Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đói nghèo là một thách thức kinh tế - xã hội mang tính toàn cầu, là rào cản trực tiếp đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Theo ước tính của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) vào đầu năm 2011, thế giới có khoảng 1 tỷ người lâm vào tình trạng thiếu lương thực; các biến động kinh tế toàn cầu, khủng hoảng nợ công, biến đổi khí hậu và gia tăng giá lương thực khiến tỷ lệ nghèo đói tại nhiều khu vực tiếp tục ở mức nghiêm trọng. Tại Việt Nam, quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với xuất phát điểm thấp khiến tình trạng nghèo đói diễn ra gay gắt, đặc biệt tập trung tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và trung du miền núi.

Xã Cây Thị là một xã miền núi đặc biệt khó khăn (thuộc diện thụ hưởng Chương trình 135) nằm ở phía Đông Nam huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Mặc dù địa phương đã có những nỗ lực trong việc thực hiện các chính sách an sinh xã hội, song tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức rất cao. Tính đến năm 2013, toàn xã có 359 hộ nghèo trên tổng số 902 hộ (chiếm 39,8%), cao hơn nhiều so với tỷ lệ hộ nghèo chung của huyện Đồng Hỷ (18,6%). Điều kiện cơ sở hạ tầng của xã còn yếu kém, hệ thống giao thông trục chính xuống cấp do phương tiện chở quặng sắt trọng tải lớn thường xuyên lưu thông, trong khi trình độ dân trí của đồng bào các dân tộc thiểu số còn hạn chế, dẫn đến việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất gặp nhiều rào cản. Trước tình hình thực tế đó, đề tài "Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Cây Thị - huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên" được thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn cho công tác giảm nghèo tại địa bàn.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo 4 nhiệm vụ:

  1. Phân tích được thực trạng đói nghèo trên địa bàn xã Cây Thị.
  2. Phân tích được những nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu.
  3. Tìm hiểu được một số chương trình giảm nghèo đã và đang triển khai tại địa phương.
  4. Đề xuất được một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo bền vững cho các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu chính: Các hộ gia đình nghèo trên địa bàn xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu được triển khai trên toàn địa bàn xã Cây Thị, trong đó khảo sát thực địa chuyên sâu được tiến hành tại 3 xóm đại diện: Cây Thị, Trại Cau và Mỹ Hòa.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và sử dụng các số liệu thứ cấp, thông tin chương trình chính sách giai đoạn 2011 – 2013. Thời gian triển khai nghiên cứu thực địa và khảo sát hộ gia đình được tiến hành từ ngày 22/01/2014 đến ngày 25/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên hệ thống lý luận về phân loại nghèo đói, chuẩn nghèo quốc gia và bài học thực tiễn trong công tác giảm nghèo:

