Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Định nghĩa về ma túy Các chất được quy vào chất ma túy nếu chất này có trong danh sách chất gây nghiện Nhà nước quy định. Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid): là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, morphin, heroin, methadone là những chất gây nghiện mạnh, thời gian tác dụng nhanh, thời gian bán hủy ngắn.
Người nghiện ma túy: là người sử dụng chất ma tuý và bị lệ thuộc vào các chất này. Dung nạp: là khả năng cơ thể có thể chịu đựng một chất nào đó ở liều lượng nhất định. Mỗi cơ thể con người sẽ có khả năng dung nạp khác nhau. Cai nghiện: là quá trình điều trị cắt cơn nghiện ma túy, không đưa chất ma túy vào cơ thể.
Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone Có thể hiểu rằng methadone là một chất tương tự với các CDTP, tác động chủ yếu trên các thụ thể muy (μ) ở não. Methadone có tác dụng giảm đau, giảm ho, yên dịu, giảm hô hấp và gây nghiện nhưng gây khoái cảm yếu [16]. Tác dụng phụ của methadone như chóng mặt, buồn ngủ, buồn nôn, đổ mồ hôi. Thời gian người bệnh sẽ phải uống thuốc tương đối lâu dài, chi phí rẻ, hiện nay điều trị qua đường uống dạng siro sẽ tránh được các bệnh lây lan qua đường máu.
Mặt khác, điều trị Methadone sẽ hạn chế tội phạm, tránh được các tệ nạn xã hội [1, 3]. Chất lượng cuộc sống Khái niệm về chất lượng cuộc sống (Quality of life - QOL) được hiểu rằng: là đánh giá chủ quan của chính từng cá nhân về vị trí của bản thân họ trong hoàn cảnh xã hội, văn hóa, và các mối quan hệ xung quanh họ theo những tiêu chuẩn, kỳ vọng, sự quan tâm riêng của chính họ. Kể từ năm 1948, khi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xác định sức khỏe không chỉ là không bệnh tật mà còn là sự hiện diện của sức khỏe tinh 5 thần, thể chất và xã hội [41]. Vấn đề CLCS đã trở nên ngày một quan trọng hơn trong các hoạt động y tế, sức khỏe thực hành và nghiên cứu.
Chương trình điều trị Methadone Năm 1937 tại Đức, Gustav Ehrhart và Max Bockmuhl tổng hợp được thuốc Methadone [12, 13] và năm 1947 Methaone đã được Hoa Kỳ đồng ý cho phép sử dụng [16]. Trong Chiến tranh Thế giới thứ II được sử dụng với vai trò là thuốc giảm đau. Methadone là một chất đồng vận với chất dạng thuốc phiện, vì thế sẽ có tác dụng tương tự các chất dạng thuốc phiện tuy nhiên có tác dụng trong thời gian lâu hơn [22]. Nhiều nơi trên thế giới đã triển khai chương trình Methadone một cách rộng rãi từ những năm 1970 -1980 như tại Hồng Kông, Hà Lan, Tây Ban Nha, Đức, Mỹ,.và các quốc gia cùng khu vực như Thái Lan, Malaysia,.với việc triển khai quy mô rộng khắp và đến năm 2003 chương trình này cũng được mở rộng tại Trung Quốc [16].
Tại Hội nghị khoa học Quốc gia phòng, chống HIV/AIDS lần thứ IV cũng đã có bài trình bày và bàn luận bài học dựa trên các kinh nghiệm tổng kết khi được triển khai tại Trung Quốc, để nước ta áp dụng những cái hay của họ. Từ những năm 2005 đến nay, dưới sự hỗ trợ của các dự án phi Chính phủ, nước ta đã triển khai các chương trình can thiệp giúp giảm tác hại, dự phòng lây nhiễm HIV, giảm thiểu các tác động xấu, tác dụng phụ, có thể tránh được rủi ro quá liều sẽ dẫn đến cái chết. Các hệ thống chuyển tiếp/ chuyển tuyến giữa các chương trình, các lớp điều trị được vận hành và duy trì ổn định, huy động các nguồn lực sẵn có, đề ra kế hoạch, chương trình phù hợp nhằm loại trừ các yếu tố có tác hại xấu ảnh hưởng đến cộng đồng. Mặt khác, vai trò của chương trình còn thể hiện trong công tác ngăn ngừa dịch bệnh không riêng cho người có hành vi TCMT, mà còn cho cả cộng đồng, sức khỏe được nâng lên, khả năng mắc bệnh giảm xuống [8].
