệt hơn là nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tái nghiện. Song, kết quả đạt được lại chưa thực sự khả quan.
Song song với những biện pháp quyết liệt chống tội p hạm buôn bán ma tuý, Nhà nước ta cũng đồng thời quan tâm đến việc tổ chức cai nghiện, giúp cho những người nghiện ma tuý có thể cắt cơn, phục hồi sức khoẻ, hành vi và nhân cách để có thể tái hoà nhập cộng đồng. Công tác cai nghiện p hục hồi tuy đạt được một số kết quả bước đầu, nhưng tính hiệu quả và sự bền vững còn hạn chế, tỷ lệ tái nghiện còn khá cao. Người sau cai nghiện ma túy trên con đường phục thiện vẫn mang trong mình những mặc cảm tội lỗi và không tránh khỏi sự cám dỗ của ma túy. Đặc biệt, người sử dụng ma túy bị phụ thuộc, trói buộc bởi tình trạng tâm lý, khát khao, thèm muốn, đam mê sử dụng ma túy, mắc phải nhiều thứ bệnh.
Những người này hay mặc cảm, tự ti, dễ bị tổn thương, thiếu bản lĩnh, suy nghĩ lưng chừng, nhanh chán nản, dễ từ bỏ khi gặp khó khăn, kỷ luật lao 2 động chưa cao, nhiều người chưa có thói quen lao động và yêu thích lao động. Tại Hà Nội, Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội Hà Nội đã xây dựng mô hình quản lý, giáo dục, tư vấn cho người sau cai nghiện ma tuý, tái hoà nhập cộng đồng là Câu lạc bộ B93 (tên gọi tắt Câu lạc bộ được hình thành từ Dự án thí điểm AD/VIE/98/B93 được áp dụng tại Hà Nộ i, giai đoạn 1998- 2001). Trong những năm đầu tiên, mô hình câu lạc bộ B93 đã phát huy hiệu quả rất tích cực trong việc giúp người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng; Tính đến năm 2006 đã có 111 câu lạc bộ sinh hoạt theo mô hình B93 trên toàn thành phố, thu hút hơn 1000 người sau cai nghiện tham gia sinh hoạt thường xuyên, giải quyết việc làm ổn định cho 70% lượng hội viên tham gia sinh hoạt. [2] Tuy nhiên, dù được quan tâm đầu tư từ nhiều n guồn, kể cả nguồn từ các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ nhưng vài năm trở lại đây hoạt động của các CLB B93 (Câu lạc bộ B93) có chiều hướng đi xuống.
Số buổi sinh hoạt, số hội viên tham gia sinh hoạt giảm. Nhiều CLB B93 không vận động được người sau cai tham gia sinh hoạt, không tổ chức sinh hoạt theo mục tiêu của CLB mà thành phố đã đề ra. Năm 2010, TP hỗ trợ 110 CLB B93 hoạt động. Cuối năm 2010, một số CLB chấm điểm 2 năm liền loại C nên năm 2011 TP chỉ hỗ trợ cho 101 CLB B93 hoạt động.
Trong số n hững CLB này, có rất nhiều CLB không còn khả năng vận động, quản lý hội viên cũng như tổ chức và duy trì hoạt động. Kết quả đá nh giá 6 tháng đầu năm 2011 cho thấy, chỉ có 50 CLB duy trì sinh hoạt 2-3 buổi/tháng. Số CLB duy trì sinh hoạt 1 buổi/tuần là 27/101 CLB, chiếm 26,7%. Chỉ có 35 CLB đoạt loại A, còn lại là 39 CLB loại B, 25 CLB loại C.[2] Từ mô hình CLB B93 tại TP.