  • Khái niệm và chuẩn nghèo: Tác giả tổng quan khái niệm nghèo của Tổ chức Y tế Thế giới (thu nhập dưới 1/2 mức thu nhập bình quân đầu người của quốc gia); khái niệm nghèo tuyệt đối theo Robert McNamara (Ngân hàng Thế giới) gắn với ngưỡng thu nhập tối thiểu để sinh tồn (chuẩn 1 USD/ngày PPP và các ngưỡng điều chỉnh theo khu vực); khái niệm nghèo tương đối (khách quan và chủ quan, phản ánh sự thiếu hụt tài nguyên vật chất và phi vật chất so với mức thịnh vượng chung của xã hội).
  • Khung văn bản quy phạm pháp luật: Sử dụng Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 của Thủ tướng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015. Theo đó, tại khu vực nông thôn, hộ nghèo có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; hộ cận nghèo có thu nhập từ 401.000 đồng/người/tháng. Đề tài cũng viện dẫn Quyết định số 375/QĐ-LĐTBXH ngày 28/03/2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội phê duyệt kết quả điều tra, rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2011 trên phạm vi cả nước.
  • Cơ sở thực tiễn: Khóa luận lược khảo kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo quốc tế (chương trình hỗ trợ 592 huyện trọng điểm của Trung Quốc, mô hình phát triển sinh kế và trao quyền tự chủ cấp cơ sở của Hàn Quốc) và mô hình thực tế trong nước (kinh nghiệm siết chặt rà soát và theo dõi hộ nghèo theo đoàn thể tại huyện Phú Bình - Thái Nguyên; bài học nâng cao dân trí và huy động vốn xã hội hóa từ các Chương trình 135, 134, Nghị định 02 và 20 tại tỉnh Bắc Giang).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Tổng hợp báo cáo thống kê kinh tế - xã hội, báo cáo công tác giảm nghèo, số liệu địa chính, hồ sơ quản lý lao động - xã hội của UBND xã Cây Thị qua các năm 2011, 2012, 2013 và các tài liệu chuyên đề liên quan.
  • Phương pháp thu thập thông tin sơ cấp: Áp dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) kết hợp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi có cấu trúc; sử dụng ma trận phân tích điểm mạnh - điểm yếu - cơ hội - thách thức (SWOT), phân tích lát cắt sinh kế (trồng trọt, chăn nuôi, thu nhập) và sơ đồ Veen để đánh giá mối liên kết thể chế.
  • Quy tắc chọn mẫu điều tra:
    • Chọn điểm điều tra: Căn cứ vào vị trí địa lý (có xóm xa và gần trung tâm), tỷ lệ hộ nông nghiệp (>70%), nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp và tỷ lệ hộ nghèo trong xóm đạt từ 10% trở lên. Đề tài chọn 3/8 xóm đại diện gồm: xóm Cây Thị, xóm Trại Cau và xóm Mỹ Hòa.
    • Chọn hộ điều tra: Căn cứ vào mức diện tích đất nông nghiệp bình quân và tính đại diện cho các nhóm hộ. Tại mỗi xóm chọn 20 hộ gồm: 3 hộ khá, 5 hộ trung bình và 12 hộ nghèo. Tổng số mẫu điều tra là 60 hộ (9 hộ khá, 15 hộ trung bình, 36 hộ nghèo).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ phiếu điều tra được làm sạch, kiểm tra logic, loại bỏ thông tin bất hợp lý và chuẩn hóa. Dữ liệu được mã hóa và xử lý bằng các hàm toán học thống kê mô tả trên phần mềm Microsoft Excel để tính toán số tuyệt đối, tỷ lệ phần trăm, mức tăng trưởng bình quân và xuất các bảng biểu đối sánh.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp bách của vấn đề xóa đói giảm nghèo trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển kinh tế nông thôn Việt Nam; nêu bật tính chất đặc thù của xã miền núi Cây Thị khi tỷ lệ hộ nghèo năm 2013 còn chiếm 39,8%; xác định 4 mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi không gian (xã Cây Thị), phạm vi thời gian (2011 - 2013, khảo sát 2014) và ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài đối với công tác phát triển nông thôn.

Phần 2: Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Hệ thống hóa các quan niệm khoa học về nghèo đói (nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối, nghèo chủ quan và khách quan); tổng hợp chuẩn nghèo Việt Nam qua các thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2011; phân tích thực trạng đói nghèo trên thế giới (Châu Phi, Châu Á, Châu Âu) và kết quả rà soát hộ nghèo năm 2011 tại Việt Nam theo vùng lãnh thổ (vùng Tây Bắc chiếm cao nhất 33,02%, miền núi Đông Bắc chiếm 21,01%, Đông Nam Bộ thấp nhất 1,70%); rút ra các bài học kinh nghiệm về chuyển đổi kinh tế, nâng cao năng lực tự chủ và tăng tỷ lệ vốn đầu tư công cho nông nghiệp từ Trung Quốc, Hàn Quốc, huyện Phú Bình và tỉnh Bắc Giang.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng điều tra là các hộ nghèo tại xã Cây Thị; quy định cụ thể thời gian triển khai từ 22/01/2014 đến 25/04/2014; thiết lập khung phương pháp tiếp cận gồm thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp (bảng hỏi cấu trúc, PRA, phân tích SWOT, sơ đồ Veen); mô tả quy trình chọn mẫu phân tầng 60 hộ (9 hộ khá, 15 hộ trung bình, 36 hộ nghèo) tại 3 xóm đại diện (Cây Thị, Trại Cau, Mỹ Hòa) và phương pháp chuẩn hóa dữ liệu bằng phần mềm Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này tập trung phản ánh kết quả phân tích số liệu toàn diện về điều kiện tự nhiên, dân sinh, cơ cấu sản xuất và thực trạng phân hóa kinh tế hộ tại xã Cây Thị:

