CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số định nghĩa: 1. Thành phần của thuốc lá: Khói thuốc lá chưa nhiều hóa chất có hại cho cả người hút và người không hút. Nicotine có trong cây thuốc lá tự nhiên và là một thành phần có trong khói thuốc.
Trong thuốc lá điếu, xì gà, các chế phẩm của thuốc lá và trong khói thuốc lá đều chứa nicotine. Nicotine có ái lực lớn với thụ thể nicotine ở não bộ, khi gắn kết vào thụ thể này gây ra các hiệu ứng tâm thần kinh, quyết định việc phát sinh và duy trì tình trạng nghiện thuốc lá [58]. Tác hại của thuốc lá 1. Tác hại đối với sức khỏe Hút thuốc lá là một trong những mối đe dọa sức khỏe cộng đồng lớn nhất mà thế giới đang phải đối mặt, là nguyên nhân của 6 triệu người chết mỗi năm.
Hơn 5 triệu ca tử vong là hậu quả của việc hút thuốc lá chủ động, hơn 600.000 ca là hút thuốc lá thụ động. Gần 80% trong số hơn 1 tỷ người hút thuốc lá trên toàn thế giới sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Người hút thuốc lá làm ảnh hưởng đến thu nhập, tăng cao chi phí chăm sóc y tế và cản trở sự phát triển kinh tế [73]. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật Hoa Kỳ cho biết trong khói thuốc chứa hơn 7.000 hóa chất, trong đó có khoảng 70 chất gây ung thư [57].
Với các thành phần độc tính trong khói thuốc, khói thuốc lá đã được khoa học chứng mình là một trong những nguyên nhân gây ra hơn 25 căn bệnh khác nhau: ung thư phổi, ung thư thanh quản, ung thư khoang miệng, ung thư da và các bệnh tim mạch, các bệnh về đường hô hấp [55]. Nicotine trong khói thuốc lá là chất được cơ quan kiểm soát Dược và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) xếp vào nhóm các chất có tính dược lý gây nghiện tương tự như Heroin và Cocain [58, 68].Theo ước tính ở Tổ chức y tế Thế giới, sử dụng thuốc lá là nguyên nhân của khoảng 30% các trường hợp tử vong do bệnh ung thư. Nếu các biện pháp phòng chống tác hại thuốc lá không hiệu quả, không được thực hiện thì trong thế kỷ này sử dụng thuốc lá sẽ giết chết 1 tỷ người [70]. 5 Tại Việt Nam, các bệnh có nguyên nhân chính tử sử dụng thuốc lá như đột quỵ, mạch vành, ung thư phổi… là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở nam giới.
Theo GATS 2010, trong số 4 nguyên nhân gây tử vong cao thì thuốc lá đứng hàng thứ hai sau HIV và tiếp theo thuốc lá là rượu và tai nạn giao thông. Đối với nam giới, thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong sớm với gần 11% tổng số ca tử vong Gần 11% tổng số ca tử vong ở nam giới là do các bệnh liên quan đến sử dụng thuốc lá [5] Nếu Việt Nam không thực hiện ngay các biện pháp phòng chống tác hại của thuốc lá hiệu quả, con số này sẽ tăng lên thành 70. Các bệnh có nguyên nhân trực tiếp do thuốc lá - đột quỵ, mạch vành, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), ung thư phổi- là những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong ở cả nam và nữ 1. Tác hại đối với kinh tế Dù công nghiệp sản xuất, kinh doanh thuốc lá có những đóng góp nhất định vào ngân sách quốc gia nhưng phần đóng góp này không đủ để bù đắp những tổn thất khổng lồ do việc hút thuốc lá gây ra đối với các cá nhân, gia đình và xã hội.
