CHƯƠNG I - TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về khuyết tật Tuyên bố về quyền của người khuyết tật 1975 chỉ rõ: thuật ngữ “Người khuyết tật” có nghĩa là bất cứ người nào mà không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân, toàn bộ hay từng phần, những sự cần thiết của một số cá nhân bình thường hay của cuộc sống xã hội do sự thiếu hụt bẩm sinh hay không bẩm sinh về những khả năng về thể chất hay tâm thần của họ[11]. Pháp lệnh về người tàn tật của Việt Nam năm 1998: Người tàn tật theo quy định của pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật, là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn[25]. Theo Luật người khuyết tật Việt Nam 17/6/2010, Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn[26].2 Phân loại khuyết tật[34,35] Khuyết tật Theo WHO Theo ICF Khiếm Giảm khả Tàn Khiếm Hoạt Sự tham Khuyết tật khuyết năng tật khuyết động gia Hạn chế Hạn chế sự tham gia hoạt động 5 Tại Việt Nam, Phân loại khuyết tật[8]: 1) Khuyết tật vận động: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển. 2) Khuyết tật nghe/nói hoặc nghe và nói kết hợp: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói.
3) Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường. 4) Khuyết tật về học: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc. 5) Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường. 6) Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp 1, 2, 3, 4 và 5 ở trên.
Đa khuyết tật: một người có từ hai loại khuyết tật trở lên. Mức độ khuyết tật[8]: - Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn. - Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc. 6 - Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại 2 điều trên.3 Các nguyên nhân gây khuyết tật 4 nhóm nguyên nhân chủ yếu[5]: 1 – Do bệnh tật, tuổi cao, tai nạn, dị tật bẩm sinh.
2 – Do thái độ sai lệch của xã hội. 3 – Do môi trường sống không phù hợp. 4 – Do các dịch vụ PHCN phát triển kém. Ngoài ra, còn thiếu nguồn lực, khoảng cách địa lý, rào cản vật chất, xã hội.
Các hoạt động tạo ra sự công bằng về cơ hội, phòng ngừa tàn tật và PHCN trong chương trình phát triển kinh tế và xã hội chưa được chú ý[5]. Nguyên nhân chính của khuyết tật được xác định bởi các quốc gia có thể được phân nhóm trong các loại sau đây: Các bệnh truyền nhiễm, Chiến tranh, chấn thương, tai nạn, bệnh bẩm sinh và không truyền nhiễm, dịch vụ sức khỏe - hơn 20% các nước khuyết tật do tiêm bị lỗi và sai điều trị. Nguyên nhân khác được đề cập bao gồm nghèo đói và thiếu dịch vụ y tế đầy đủ[36].4 Hậu quả khuyết tật Khuyết tật nếu không được phát hiện, phục hồi chức năng và không có các can thiệp về y tế, kinh tế và xã hội kịp thời sẽ tác động tới tình trạng sức khỏe của cơ thể, làm giảm các chức năng sinh hoạt cần thiết trong đời sống và sinh hoạt hàng ngày, hạn chế khả năng tham gia các hoạt động xã hội của cá nhân người khuyết tật, kéo theo các tác động tiêu cực tới gia đình và cộng đồng[5]. Đối với cá nhân người khuyết tật: 90% trẻ khuyết tật nặng chết trước 20 tuổi.
Người khuyết tật thường phải đón nhận thái độ thiếu tích cực của các thành viên khác trong gia đình, thiếu hoặc không nhận được sự hỗ trợ cần thiết của gia đình, họ bị xem thường và không được tôn trọng đúng mức. Sức khỏe người khuyết tật thường bị hạn chế, 7 tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong cao; họ không có vị trí trong gia đình và cộng đồng, bị coi thường, xa lánh và đối xử không bình đẳng. Người khuyết tật ít được giáo dục và ít có cơ hội bình đẳng, tiếp cận các dịch vụ xã hội; không có việc làm, thu nhập và dễ trở thành đói nghèo; các quyền cơ bản và sự tham gia xã hội bị hạn chế[5]. Đối với gia đình của người khuyết tật: Người khuyết tật thường là gánh nặng của gia đình cả về vật chất và tinh thần; trong gia đình, họ bị coi thường, bỏ rơi, phân biệt đối xử, không được tham gia các hoạt động, không được đối xử bình đẳng, không được tôn trọng, không có vị trí trong gia đình.
