Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. An sinh xã hội Theo một số tổ chức của thế giới thì an sinh xã hội (ASXH) được hiểu như sau: Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO): "ASXH là sự bảo vệ mà xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một số biện pháp được áp dụng rộng rãi để đương đầu với những khó khăn, cú sốc về kinh tế và xã hội làm mất hoặc suy giảm nghiêm trọng nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, thương tật do lao động hoặc tử vong. Cung cấp chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có nạn nhân trẻ em" [30].
Định nghĩa nhấn mạnh khía cạnh phân phối phúc lợi, bảo hiểm và mở rộng việc làm cho những đối tượng ở khu vực kinh tế không chính thức. Theo Ngân hàng Thế giới (WB): "ASXH là những biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu nhập". Định nghĩa này nhấn mạnh đến các giải pháp nhằm kiềm chế nguy cơ làm giảm thu nhập của các cá nhân, gia đình và cộng đồng [16]. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB): "ASXH là các chính sách, chương trình giảm nghèo và sự giảm sự yếu thế bởi sự thúc đẩy có hiệu quả thị trường lao động, giảm thiểu rủi ro của người dân và nâng cao năng lực của họ để đối phó với rủi ro và suy giảm hoặc mất thu nhập".
Định nghĩa nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc đảm bảo ASXH, giảm nhẹ những tác động bất lợi đến người dân [15]. 9 Việt Nam, xung quanh khái niệm ASXH cũng còn có nhiều ý kiến khác nhau.TS Mai Ngọc Cường trong công trình "Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam lại cho rằng, để thấy hết được bản chất của ASXH cần phải tiếp cận khái niệm này theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, "ASXH là sự đảm bảo thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong xã hội". Còn khi hiểu ASXH theo nghĩa hẹp thì đó "là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ"[1].
- Theo Lê Văn Hòa “ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người, từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực phát triển con người và xã hội. ASXH là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách”[12]. An sinh xã hội là những biện pháp kinh tế được thực hiện bởi Nhà nước và xã hội, nhằm giới hạn, phòng ngừa và khắc phục những rủi ro mà các thành viên trong cộng đồng có thể gặp phải khi mất hoặc giảm thu nhập do nhiều nguyên nhân như bệnh tật, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và cái chết. Ngoài ra, việc đảm bảo chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình có số lượng con lớn cũng được thực hiện.
Trợ giúp xã hội, người khuyết tật 1.Trợ giúp xã hội Trợ giúp xã hội (TGXH) là một chế định quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội, điều chỉnh việc trợ giúp vật chất và tinh thần cho nhóm đối tượng có vị thế bất lợi, thiệt thòi, ít có cơ may trong cuộc sống như 10 người bình thường khác và không đủ khả năng tự lo liệu. Ý nghĩa pháp luật của trợ giúp xã hội xuất phát từ quyền cơ bản của con người. Mỗi người sống trong xã hội đều có quyền được sống, được bình đẳng, được thương yêu, đùm bọc, bảo vệ khỏi những biến cố bất lợi, đặc biệt là khi sự sống bị đe dọa. Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “Trợ giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ khó khăn, thiếu thốn.
Cụm từ “Bảo trợ” có nghĩa là giúp đỡ cho tổ chức hoặc cá nhân có khó khăn về vật chất trong cuộc sống. Hai thuật ngữ “bảo trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội” có nghĩa gần tương đồng nhau tuy nhiên trong các văn bản, sách báo và giáo trình hiện nay phần lớn sử dụng thuật ngữ “trợ giúp xã hội” [31]. Trợ giúp xã hội được hiểu theo các quan điểm tiếp cận, tính chất, chức năng, hình thức và mô hình khác nhau. Phần lớn các tài liệu nghiên cứu chưa lý giải một cách toàn diện về khái niệm TGXH, nhưng cũng đã giải thích thuật ngữ, từ ngữ gần với TGXH (bảo trợ xã hội, công tác xã hội, phúc lợi xã hội, an sinh xã hội, cứu tế xã hội, cứu trợ xã hội, TGXH, dịch vụ xã hội).