1. Điều kiện tự nhiên và hiện trạng đất đai: Xã Cây Thị có diện tích tự nhiên 4.054,89 ha, địa hình đồi núi chiếm gần 60%, đất canh tác phân tán dưới chân đồi và có độ phì nhiêu thấp. Nguồn nước phụ thuộc vào một con suối chính bắt nguồn từ xóm Hoan, 2 hồ chứa nước (hồ Cây Thị, hồ Kim Cương) và 2 trạm bơm.

Chỉ tiêu đất đai Năm 2011 (ha) Năm 2012 (ha) Năm 2013 (ha) Cơ cấu 2013 (%) Tốc độ PT BQ (%)
Tổng diện tích tự nhiên 4.054,89 4.054,89 4.054,89 100,00 100,00
Đất nông nghiệp 3.834,56 3.844,83 3.858,37 95,15 100,45
- Đất sản xuất nông nghiệp 534,05 532,12 516,84 12,74 98,39
- Đất lâm nghiệp 3.278,55 3.289,30 3.329,06 82,10 100,77
- Đất nuôi trồng thủy sản 11,65 13,08 12,47 0,31 103,81
Đất phi nông nghiệp 189,74 190,33 191,28 4,70 100,41
Đất chưa sử dụng 40,90 30,00 5,24 0,13 45,41

Giai đoạn 2011 - 2013, đất lâm nghiệp tăng từ 3.278,55 ha lên 3.329,06 ha (chiếm 82,10%), trong khi đất sản xuất nông nghiệp giảm từ 534,05 ha xuống 516,84 ha do người dân chuyển đổi đất hoa màu sang trồng chè. Đất chưa sử dụng giảm mạnh từ 40,90 ha xuống 5,24 ha.

2. Tình hình sản xuất nông nghiệp và cơ sở hạ tầng:

  • Trồng trọt: Cây lương thực chính là lúa với diện tích năm 2013 đạt 221,50 ha, năng suất 48,80 tấn/ha (tổng sản lượng lúa đạt 1.081,30 tấn); ngô diện tích 50,70 ha, sản lượng 223,80 tấn; chè tiếp tục mở rộng với diện tích 107,40 ha, sản lượng đạt 1.228 tấn.
  • Chăn nuôi: Đàn trâu năm 2013 có 415 con (giảm 105 con so với năm 2011); lợn đạt 3.400 con (giảm so với mức 3.600 con năm 2012 do dịch bệnh và giá bán không ổn định); đàn gia cầm tăng từ 28.000 con (2011) lên 35.000 con (2013); đàn ong đạt 480 đàn.
  • Dân số - lao động: Năm 2013 toàn xã có 3.644 nhân khẩu với 902 hộ (860 hộ nông nghiệp, chiếm 95,34%; 42 hộ phi nông nghiệp). Tổng lực lượng lao động là 3.225 người, trong đó lao động nông nghiệp chiếm 95,32% (3.074 người). Tỷ lệ nam/nữ chung là 103,29%, nhưng trong độ tuổi từ 14 trở lên tỷ lệ nam/nữ lại đạt 96,16%, phản ánh mất cân bằng giới tính ở nhóm trẻ em dưới 14 tuổi.
  • Hạ tầng kỹ thuật: 100% số hộ dùng điện nhờ 4 trạm biến áp và 9 km đường dây cao thế; hệ thống giao thông gồm 12 km đường nhựa, 4 km đường giao thông nông thôn và 25 km đường đất; đường trục xã bị hư hỏng nghiêm trọng do xe chở quặng sắt; trạm y tế xã có 2 bác sĩ và 3 y tá.