Và chương trình điều trị Methadone là một trong các chương trình can thiệp giảm tác hại đang được triển khai. Đến tháng 4 năm 2018, nước ta đã tiến hành thí điểm chương trình này tại hai thành phố là Hải Phòng và Hồ Chí Minh [18]. Vào cuối năm 2017, quy mô của chương trình đã lên tới hơn 294 cơ sở trên cả nước và điều trị cho 52.818 bệnh nhân, đạt 65,20% chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1008/QĐ-TTg[4]. Chương trình điều trị Methadone tại Việt Nam nhằm dự phòng lây nhiễm HIV, cải thiện sức khỏe, chất lượng 6 cuộc sống và các vấn đề xã hội trong quần thể người NCMT (sử dụng ma túy, hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV, tỷ lệ bệnh nhân sử dụng bao cao su cũng được tăng lên,.
Bên cạnh đó, sức khỏe người bệnh điều trị Methadone còn được nâng lên rõ rệt (hầu hết người bệnh đều có sức khỏe cải thiện, thái độ tốt hơn, CLCS sau khoảng thời gian điều trị đươc nâng lên và khả năng tìm việc, cũng như cơ hội tái hòa nhập xã hội cao hơn [7], [8, 9].3 Công cụ, phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống 1. Các phương pháp đo lường chất lượng cuộc sống CLCS có thể được đo lường bằng các phương pháp, công cụ khác nhau dưới các góc độ khác nhau và tiêu chí khác nhau. Đa số các công cụ đo lường CLCS được xây dựng dưới dạng câu hỏi. Các kết quả của quá trình nghiên cứu đo lường CLCS sẽ được sử dụng cho việc lập kế hoạch can thiệp nâng cao sức khỏe.
Đánh giá chất lượng cuộc sống đã trở thành một phương pháp đánh giá được chấp nhận trong y học lâm sàng. Đo lường CLCS là một trong những khía cạnh đáng quan tâm cần được xem xét để đánh giá tác động can thiệp của các chương trình, từ đó để giúp nhà hoạch định chính sách có những chiến lược hợp lý, tận dụng các nguồn lực cho các chương trình can thiệp khác nhau [2]. Hiện nay, trên thực tế đang sử dụng phương pháp tham chiếu trực tiếp để đo lường CLCS liên quan tới các vấn đề sức khỏe.1 Thang đo dạng tổng quát Thang đo này dựa trên thỏa dụng, sự ưa thích, đây là phương pháp đánh giá định lượng dựa trên một khung chung, các tiêu chuẩn tuy được đánh giá một cách trực tiếp nhưng lại phụ thuộc hoàn toàn vào cảm quan của người quan sát chứ chưa có chỉ số đo lường với độ tin cậy và đáp ứng tốt. Các đánh giá này sau đó mới được tổng hợp và đánh giá tổng thể.
Chính vì vậy, các phương pháp này đòi hỏi bối cảnh nghiên cứu thích hợp, và cần các nghiên cứu viên có kinh nghiệm và hiểu biết về lĩnh vực đang đánh giá để có kết quả đáng tin cậy nhất [44]. Ưu điểm của phương pháp này là ngắn gọn, xác định nhanh chóng và ít tốn thời gian, công sức của người được thu thập thông tin. Ngược lại, phương pháp này có độ 7 chính xác chưa cao, và khó đánh giá sâu với các trường hợp bệnh lý cụ thể vì phải dựa trên một khung đánh giá chung, và cảm giác chủ quan của mỗi cá nhân tham gia.2 Thang đo dạng danh mục Thực tế hiện nay khoảng 50 bộ công cụ được các nghiên cứu thường xuyên sử dụng. Tuy nhiên, có rất nhiều cách để phân loại thang đo, các tác giả thường chia ra hai loại chủ yếu như sau: : (1) Thang đo tổng quát (generic instrment): là thang đo về CLCS với nhiều tình trạng và lĩnh vực sức khỏe khác nhau: khỏe mạnh, bệnh lý cấp tính, bệnh lý mãn tính,…Thang đo tổng quát giúp đánh giá gánh nặng bệnh tật trên dân số, những người mắc bệnh khác hoặc so với dân số chung.