Cụ thể: Bộ LĐ-TB&XH (1999) “Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội”. Chuyên gia Unicef (2006) định nghĩa “Công tác xã hội là sự thúc đẩy thay đổi trong xã hội, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong quan hệ giữa con người, trao quyền và giải phóng con người đem lại sự bình yên cho xã hội. Vận dụng lý thuyết về hành vi của con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào các mặt mà ở đó con người tác động trực tiếp tới môi trường sống của họ. Nguyên tắc về quyền con người và công bằng xã hội là cốt lõi của công tác xã hội”.
11 Từ điển Bách khoa Việt Nam (2003) giải thích “Phúc lợi xã hội là một bộ phận thu nhập quốc dân của xã hội được sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội, chủ yếu được phân phối ngoài thu nhập theo lao động. Phúc lợi xã hội bao gồm: những chi phí xã hội như trả tiền hưu trí, các loại trợ cấp bảo hiểm xã hội, học bổng cho học sinh, những chi phí cho học tập không mất tiền, những dịch vụ y tế, nghỉ ngơi an dưỡng, nhà trẻ, mẫu giáo”[31]. Nguyễn Hải Hữu (2013) Giáo trình “ Đại cương về chính sách công”. NXB Chính trị quốc gia và sự thật “An sinh xã hội là một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho họ suy giảm, hoặc mất nguồn thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn khả năng lao động, hoặc vì các nguyên nhân khách quan khác rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hoá và cung cấp dịch vụ chăm sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua các hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, TGXH và trợ giúp đặc biệt” [12].
Nguyễn Văn Định (2008) cho rằng “Cứu trợ xã hội là sự giúp đỡ của xã hội bằng nguồn tài chính của Nhà nước và của cộng đồng đối với các thành viên gặp khó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị tàn tật, già yếu. dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn túng quẫn nhằm giúp họ bảo đảm được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo khốn và vươn lên cuộc sống bình thường”. Đồng thời giải thích “ Cứu tế xã hội là sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc hiện vật, có tính tức thời, khẩn cấp và ở mức độ tối cần thiết cho người được trợ cấp khi họ bị rơi vào hoàn cảnh bần cùng, không còn khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày cho bản thân họ và gia đình”. Cũng với cách tiếp cận này tác giả cũng cho rằng “TGXH là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện thích hợp để người 12 được trợ giúp có thể phát huy khả năng tự lo liệu cho cuộc sống bản thân và gia đình, sớm hòa nhập lại với cộng đồng” [10].
Tổng hợp các giải thích trên cho thấy, hầu hết các khái niệm chưa mô tả đầy đủ về TGXH, mà cần giải thích toàn diện hơn nữa về TGXH. TGXH không chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà phải là trách nhiệm của Nhà nước, không những thế còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành riêng cho một, hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời TGXH không phải là giải pháp toàn diện về an sinh xã hội, mà chỉ là một hợp phần của an sinh xã hội. Như vậy, có thể hiểu TGXH là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp khác nhau, nhằm mục tiêu giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc hẫng hụt trong cuộc sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hòa nhập cuộc sống chung của cộng đồng, góp phần bảo đảm ổn định và công bằng xã hội. Người khuyết tật Người khuyết tật là người có một hoặc nhiều khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần mà vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày.
Khái niệm Người khuyết tật theo Liên Hợp Quốc đó là những người không có khả năng tự đảm bảo cho bản thân từng phần hoặc toàn bộ các hoạt động cá nhân, xã hội do sự thiếu hụt (bẩm sinh hoặc không bẩm sinh) về thể chất hay tâm thần của họ. Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật của Liên Hợp Quốc khẳng định: “… người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể gây cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội”.