3. Thực trạng nghèo đói và phân hóa kinh tế hộ: Tiêu chí phân loại hộ theo điểm tài sản và thu nhập tại Cây Thị chia thành 4 nhóm: Nhóm 1 (>150 điểm, thu nhập >= 2 triệu đồng/người/tháng); Nhóm 2 (80 - 150 điểm, thu nhập 1 - 2 triệu đồng); Nhóm 3 (40 - 80 điểm, thu nhập 400 nghìn - 1 triệu đồng); Nhóm 4 (<40 điểm, thu nhập < 400 nghìn đồng/người/tháng - thuộc diện hộ nghèo).

Tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm từ 68,84% năm 2011 (497/722 hộ) xuống 50,06% năm 2012 (412/823 hộ) và còn 39,80% năm 2013 (359/902 hộ). Tỷ lệ hộ nghèo có sự chênh lệch lớn giữa các xóm:

STT Xóm Tổng số hộ Hộ nghèo (hộ) Tỷ lệ hộ nghèo (%) Hộ trung bình (hộ) Hộ khá, giàu (hộ)
1 Hoan 123 48 39,02 55 20
2 Khe Cạn 55 28 50,91 18 9
3 Suối Găng 51 18 35,29 20 13
4 Cây Thị 149 69 46,31 53 27
5 Mỹ Hòa 235 80 34,04 95 60
6 Trại Cau 152 71 46,71 61 20
7 Kim Cương 84 38 45,23 31 15
8 Hòa Bình 53 7 13,21 30 16
Tổng Toàn xã 902 359 39,80 363 180

Xóm Khe Cạn nằm xa trung tâm xã nhất có tỷ lệ nghèo cao nhất (50,91%); trong khi xóm Hòa Bình nằm liền kề thị trấn Trại Cau, người dân tham gia lao động tại các mỏ khoáng sản nên có tỷ lệ nghèo thấp nhất (13,21%).

4. Phân tích mẫu điều tra 60 hộ gia đình:

  • Nhân khẩu và lao động: Nhóm hộ nghèo có tuổi trung bình chủ hộ là 44,75 tuổi; quy mô nhân khẩu bình quân đạt 3,47 người/hộ nhưng chỉ có 2,00 lao động chính/hộ. Hộ khá có 4,44 nhân khẩu và 2,66 lao động/hộ.
  • Tư liệu sản xuất và tài sản: 0% hộ nghèo sở hữu máy cày kéo (trong khi hộ khá đạt 66,66%); 72,22% hộ nghèo nuôi trâu bò để lấy sức kéo cày bừa nhằm tiết kiệm chi phí thuê cơ giới hóa (chi phí thuê máy cày là 210.000 đồng/sào, mua máy mới mất từ 23 - 30 triệu đồng). Về tài sản sinh hoạt, 100% hộ nghèo không có tủ lạnh, máy giặt, bình nóng lạnh; 75% ở nhà bán kiên cố và 25% ở nhà kiên cố.
  • Đất đai canh tác: Diện tích đất nông nghiệp bình quân của hộ nghèo chỉ có 0,12 ha/hộ (hộ khá có 0,20 ha/hộ); đất trồng cây hàng năm của hộ nghèo là 0,02 ha/hộ (hộ khá là 0,08 ha/hộ); đất lâm nghiệp của hộ nghèo chỉ đạt 0,91 ha/hộ (trong khi hộ khá đạt 6,78 ha/hộ). Nhiều hộ nghèo tách hộ nhưng chưa được cấp quyền quản lý đất riêng mà vẫn chung sổ đỏ với bố mẹ.
  • Chi phí sản xuất và đời sống: Chi phí sản xuất bình quân của hộ nghèo rất thấp, chỉ đạt 3.004 nghìn đồng/hộ/năm (hộ khá đầu tư tới 38.944 nghìn đồng/hộ/năm); tổng chi phí của hộ nghèo là 17.032 nghìn đồng/hộ/năm (chi phí sinh hoạt chiếm 14.028 nghìn đồng), trong khi tổng chi phí của hộ khá là 72.389 nghìn đồng/hộ/năm.
  • Thu nhập và cơ cấu thu nhập: Thu nhập bình quân đầu người của nhóm hộ nghèo chỉ đạt 220.466 đồng/người/tháng (thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo quốc gia 400.000 đồng/người/tháng), nhóm hộ trung bình đạt 527.778 đồng/người/tháng và nhóm hộ khá đạt 1.644.000 đồng/người/tháng. Về cơ cấu thu nhập của hộ nghèo: nghề khác (làm thuê, bốc vác gỗ, cửu vạn mỏ vàng, phụ vữa) chiếm tỷ trọng lớn nhất với 37,35%; chăn nuôi chiếm 26,91%; trồng trọt chiếm phần còn lại. Ngược lại, nhóm hộ khá có thu nhập chính từ chăn nuôi (chiếm 58,26%).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp những kết luận chính về thành quả giảm nghèo của xã Cây Thị từ 68,84% xuống 39,80%; chỉ rõ các nút thắt nội tại; đưa ra hệ thống kiến nghị phân cấp đối với cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức đoàn thể địa phương và các khuyến nghị nâng cao năng lực chủ động vươn lên thoát nghèo cho người dân.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính của đề tài:

  • Lượng hóa chính xác thực trạng phân hóa kinh tế: Tỷ lệ hộ nghèo của xã Cây Thị giảm bình quân qua các năm nhưng đến cuối năm 2013 vẫn ở mức cao (39,80%), trong đó tỷ lệ hộ trung bình chiếm 40,24% và hộ khá, giàu chỉ chiếm 19,95%. Nguy cơ tái nghèo từ nhóm hộ trung bình là rất lớn.
  • Xác lập cơ cấu thu nhập thực tế của người nghèo: Thu nhập của hộ nghèo tại địa phương đạt bình quân 220.466 đồng/người/tháng, chỉ đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt tối thiểu. Thu nhập không dựa vào sản xuất nông nghiệp hàng hóa mà phụ thuộc tới 37,35% vào việc làm thuê thời vụ bấp bênh (bốc vác gỗ, phụ hồ, cửu vạn). Chăn nuôi chỉ đóng góp 26,91% do lợn xuất chuồng đạt trọng lượng thấp (45 - 65 kg/con) vì thiếu vốn thức ăn công nghiệp.
  • Nhận diện các nguyên nhân cốt lõi gây nghèo: Đề tài chỉ rõ tình trạng thiếu đất sản xuất (hộ nghèo chỉ có 0,12 ha đất nông nghiệp và 0,91 ha đất rừng/hộ); thiếu tư liệu sản xuất cơ giới hóa (0% máy cày kéo); tỷ lệ phụ thuộc lao động cao (chủ hộ cao tuổi gánh cháu nhỏ hoặc vợ chồng trẻ thiếu đất, sinh con sớm); rào cản tiếp cận vốn tín dụng do thủ tục và thiếu phương án sản xuất hiệu quả; cơ sở hạ tầng giao thông hư hại do phương tiện vận chuyển khoáng sản làm tăng chi phí lưu thông nông sản.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp: Kiến nghị xã đẩy mạnh quy hoạch chuyển đổi đất trồng màu kém hiệu quả sang trồng chè cành cao sản và cây lạc; phối hợp với Trạm Khuyến nông huyện mở các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi thú y nhằm giảm dịch bệnh; rà soát thủ tục vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội; tăng cường kiểm soát tải trọng phương tiện của các doanh nghiệp khai khoáng để bảo vệ hệ thống đường liên thôn; phân công cụ thể từng tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Phụ nữ, Cựu chiến binh) trực tiếp theo dõi, hỗ trợ hội viên thoát nghèo.