Các bảng hỏi sử dụng thang này được thiết kế để đưa ra các kết quả tổng quát về CLCS, có thể được sử dụng rộng rãi, phù hợp với nhiều loại đối tượng, không bị phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe hay bệnh lý cụ thể nào. Các loại thang đo tổng quát Năm công Tên thang đo Tên nguyên bản Tác giả bố PAMIE Physical and Mental Impairment of Gurel 1972 Function Evaluation FSQ Function Status Questionnaire Lette 1986 SF-36 Sort Form -36 Ware 1988 WHOQOL WHO Quality of life WHO 1994 (2) Thang đo lường chuyên biệt (specific instrument): là thang đo khảo sát các lĩnh vực CLCS chuyên biệt về một bệnh ( bệnh suy tim, thận,…), dân số bệnh nhân (người cao tuổi), một chức năng nhất định (ngủ, tình dục), hoặc một vấn đề bệnh lý (như đau). Hiện nay có nhiều thang đo chuyên biệt được sử dụng trong nhiều chuyên ngành khác nhau như phục hồi chức năng, nột tiết học, tim mạch học,…Một số loại thang đo chuyên biệt được sử dụng như: 8 Bảng 1. Các loại thang đo chất lượng cuộc sống chuyên biệt Tên thang đo Tác giả Mục đích Thu thập số liệu Ưu điểm Nhược điểm Kidney Ron Hays, Đánh giá Phỏng vấn bệnh Là bộ công cụ đầy đủ nhất Chưa/Không được dịch và Disease 1977, Mỹ CLCS của nhân trên thang đo để đánh giá CLCS bệnh xác nhận cho ứng dụng bằng Quality of Life bệnh nhân bị 36 câu hỏi.
nhân bị thận mạn tính và nhiều ngôn ngữ khác (tiếng – Sort form bệnh thận mạn đã được thử nghiệm trên Urdu, của (KDQOL-SF) tính các quần thể khác nhau ở Pakistan), sử dụng trong đánh giai đoạn cuối [17]. giá chính sách y tế, điều tra dân số nói chung, nghiên cứu lâm sàng và thực hành lâm sàng. Người bệnh Hỏi theo bảng hỏi Phân tích bốn yếu tố triệu Không thể được sử dụng trong Quality of Life và cộng sự, hen suyễn và tính điểm theo chứng, hạn chế hoạt động, phân tích tiện ích chi phí Questionnaire 1992 thang đo AQLQ. giấc ngủ và tiếp xúc với (AQLQ) các kích thích môi trường phù hợp với da Functional Shipper và Đánh giá đáp Dựa theo bảng hỏi Chức năng sống chỉ số ung Khó khăn trong việc thu thập Living Index cộng sự, 1984 ứng của bệnh Checklist thư được sử dụng để ước dữ liệu, bộ công cụ chưa được 9 Tên thang đo Tác giả Mục đích Thu thập số liệu Ưu điểm Nhược điểm Cancer (FLIC) nhân ung thư tính CLCS của bệnh nhân dịch sang nhiều ngôn ngữ.
với những cơn đau Comprehensive Gurland và Đánh giá các Dựa theo bảng hỏi Công cụ đánh giá chất Bộ công cụ chưa được sử dụng Assessment cộng sự, 1977 vấn đề sức Checklist theo lượng chăm sóc bệnh nhân rộng rãi ( chỉ được sử dụng một and Referral (hiệu chỉnh khỏe, thế chất, thang điểm Likert lão khoa, khả thi và chấp phần). Evaluation 1983) tâm lý của 5 (from unsafe to nhận được (CARE) NCT (>60 excellent) tuổi) 10 1.