Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÝ TRONG QUÁ TRÌNH ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TÚY CỦA HỌC VIÊN 1. Một số khái niệm có liên quan đến khó khăn tâm lý trong quá trình điều trị nghiện ma túy của học viên 1. Khó khăn tâm lý 1. Khó khăn Khó khăn là những trở ngại được hiểu như sự khắc nghiệt, thiếu thốn,hạn chế ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ, công việc được giao và thời gian, chất lượng của công việc.
Theo tác giả Đồng Văn Toàn: khó khăn là những trở ngại, rào cản, cản trở đòi hỏi con người phải nổ lực để vượt qua [40]. Theo Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý có định nghĩa: “khó khăn là có nhiều trở ngại hoặc chịu điều kiện thiếu thốn, đời sống khó khăn” [41]. Việc xuất hiện các trở ngại làm cho hoạt động của mỗi người trở nên kém hiệu quả, hoặc không đạt hiệu quả hoạt động, vì vậy mỗi người cần nổ lực để vượt qua để hoàn thiện mục tiêu đề ra. Như vậy có thể hiểu, khó khăn là những trở ngại, những rào cản đòi hỏi con người phải nổ lực để đạt được mục tiêu của mình hay có thể dẫn đến thất bại.
Khó khăn tâm lý Khó khăn tâm lý là những trạng thái tâm lý của cá nhân chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động làm thay đổi, ảnh hưởng không tốt đến tiến trình và kết quả của hoạt động được đề ra trước đó. Trong Từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng chủ biên có nêu rằng rào cản tâm lý được hiểu là trạng thái tâm lý thể hiện ở tính thụ động quá mức của chủ thể, gây cản trở trong việc hành động [9]. Khó khăn tâm lý còn được các tác giả Vũ Dũng, Trần Hiệp, Đỗ Long sử dụng thuật ngữ khác như “trở ngại tâm lý”, “cản trở tâm lý”, “hàng rào tâm lý”. Khó khăn tâm lý là tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái, các đặc điểm nhân cách không phù hợp với đối tượng hoạt động 16 luan an làm cho quá trình hoạt động gặp khó khăn, làm cho chủ thể không phát huy được khả năng của mình, dẫn đến kết quả hoạt động bị hạn chế.
Tác giả Nguyễn Xuân Thức định nghĩa: Khó khăn tâm lý là sự không phù hợp giữa đặc điểm tâm lý và hành vi ứng xử của nhân cách với nội dụng, đối tượng, hoàn cảnh hoạt động của chủ thể, được biểu hiện ở các dấu hiệu: nhận thức- thái độ và hành vi ứng xử [35]. Theo Tài liệu Bồi dưỡng năng lực cho cán bộ, giáo viên làm công tác tư vấn tâm lý trong trường phổ thông do Nguyễn Đức Sơn chủ biên có định nghĩa: Khó khăn tâm lý là những tác động bên trong cá nhân gây ra những cản trở ở mức độ nhất định trong hoạt động, sinh hoạt và trong quan hệ ứng xử xã hội [31]. Như vậy, có rất nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về khái niệm của khó khăn tâm lý nhưng nhìn chung đều nhận định rằng khó khăn tâm lý là những rào cản, những yếu tố tâm lý gây cản trở hoạt động của chủ thể, ảnh hưởng đến quá trình đạt được mục tiêu. Đòi hỏi sự cố gắng nhiều của chủ thể.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa khó khăn tâm lý của tác giả Nguyễn Đức Sơn làm khái niệm công cụ: Khó khăn tâm lý là những tác động bên trong cá nhân gây ra những cản trở ở mức độ nhất định trong hoạt động, sinh hoạt và trong quan hệ ứng xử xã hội [31]. Điều trị nghiện ma túy 1. Ma túy Ma túy là một thuật ngữ dùng để chỉ nhiều ý nghĩa khác nhau. Theo luật Phòng chống ma túy (năm 2000) thì chất ma túy là chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ quy định.
Trong đó, chất gây nghiện là chất kích thích thần hoặc ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng [21]. Trong Từ điển tiếng Việt ma túy có nghĩa là chất làm cho say, cho tê mê [27]. Tổ chức Y tế thế giới OMS thì định nghĩa: Ma túy là bất kỳ chất gì mà đưa vào cơ thể sống, có thể làm thay đổi một hay nhiều chức năng [33]. 17 luan an Có rất nhiều cách phân loại ma túy, trong đó có phân loại theo pháp luật bao gồm ma túy hợp pháp (trà, cà phê, thuốc lá, dược liệu…) và ma túy không hợp pháp (heroin, cần sa, cỏ mỹ,…).
Và phân loại theo tác động của ma túy lên hành vi não bộ được phân loại thành ba nhóm: chất ức chế thần kinh (rượu, thuốc ngủ, chất dạng thuốc phiện opioid…), chất kích thích (cocaine, meth, cà phê, thuốc lá…), chất gây ảo giác (cần sa, cỏ mĩ, LSD, MDMA…), chất gây vô cảm (ketamine, chất gây hôn mê bay hơi propofol, nito oxid, dextromethorphan) tuy nhiên cách phân loại theo tác động não bộ hành vi này chỉ mang tính tương đối vì có những chất vừa gây ảo giác vừa gây ức chế thần kinh ví như cần sa, hay vừa kích thích vừa ảo giác như thuốc lắc, hay vừa gây vô cảm vừa gây ảo giác như Ketamine. Ngoài ra cũng có thể phân loại theo nguồn gốc gồm tự nhiên, tổng hợp và bán tổng hợp. Dựa trên những cơ sở lý luận về ma túy thì có thể hiểu: Ma túy là những chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp có khả năng ức chế thần kinh, có tính chất gây nghiện có thể làm thay đổi chức năng sinh lý và tâm lý của mỗi người khi đưa vào cơ thể quá liều. Khái niệm nghiện ma túy Nghiện ma túy là quá trình sử dụng lặp lại một hay nhiều lần chất ma túy dẫn đến tình trạng nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính ở người nghiện, làm họ bị lệ thuộc về thể chất và tinh thần vào chất đó.
