CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE GIAM NGHEO 1. Khái niệm về nghèo đói và giảm nghèo LLL. Quan niệm v nghèo đối 1.
Quan niệm của thể giới "Đã có nhiễu nhà nghiền cửu và tổ chức quốc tế đưa ra khii niệm khác nhau về đổi nghéo, nhưng nhĩn chưng, chúng không có sự khác biệt đáng kể, Tiêu chí chang nhất để xác định đối nghèo trong các khái niệm này là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những nhu sầu cơ bản, tối thiểu của con người về ăn ở, mặc, y 8 giáo dục, văn hoá, di lại và giao tiếp xã hội. Sự khác nhau giữa các khái niệm là mức đo lường độ thoả man cao hayt ma mức đó lại phụ thuộc vào tình độ phát tiễn kính tx hội cũng như phong tục tập quần của từng vùng, từng quốc gia. Đáng ch ý à nhiễu công tình nghiền cứu và nhiễu quốc gia đã sử dụng khái người nghèo của TỔ chức Liên Hợp chốc. ‘Theo quan điểm của Liên Hợp quốc (UN): Người nghèo là những người có thu nhập dưới đường ranh giới nghèo, được xác định bằng số tiền cho nhu cẩu thiết yếu về ăn, mặc, 6.
tare mắt là ương thực, thực phẩm để duy tì sự sống với mức tiêu ding nhỉ lượng 2.300 Calo/người/ngày. Khái niệm về đối nghèo được néu ra tai Hội nghị bản về xo đi, giảm nghéo ở khu vực Châu A - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cée thing 9/1993 cũng đáng được chú ý. Hội nghị này cho rằng: “Nghéo đói là tình trạng một bộ phận dân cư. Không có khả năng thoả mãn những nhủ cầu cơ bản của con người, mà những như cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xa hội, phong tụ tập quần của từng vũng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận |6, tr 10] C6 thể xem đây là khái niệm chung nhất về đói nghèo, một khái niệm có tinh chất hướng dẫn thương pháp đánh lá, nhận diện nét chính yếu, phổ quát “Các tiêu chí và chuẩn mye đánh giá còn tính đến sự khác biệt giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình độ phát triển ở mỗi quốc gia.
Quan niệm hạt nhân có trong khái niệm này là nhu cầu cơ bản của con người. Căn cứ xác định đổi hay nghèo là ở chỗ đối với những nhu cầu cơ bản mà con người không được hưởng và thoả mãn. § Nhu c cơ bản nói ở đây chính là cái thiết y để duy tse tai của con người như: ân, ở, mặc, Theo đó, sự nghèo khổ tuyệt đối, sự bin cũng được biễu hiện là đối, là ih trạng con người không có ăn, ăn không đủ lượng đình dưỡng tối thiểu cản thiết, sự đút đoạn trong nhu cầu ăn. Nói cách khác, đói là tỉnh trạng con người an không đủ no, không đủ năng lượng tdi thiểu cd thiết để duy trì sự sống hàng ngày và không đủ sức dé lao động, dé tái sản xuất sức lao động, Nghèo là tinh trạng ma thu nhập thực tế của người dân chỉ dành dé chỉ tiêu cho nhụ cầu ăn, thậm chí không đủ chỉ cho ăn, phin tích lũy hầu như không có.
Các nhủ cầu tối thiểu khác như: ở, mặc, văn hóa, y tế, giáo dục, đi lạ, giao tiếp chỉ được dap ứng một phần rất í, không đáng kể. Nghéo và giảm nghèo luôn là mồi quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thé giới, bởi lẽ: giảm ngẻo thành công sẽ làm cho mỗi quốc gia thêm. "hưng thịnh; nghẻo đối là nguyên nhân gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, làm cho xã hội bắt ôn đối khi côn dẫn tới bất Gn về chính tr, xung đột sắc tộc, tỉnh trang di dân tự do 8 at rên phạm vi một quốc gia nói riêng và quốc tẾ nồi chung. Moi dân tộc tuy có khác nhau về chế độ chỉnh trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thé nào dé quốc gia mình, din tộc minh giau cổ: song thực té một số nước lại cho thấy khi kinh tẾ cảng phát triển, năng suất lao động cảng cao thi sự phân hóa gidu nghèo cảng rõ rệt, tình trạng nghèo đói cảng bức xúc.
Khoảng cách giàu = nghèo có xu hướng néi rộng ra đang là vẫn để có tinh toàn cầu. Để thống nhất về nhận thức, cách tiếp cận và phương thức giải quyết giữa các quốc gia, các tổ chức quốctế và tổ chức phi chính phủ thì cần phân biệt hai dang nghèo: nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Nehéo tuyệt đối là tinh trạng một bộ phận din cư không được hưởng và không có khả năng thoả mãn nhu cầu tối thiểu để duy tri cuộc sống. Nhu cầu cơ bản, tôi thiểu là mức bảo đảm tối thiểu về ăn, mặc, nhà ở, nước sinh hoạt, y tế, giáo dục và vệ sinh môi trường.
Nhu cầu cơ bản nay cũng có sự thay đổi, khác biệt ở từng quốc gia. tế, một bộ phận dân ew nghèo tuyệt đối roi vào tình trang đổi và thiếu đối. Nghéo tương đổi là tình trang một bộ phân in cư cỏ mức sống dưới mite trung bình của công đồng ở một thời ky nhất định. Như vậy, nghèo đói là khái niệm mang tính chit tương đội cả về không gian và thời gian, Nghéo tương đổi gắn liễn với sự chẳnh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư so với mức sống trung bình của dia phương: 6 ở một thời ky nhất định.