Đóng góp của tác giả: Khóa luận đã cung cấp một bộ dữ liệu điều tra thực địa chi tiết về 60 hộ gia đình tại một xã đặc biệt khó khăn vùng trung du miền núi phía Bắc. Công trình phản ánh trực diện mối liên hệ giữa điều kiện hạ tầng, vị trí địa lý với mức độ nghèo đói của từng xóm, giúp chính quyền cơ sở có dữ liệu đối chiếu phục vụ công tác rà soát, bình xét và xây dựng kế hoạch giảm nghèo bền vững theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của khóa luận:

  • Do giới hạn về nguồn lực và thời gian thực tập tốt nghiệp (từ ngày 22/01/2014 đến ngày 25/04/2014), phạm vi khảo sát sơ cấp chỉ dừng lại ở quy mô mẫu 60 hộ tại 3/8 xóm của xã Cây Thị.
  • Chuỗi số liệu phân tích kinh tế - xã hội chủ yếu giới hạn trong giai đoạn 3 năm (2011 – 2013); các đánh giá về hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia chưa có điều kiện khảo sát định lượng sâu trên diện rộng toàn xã.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng quy mô điều tra khảo sát trên toàn bộ 8 xóm của xã Cây Thị nhằm thu thập bức tranh toàn cảnh về sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Thiết kế nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn đối với hiện tượng tái nghèo của nhóm hộ cận nghèo và nhóm hộ trung bình.
  • Phân tích chuyên sâu tác động đa chiều từ hoạt động khai khoáng (quặng sắt) ở khu vực lân cận đối với cơ cấu việc làm, môi trường sinh thái và sự phân hóa giàu nghèo của cư dân nông thôn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Quản trị phát triển và Xã hội học nông thôn cần tìm kiếm phương pháp điều tra thực địa kết hợp công cụ PRA, thiết kế bảng hỏi và xử lý số liệu phân tầng kinh tế hộ.
  • Cán bộ làm công tác giảm nghèo, quản lý nhà nước tại các phòng Nông nghiệp và PTNT, phòng Lao động - Thương binh và Xã hội cấp huyện, UBND các xã vùng miền núi, đặc biệt khó khăn.

Các phần đáng tham khảo nhất trong văn bản:

  • Bảng tiêu chí chấm điểm phân loại nhóm hộ dựa trên tài sản và thu nhập (Bảng 4.7) áp dụng tại cơ sở.
  • Phương pháp bóc tách và đối sánh cơ cấu chi phí sản xuất, chi phí sinh hoạt và nguồn thu nhập thực tế giữa ba nhóm hộ: khá, trung bình và nghèo (Bảng 4.13 và Bảng 4.14).

Câu hỏi thường gặp

1. Xã Cây Thị áp dụng tiêu chuẩn cụ thể nào để phân loại hộ nghèo và các nhóm hộ? Địa phương áp dụng Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định chuẩn nghèo nông thôn giai đoạn 2011 - 2015 (thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống). Đồng thời, Ban Xóa đói giảm nghèo xã Cây Thị kết hợp bảng tiêu chí phân loại 4 nhóm hộ dựa trên điểm tài sản và thu nhập: Nhóm 1 (>150 điểm, thu nhập >= 2 triệu đồng/tháng), Nhóm 2 (80 - 150 điểm, thu nhập 1 - 2 triệu đồng/tháng), Nhóm 3 (40 - 80 điểm, thu nhập 400 nghìn - 1 triệu đồng/tháng) và Nhóm 4 (dưới 40 điểm tài sản, thu nhập bình quân dưới 400 nghìn đồng/người/tháng - thuộc diện hộ nghèo).