Thuốc lá gây thiệt hại 500 tỷ đô la mỗi năm cho nền kinh tế thế giới. Ước tính, chi phí y tế điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá, giảm năng suất lao động và các chi phí xã hội khác 6 chiếm 3,6% GDP. Chi phí xã hội cho việc sử dụng thuốc lá tại các nước rất cao, ví dụ: Tại Mỹ, mức tổn thất này được ước tính là 184,5 tỷ đô la Mỹ (USD) mỗi năm; tại Đức là 24,4 tỷ USD; tại Pháp là 16,4 tỷ USD; tại Australia là 14,2 tỷ USD và Trung Quốc là 4,3 tỷ USD. Gánh nặng chi phí y tế để điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá đang là một thách thức đối với nhiều quốc gia.
Theo số liệu của các nước phát triển, chi phí điều trị các bệnh liên quan đến thuốc lá chiếm khoảng 6 - 15% tổng chi phí y tế. Chi phí cho mua thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình, đặc biệt là các hộ có thu nhập thấp. Các người nghèo hút tại Việt Nam đã tiêu tốn khoảng 5% tổng thu nhập gia đình vào thuốc lá [8]. Số tiền những người này mua thuốc lá còn cao hơn khoản tiền chi cho y tế hay giáo dục.
Nếu người hút thuốc lá nghèo bỏ thuốc, họ sẽ có nhiều tiền hơn để mua thức ăn hoặc để trả tiền học cho con cái mình, đầu tư cho gia đình.000 tỷ VND đã được sử dụng để mua thuốc lá. Ngoài tổn thất do mua thuốc lá, số tiền khám chữa bệnh tính riêng 5 bệnh trong 25 bệnh do thuốc lá gây ra là 23. Tại Việt Nam, năm 2010, chỉ riêng chi phí điều trị cho 3 trong số 25 loại bệnh phổ biến nhất liên quan đến thuốc lá (ung thư phổi, bệnh mạch vành, bệnh phổi tắc nghẽn) đã là 2. Chi tiêu cho thuốc lá làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình, đặc biệt là hộ có thu nhập thấp.
Một người hút thuốc lá trong một năm tiêu hết số tiền bằng 1/3 số tiền chi cho lương thực, gấp 1,5 lần so với chi cho giáo dục, gấp 5 lần chi phí y tế tính theo bình quân đầu người. Như vậy, hút thuốc lá là một trong những nguyên nhân làm gia tăng nghèo đói. Bên cạnh đó, thuốc lá còn gây ra những ảnh hưởng có hại khác đến vệ sinh môi trường, làm gia tăng hoạt động buôn lậu, gây ra nguy cơ cháy nổ. Hút thuốc lá là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí trong nhà và ngoài trời.
Một nghiên cứu tại 2 phường nội thành Hà Nội cho thấy: Hàm lượng nicotine trong không khí tại nhà ở khá cao (trung bình 0,687 mg/m3). Hàm lượng khí Co trong không khí tại nhà ở của các gia đình có người hút thuốc cao gấp 2,4 lần nồng độ giới hạn cho phép. 7 Theo ước tính, trên thế giới mỗi năm có khoảng 200.000 héc ta rừng (chiếm 1,7% diện tích rừng) bị phá do việc trồng cây thuốc lá. Ở Việt Nam, một nghiên cứu cho thấy khoảng 49% nông dân dùng củi để sấy thuốc lá, 75% trong số họ nói rằng lấy củi này từ rừng.
Theo thống kê của thế giới, hỏa hoạn do nguyên nhân thuốc lá chiếm 10% tổng số các vụ hỏa hoạn, gây ra 300.000 ca tử vong và thiệt hại vật chất lên tới 27 tỷ USD. Riêng ở Mỹ năm 2002 có tới 14.450 vụ cháy do thuốc lá gây ra, làm chết 520 người và bị thương 1. Thực trạng hút thuốc lá và ý định bỏ hút thuốc lá 1. Thực trạng hút thuốc lá Năm 2010, ước tính có khoảng 1,25 tỷ người trưởng thành hút thuốc lá trên toàn thế giới.