Hà Nội, có thể thấy việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho người nghiện ma tuý sau khi được chữa trị, phục hồi còn nhiều hạn chế. Hàng năm, số đối tượng được tạo việc làm ở cộng đồng chỉ chiếm khoảng 10% số đối tượng được chữa trị, phục hồi [2]. Ngoài 3 Thang Long University Library những khó khăn khách quan của nền kinh tế thị trường, nguyên nhân của tình trạng này còn do nhận thức, trách nhiệm của chính quyền, đoàn thể ở các cấp chưa cao, đặc biệt là chính quyền cấp xã, cộng đồng, k hu p hố, thôn xóm ít quan tâm. Bản thân đối tượng và gia đình họ còn có tư tưởng ỷ lại xã hội hoặc cảm thấy thiếu tự tin, bản thân đã trở nên vô dụng với xã hội, không nỗ lực tìm kiếm việc làm.
Ngoài ra, những nghề mà đối tượng học trong trung tâm nhiều khi chưa thực sự phù hợp với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường. Do vậy, hỗ trợ chống tái nghiện, hỗ trợ tâm lý để người sau cai nghiện hòa nhập cộng đồng, dạy nghề, tổ chức lao động sản xuấ t, tạo việc làm có thu nhập ổn định không những là một nội dung q uan trọng của quy trình cai nghiện mà còn là yêu cầu thiết yếu, tạo điều kiện cho đối tượng tái hoà nhập cộng đồng, qua đó giúp người sau cai nghiện không tái nghiện và thực sự có ích cho xã hội và có một cuộc sống tốt. Từ những lý do trên, cùng với kinh nghiệm công tác Đoàn thanh niên phường Nguyễn Trung Trực, tôi đã lựa chọn đề tài: “Công tác xã hội trong việc giúp đỡ người sau cai nghiện tại phường Nguyễn Trung Trực – Ba Đình – Hà Nội” là cần thiết, khách quan, xuất phát từ nhu cầu thực tế hiện nay. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.
Mục đích Nghiên cứu, đánh giá thực trạng hoạt động công tác xã hội về các hoạt động hỗ trợ cho người sau cai nghiện ma túy tại Phường Nguyễn Trung Trực – Quận Ba Đình – TP. Hà Nội và tìm hiểu vai trò của nhân viên công t ác xã hội trong việc thực hiện các hoạt động đó. Từ thực trạng nghiên cứu và lý luận tác giả sẽ đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ cho người sau cai nghiện ma túy tại địa bàn. Nhiệm vụ Để đạt được mục đích nghiên cứu trên cần t hực h iệ n cá c n h iệm vụ như sau: 4 - Hệ thống hóa và làm rõ một số lý luận cơ bản về hoạt động hỗ trợ xã hội cho NSCNMT.
Chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho NSCNMT. - Phân tích làm rõ thực trạng các hoạt động hỗ trợ xã hội cho người sau cai nghiện ma túy ở thành phố Hà Nội, chỉ ra những tồn tại và hạn chế của các hoạt động này. - Đề xuất một số giải pháp từ góc độ công tác xã hội để nâng cao hiệu quả các hoạt động hỗ trợ xã hội cho người sau cai nghiện ma túy. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 3.
Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, vấn đề hỗ trợ người sau cai nghiện đã được quan tâm từ rất lâu ở các nước phát triển, qua đó xây dựng được những mô hình công tác xã hội giúp đỡ, hỗ trợ người sau cai nghiện phù hợp với từng quốc gia. Những quốc gia áp dụng hình phạt nặng với tội danh tàng trữ ma túy cho mục đích cá nhân thường có số người nghiện ma túy lớn trong tù, làm tăng chi phí xã hội. Tiếp cận này không làm giảm tình trạng sử dụng ma túy ở cộng đồng, khi so sánh với các quốc gia không xử phạt nặng tội danh này. Một số nước hệ thống tư pháp nhìn nhận việc lệ thuộc vào ma túy là tình tiết giảm nhẹ cho các tội danh khác liên quan đến ma túy, và áp mức x ử nhẹ hơn so với những người không lệ thuộc vào ma túy, nhất là nếu họ chuẩn bị điều trị nghiện.