2. Tỷ lệ hộ nghèo của xã Cây Thị trong giai đoạn 2011 - 2013 biến động ra sao và xóm nào có tỷ lệ nghèo cao nhất? Giai đoạn 2011 - 2013, tỷ lệ hộ nghèo toàn xã giảm mạnh từ 68,84% (497/722 hộ năm 2011) xuống 50,06% (412/823 hộ năm 2012) và còn 39,80% (359/902 hộ năm 2013). Tuy nhiên, mức độ nghèo phân bổ không đều giữa các xóm: năm 2013, xóm Khe Cạn có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất toàn xã với 50,91% (28/55 hộ) do nằm xa trung tâm xã, giao thông khó khăn; ngược lại, xóm Hòa Bình có tỷ lệ hộ nghèo thấp nhất xã là 13,21% (7/53 hộ) nhờ gần thị trấn Trại Cau và có mỏ khai khoáng thu hút lao động.

3. Cơ cấu thu nhập của nhóm hộ nghèo tại xã Cây Thị có điểm gì đặc thù so với nhóm hộ khá? Nhóm hộ nghèo có thu nhập bình quân chỉ đạt 220.466 đồng/người/tháng. Nguồn thu lớn nhất của hộ nghèo không phải từ nông nghiệp thuần túy mà đến từ "nghề khác" chiếm tới 37,35% (các công việc làm thuê bấp bênh như bốc vác gỗ, phụ hồ, cửu vạn mỏ vàng), tiếp theo là chăn nuôi chiếm 26,91%. Ngược lại, nhóm hộ khá có mức thu nhập bình quân 1.644.000 đồng/người/tháng, trong đó chăn nuôi hàng hóa quy mô lớn là nguồn thu chủ đạo chiếm 58,26%, nghề khác chiếm 26,60% và trồng trọt chiếm 15,14%.

4. Vì sao nhóm hộ nghèo gặp rào cản lớn trong việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất nông nghiệp? Khảo sát 36 hộ nghèo cho thấy 0% hộ có máy cày, máy kéo. Để đầu tư một máy cày phục vụ sản xuất cần từ 23 đến 30 triệu đồng, vượt quá khả năng tài chính của hộ nghèo. Bên cạnh đó, giá thuê máy cày bừa trên địa bàn là 210.000 đồng/sào, mức chi phí quá cao đối với các hộ có nguồn vốn eo hẹp. Do đó, 72,22% hộ nghèo buộc phải nuôi giữ từ 1 đến 2 con trâu để tận dụng sức kéo thủ công truyền thống thay vì áp dụng cơ giới hóa.

5. Hiện trạng sở hữu đất đai giữa các nhóm hộ điều tra chênh lệch như thế nào trong năm 2013? Diện tích đất đai bình quân của nhóm hộ nghèo thấp hơn rất nhiều so với nhóm hộ khá ở tất cả các loại đất: đất nông nghiệp của hộ nghèo bình quân chỉ đạt 0,12 ha/hộ (hộ khá đạt 0,20 ha/hộ); đất hàng năm chỉ có 0,02 ha/hộ (hộ khá là 0,08 ha/hộ); đất lâm nghiệp của hộ nghèo chỉ đạt 0,91 ha/hộ (trong khi hộ khá sở hữu tới 6,78 ha/hộ). Nguyên nhân chủ yếu do nhiều hộ nghèo là các cặp vợ chồng trẻ mới tách hộ nhưng chưa được cha mẹ hoàn tất thủ tục bàn giao quyền sử dụng đất riêng.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Bàn Thị Phương đã phản ánh chi tiết thực trạng nghèo đói và sự phân hóa kinh tế hộ tại xã Cây Thị, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2011 – 2013 thông qua hệ thống dữ liệu thứ cấp và mẫu điều tra thực địa 60 hộ gia đình. Nghiên cứu đã làm rõ các nguyên nhân trực tiếp kìm hãm sự phát triển của hộ nghèo, bao gồm tình trạng thiếu đất sản xuất, thiếu vốn đầu tư cơ giới hóa, việc làm thuê thời vụ bấp bênh và hạ tầng giao thông xuống cấp. Các giải pháp đề xuất về chuyển dịch cây trồng giá trị cao, tăng cường khuyến nông, hỗ trợ vốn vay chính sách và kiểm soát tải trọng phương tiện khai khoáng mang tính bám sát điều kiện thực tế của địa bàn nghiên cứu.