Nhìn chung, tỷ lệ hút thuốc lá đang giảm ở các nước phát triển như Bắc và Tây Âu, Bắc Mỹ, khu vực Thái Bình Dương, nhưng tăng tỷ lệ hút thuốc lá ở một số nước Châu Á, Nam Mỹ và Châu Phi [63]. Năm 2014, nghiên cứu tỷ lệ hút thuốc lá của 187 quốc gia cho thấy từ năm 1980 đến năm 2012, tỷ lệ hút thuốc lá hằng ngày chuẩn hóa theo tuổi giảm ở nam giới giảm từ 41,2% xuống 31,1%; tốc độ giảm trung bình hằng năm là 0,9%. Năm 2012 ước tính tỷ lệ hút thuốc lá hàng ngày ở nam giới từ 15 tuổi trở lên ở 187 quốc gia dao động từ 50% trở lên gồm Mỹ, Indonesia, Cộng hòa Kiribati, Lào, Papua New Guinea, Nga và Đông Timor. Tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới dưới 10% gồm Barbuda, Dominica, Ethiopia, Ghana, Niger, Nigeria, Sao Tome và Principe, Sudan, và Suriname.
Nhìn chung, tỷ lệ hút thuốc lá ở nam giới cao hơn nữ giới ở tất cả các nước, ngoại trừ Thụy Điển. Năm 2015, Tổ chức Y tế thế giới báo cáo kết quả điều tra Toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở Người trưởng thành (GATS), đây là điều tra hộ gia đình được bắt đầu thực hiện vào năm 2013 và cho phép các nước thu thập số liệu về các biện pháp kiểm soát thuốc lá chính ở toàn bộ quần thể những người trưởng thành. GATS được tiến hành ở 22 quốc gia (chiếm 60% dân số thế giới), nơi hơn một nửa số người hút thuốc và gánh chịu những gánh nặng lớn nhất của việc sử dụng thuốc lá. Theo kết quả của GATS, 8 trong số 879 triệu người hút thuốc lá thì có 721 triệu người là nam giới và 158 triệu là nữ giớ.
Ở hầu hết các nước, đa số người hút thuốc hiện nay là hút hàng ngày (trừ Mexico). Người hút từ 20 điếu/mỗi ngày trở lên thì được coi là nghiện nặng. Trong tất cả các nước (trừ Ấn Độ), số nam giới nghiện nặng nhiều hơn với nữ giới, trung bình nam giới hút 6 điếu/ngày, ở Ấn Độ đến 21 điếu/ngày ở Hy Lạp và nữ giới từ 7 điếu/ngày ở Philippines đến 17 điếu/ngày ở Hy Lạp [53]. Với 3 quốc gia Việt Nam, Mexico và Thái Lan, hơn 50% người hút thuốc lá đã cố thử bỏ hút thuốc lá trong vòng 12 tháng qua.
Tỷ lệ bỏ hút thuốc lá tăng lên khi người hút thuốc nhận được lời tư vấn của nhân viên y tế. Trong số những người hút thuốc có đến bệnh viện trong vòng 12 tháng qua, tỷ lệ người được hỏi về tình trạng hút thuốc lá dao động từ 35% (Việt Nam) đến 84% ở Hy Lạp và nhận được lời khuyên bỏ hút thuốc lá từ nhân viên y tế từ 17% (Mexico) đến 72% (Hi Lạp). Đa số những người hút thuốc lá có quan tâm đến việc bỏ thuốc. Ở Argentina, Malaysia và Uruguay có hơn 70% người hút thuốc có ý định bỏ hút thuốc lá.
Khi nghiên cứu về ý định bỏ hút thuốc lá cho thấy, tỷ lệ ý định bỏ hút thuốc lá cũng khác nhau giữa nam/nữ và giữa các quốc gia, nam giới dao động từ 42% (ở Trung Quốc, Ai Cập) đến 77% ( Uruguay), phụ nữ dao động từ 34% (Trung Quốc) đến 83% (Malaysia) [53]. Điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở người trưởng thành ở Việt Nam (GATS) năm 2010 và 2015 được thiết kế dưới dạng một điều tra đại diện quốc gia cho toàn bộ nam và nữ tuổi từ 15 trở lên.