Đa số gia đình người khuyết tật thuộc diện nghèo hoặc dưới nghèo[5]. Đối với xã hội: Người khuyết tật thường là gánh nặng của cộng đồng về kinh tế và xã hội; họ thường không có vai trò và vị trí ở cộng đồng; thường bị cộng đồng phân biệt đối xử, dèm pha, xa lánh, coi thường, thất thế; có thể làm giảm sức lao động và sản xuất của vật chất cho xã hội[5].5 Phục hồi chức năng Phục hồi chức năng: bao gồm các biện pháp y học, kinh tế xã hội, giáo dục hướng nghiệp và kỹ thuật phục hồi nhằm làm giảm tác động của giảm khả năng và tàn tật, đảm bảo cho người tàn tật có cơ hội bình đẳng để hội nhập hoặc tái hội nhập xã hội[5]. Mục đích của PHCN là: Tăng cường khả năng còn lại của cá nhân để giảm hậu quả của giảm khả năng, tàn tật. Tác động làm thay đổi thái độ của xã hội, tạo nên sự chấp nhận của xã hội đối với người tàn tật như một thành viên bình đẳng.
Cải thiện các điều kiện nhà ở, trường học, giao thông, công sở để người tàn tật có thể dễ dàng hội nhập hoặc tái hội nhập cộng đồng. Tăng cường khả năng còn lại của cá nhân để giảm hậu quả của giảm khả năng, tàn tật. 8 Tác động làm thay đổi thái độ của xã hội, tạo nên sự chấp nhận của xã hội đối với người tàn tật như một thành viên bình đẳng. Cải thiện các điều kiện nhà ở, trường học, giao thông, công sở để người tàn tật có thể dễ dàng hội nhập hoặc tái hội nhập cộng đồng[5].6 Chương trình PHCN dựa vào cộng đồng PHCNDVCĐ đã được triển khai ở Việt Nam từ năm 1987, là một biện pháp (chiến lược) nằm trong sự phát triển cộng đồng về PHCN, bình đẳng về mọi cơ hội và hòa nhập xã hội của tất cả những người khuyết tật.
Mục đích của PHCNDVCĐ là thay đổi nhận thức xã hội tiến tới chấp nhận người tàn tật, PHCN trở thành một bộ phận của quá trình phát triển xã hội, lôi kéo sự tham gia của chính người tàn tật và gia đình, lôi kéo sự hợp tác đa ngành, của tuyến trên. Sử dụng các kỹ thuật thích hợp áp dụng ngay tại cộng đồng[5]. Theo nghiên cứu “Đánh giá thực trạng công tác khám chữa bệnh – phục hồi chức năng tại các bệnh viện điều dưỡng – phục hồi chức năng” cho thấy nhân lực cho công tác PHCNDVCĐ còn mỏng, kinh phí cho chương trình không đồng đều giữa các bệnh viện và được đánh giá là thấp gây rất nhiều khó khăn cho các hoạt động; việc quản lý của Bệnh viện đối với các nhóm khuyết tật còn chưa tốt. Tuy vậy, kết quả phục hồi đáng khích lệ với 20% NKT hòa nhập xã hội và 43% có tiến bộ[16].
Chiến lược phát triển cộng đồng bao gồm[37]: - Sức khỏe: cách phòng tránh, thúc đẩy, chăm sóc y tế, PHCN, thiết bị trợ giúp. - Giáo dục: phát triển trẻ thơ, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học và cao hơn, học tập suốt đời. - Kế sinh nhai: phát triển kỹ năng, tự kiếm việc làm, hưởng lương theo chế độ, dịch vụ tài chính, bảo trợ xã hội. - Xã hội: mối quan hệ, hôn nhân và gia đình, hỗ trợ cá nhân, văn hóa, tôn giáo và nghệ thuật, thể thao và giải trí, tiếp cận pháp lý.
- Trao quyền: vận động xã hội, sự tham gia chính trị, ngôn ngữ và giao tiếp, nhóm tự lực, các tổ chức người khuyết tật. 9 Các nguyên lý cơ bản của PHCNDVCĐ: - Các mức độ trong quan hệ giữa con người (Dajani): nguyên tắc cơ bản thực hiện PHCNDVCĐ, nhấn mạnh “Thái độ xã hội” với người tàn tật là một trong những nguyên nhân gây tàn tật, chỉ PHCNDVCĐ mới đạt được sự bình đẳng xã hội giữa người tàn tật và chưa tàn tật[5]. - Mức độ về nhu cầu cơ bản của con người (Maslow): 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người, PHCNDVCĐ đáp ứng được cả 5 mức độ về nhu cầu cho người tàn tật (nhu cầu sinh lý sống còn; nhu cầu về an toàn; nhu cầu về xã hội; nhận biết được khả năng của mình, nhu cầu được tôn trọng, quan tâm của xã hội)[5]. Các tổ chức cho người khuyết tật có vai trò quan trọng trong sự phát triển chương trình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng.
Các tổ chức cho người khuyết tật hoạt động như một cầu nối giữa người khuyết tật và xã hội, cung cấp những nơi mà người khuyết tật cảm thấy bình đẳng, có thể chia sẻ và học hỏi những người khác, giúp các tổ chức trong cộng đồng có thể cung cấp hỗ trợ nhiều hơn cho người khuyết tật [33].