Người nghiện ma túy sẽ bị rối loạn toàn bộ cơ thể, kể cả về sinh lý, tâm lý nhận thức hành vi. Người nghiện ma túy nếu ngừng sử dụng ma túy sẽ xuất hiện hội chứng cai [3]. Tác giả Phan Thị Mai Hương cho rằng nghiện ma túy trên bình diện tâm lý học ít nhất phải đề cập đến ba vấn đề của hiện tượng này là việc sử dụng ma túy thường xuyên, sự phụ thuộc cả về thể xác lẫn tinh thần vào ma túy và sự mất khả năng kiểm soát của người nghiện ma túy. Do đó nghiện ma túy có thể định nghĩa như sau: nghiện ma túy là hiện tượng phụ thuộc về cả thể xác lẫn tinh thần vào ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát của bản thân ở người nghiện ma túy, có hại đến cá nhân và cho xã hội [17].
Trong Từ điển tâm lý học, nghiện ma túy được định nghĩa là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính của cơ thể, có hại cho cá nhân và cho xã hội do dùng nhiều lần một lượng chất độc tự nhiên và tổng hợp. Nghiện ma túy có những đặc điểm như: bức xúc về mặt tâm lý 18 luan an muốn sử dụng lại ma túy, sự lệ thuộc của cơ thể vào chất gây nghiện. Khi cá nhân ngừng sử dụng sẽ gây đau đớn, vật vã. Người nghiện ma túy có khuynh hướng tăng dần liều lượng hoặc đổi dạng ma túy manh hơn [9].
Như vậy có thể hiểu: Nghiện ma túy là sự phụ thuộc của con người vào các chất ma túy, có nhu cầu đưa một lượng ma túy một cách thường xuyên theo khuynh hướng tăng dần liều, khi ngừng sử dụng ma túy sẽ xuất hiện hội chứng cai (lên cơn nghiện) rất khó chịu, bao gồm các dấu hiệu: buồn nôn, nổi da gà, bứt rứt, đau rút cơ khớp (có cảm giác dòi bò trong người), chảy nước mắt, nước mũi, dãn đồng từ, tiêu chảy, mất ngủ, bồn chồn. Điều trị nghiện ma túy Điều trị nghiện là một công việc lâu dài, mục đích nhằm chấm dứt hành vi nghiện ngập, ngưng sử dụng chất, duy trì bằng sự phòng ngừa tái sử dụng về lâu dài. Giai đoạn cắt cơn chỉ là một khâu trong cả quá trình cai nghiện. Mục đích chính là duy trì quá trình theo dõi chăm sóc.
Trong giai đoạn này chủ yếu là thăm khám ngoại trú. Giải pháp cổ điển bắt đầu việc nhập viện điều trị. Sau đó là quá trình theo dõi sau khi ra viện đã lỗi thời. Việc theo dõi bằng những lần khám cho phép giảm quá trình sử dụng chất sau đó là ngưng hoàn toàn.
Chăm sóc điều trị tổng thể kết hợp những tiếp cận về thuốc men, tâm lý, thể chất và xã hội. Đó chính là việc dìu dắt người bệnh vào một quá trình thay đổi làm biến đổi sâu sắc trong nhiều mặt hoạt động của cuộc sống thường ngày và nhân cách người nghiện. Quá trình này bắt đầu bằng một lượng giá để thích ứng tốt nhất với những chiến lược trị liệu. Có nhiều phương thức trị liệu cùng chia sẻ một mục đích giống nhau.
Sự khác biệt của những phương thức này chủ yếu liên quan đến yếu tố văn hóa xã hội và chất sử dụng. Thường những phương thức trị liệu này thuộc quyền lựa chọn của những người nghiện.Chương trình này là một quá trình trị liệu đa lĩnh vực, bao gồm một loạt những chăm sóc phù hợp với tình trạng lâm sàng, chúng được phối hợp một cách nhịp nhàng với nhau. Điều trị nghiện các chất ma túy là một qui trình can thiệp gồm nhiều giai đoạn và mỗi giai đoạn không chỉ tác động bởi một phương pháp mà có thể là phối hợp nhiều phương pháp điều trị. Do đó, cần hiểu rõ sự khác nhau giữa việc điều trị hội chứng cai chất ma túy và điều trị nghiện các chất ma túy.
Điều trị nghiện ma túy đòi hỏi tốn rất nhiều công sức thời gian mà 19 luan an quan trọng nhất là những nỗ lực của bản thân người nghiện.Không có phương pháp điều trị nghiện nào là ưu việt cho tất cả mọi đối tượng nghiện mà chỉ có phương pháp điều trị ưu việt nhất cho mỗi cá nhân khi được xác lập dựa trên tất cả các dữ liệu đúng đắn nhất [22]. Điều trị nghiện ma túy là hệ thống những hoạt động can thiệp về y tế, tâm lý, xã hội nhằm giúp đỡ người nghiện đạt mục đích không còn lệ thuộc vào ma túy phục và hồi lại các chức năng về sức khoẻ, lối sống, nhân cách, hành vi, trách nhiệm với gia đình, xã hội, nghề nghiệp, việc làm. Khó khăn tâm lý trong điều trị nghiện ma túy của học viên cai nghiện 1. Học viên cai nghiện ma túy a.