Cái ý nghĩa thực sự của nghèo tương đổi là ở chỗ phân phối thứ nhập không đều hay chính xác là sự bắt bình đẳng. Vi vậy, nh u nhà nghiên cứu. cho rằng: việc xóa din nghèo tuyệt đối là việc có thé làm, còn nghèo tương đối là hiện tượng thường có trong xã hội và vẫn đề cần quan tâm là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu ~ nghèo và hạn chế sự phân hóa gidu nghèo, giảm thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghéo tương đồi. Khải ni n nghéo tuyệt đối được sử dung để so sánh mức độ nghèo khổ giữa các quốc gia [5, 37].
Quan niệm của Việt Nam “Căn cứ tình độ phát iển kinh t xã hội của nước ta và hiện trang đời sng trung bình phố biển của dân cư hiện nay, có thé đánh giá đói nghèo theo 04 chỉ tiêu chính: thu nhập; nhà ở và tiện nghỉ sinh hoạt tư liệu sn xuất vốn ng để dành. Ngoài ra, ở nước ta, do nỄn văn hoá và bản sắc dântộc Việt Nam, nên quan niệm về đói nghèo không chỉ đơn thuần đề cập đến vẫn để thụ nhập vật chit mà còn ign quan đến khía cạnh bản sắc văn hoá, đạo đức, nhân văn. Trong các tiêu chí như thú nhập, nhà ở, tiện nghỉ sinh hoạt, chỉ tiêu gia dinh, hướng thụ văn hoá,.thì tiêu chí thu nhập về kinh tế là đáng chú ý hơn cả. Ở nước ta chỉ tiếu inh giá hộ giàu, nghẻo, đói, có thé dựa trên chỉ tiêu chỉnh là thu nhập bình quân nhân khẩu một tháng (hoặc năm) được do lường bằng chỉ tiêu giá ti qui đổi hoặc hiện vật quiđổi.
Kháiniệm thu nhập ở day được hiểu là thu nhập thuần tuý. Đồi vớ hộ dân. carở nông thôn, thu nhập được tính bằng cách ty doanh tu tr đi chỉ phí bỏ ra. Chi tgu thu nhập bình quân nhân khẩu/tháng là chỉ tiêu cơ bản nhất dé xác định mức đói nghéo.
Ngoài r, côn căn cử và chỉ iu phụ i dinh đường bữa ăn, mặc, nh ở về các điều kiện học tập, chữa bệnh, di lại “Trên cơ sở các khái niệm của các tổ chức quốc tế Nam lua ra các khái niệm. về nghẻo, đối cụ thé hơn và được nghiên cứu ở các cấp độ: cá đình và cộng đồng. Khải niệm thu nhập ở đây được hiểu la thu nhập thuần túy. Đối với hộ dân.
cưở nông thôn, thủ nhập được tính bằng cách lấy doanh thu trừ đi chỉ phí. Chi tiêu thụ nhập bình quân nhân khẩu/tháng là chi tiêu co bản nhất dé xác định mức đói nghèo. Ngoài ra, còn căn cứ vào chỉ tiêu phụ là dinh dưỡng bữa ăn, mặc, nhà ở và ác điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại Hiện nay, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đưa ra khái niệm nghèo ở Việt Nam như sau + Dai la tinh trang của một bộ phận din cư nghèo có mức sống đưới mức sống tối thiểu, không đảm bảo nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống. + Nghéo là tình trang một bộ phận dân cư chí có điều kiện, khả năng thỏa mãn những.
nhủ cầu tối thiểu và co bản nhất trong cuộc sống và cố mức sống thấp hơn mức sống của công đồng xét trên mọi phương diện + Hộ nghéo là hộ thiểu an nhưng không đút bữa, mặc không lành và không đủ ẩm, Không có khả năng phát triển sản xuất + Xa nghềo là xã có trên 40% tổng số hộ nghèo đối, không có hoặc rit thigu những cơ sở hạ ting thiết yêu, tình độ dân tr thấp, ỷ lệ mù chữ cao. + Ving nghèo là chỉ những địa bàn rộng, nằm ở những khu vực khỏ khăn, hiểm ở, giao. thông không thuận lợi, có tỷ trong xã nghèo, hộ nghèo cao. Trong luận văn sẽ sử dung khái niệm nghèo sau đây: Nghèo (theo hộ) là bộ phận hộ dan cư có thu nhập dưới mức thu nhập trung bình và không tiếp cận được với các dich vụ xã hội cơ bản (theo quy định của Chink phui cho từng vùng, từng thời điển).
Khải niệm về giảm nghèo Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo ning cao mức sống. tùng bước thoát khôi tỉnh trạng nghèo, Biểu hiện ở tỷ lệ % và số lượng người nghèo giảm. Nói một cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dan cư nghèo lên một mức sống. Ở khía cạnh khác, giảm nghéo là chuyển tử tỉnh trạng có ít điều kiện lựa chon sang tỉnh trạng có diy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mat của gud.
[3, 20] Giảm nghèo là một phạm trù mang tinh lịch sử. Bởi vì nghèo vẫn còn tổn ti khi nén kinh tế thị trường vẫn còn chi phối và tổn tại sự khác biệt về năng lục, thể chất, địa vị xã hội. Do đó, chỉ có thể từng bước giảm nghéo. Việc đánh giá và cách nbin nguồn gốc dẫn đến nghèo khác nhau, nên cũng cổ nhiễu quan niệm khác nhau về giảm nghèo: Nếu hiễu nghèo là tỉnh trạng đình đồn của phương thức sản xuất đã bị lạc hậu song vẫn sồn tồn tại thi giảm nghèo chính là quá trinh chuyển đổi sang phương thức sin xuất mới, tiến bộ hơn (nghèo ở các nước dang phát triển).