Đặt vấn đề Ngày nay đói nghèo đang trở thành vấn đề cấp bách của nhiều quốc gia trong khu vực và trên toàn thế giới. Muốn thực hiện phát triển xã hội bền vững không thể không giải quyết vấn đề đói nghèo. Nghèo đói là một hiện tượng phổ biến của nền kinh tế, nó tồn tại khách quan. Ngày nay trên thế giới còn khoảng 1 tỷ người sống trong cảnh nghèo khổ, tập trung chủ yếu ở các nước chậm phát triển thuộc các khu vực châu Á, Châu Phi…Trong điều kiện hiện nay sự toàn cầu hóa đem lại hiệu quả hết sức to lớn về phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, song mặt trái của nó chính là tỷ lệ gia tăng thất nghiệp, nghèo đói và hàng loạt các vấn đề nổi cộm cần giải quyết thuộc về các quốc gia nói riêng và toàn cầu nói chung.
Ở nước ta qua quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường với xuất phát điểm thấp thì càng không thể tránh khỏi thậm chí trầm trọng và gay gắt. Tình trạng nghèo đói không còn cá biệt mà đã trở nên phổ biến ở nông thôn, các vùng khó khăn, trung du miền núi. Đói nghèo được xem là lực cản của sự phát triển thì xóa đói giảm nghèo là con đường phá vỡ rào lực cản, tạo điều kiện cho sự phát triển. Đói nghèo không thể tạo ra đầy đủ về nhu cầu ăn, mặc, giải trí, dẫn tới hậu quả yếu kém về thể lực và trí lực làm giảm khả năng lao động, tạo của cải vật chất xã hội và như vậy không thể tạo cho nền kinh tế phát triển một cách bền vững.
Xóa đói giảm nghèo ghóp phần đảm bảo an ninh trật tự xã hội, tạo ra môi trường xã hội trong sạch, thuận lợi để phát triển kinh tế xã hội. Đói nghèo là một nguy cơ không tiếng ồn nhưng lại là một nguyên nhân gây nên tội phạm, các tệ nạn xã hội, bạo lực mất an ninh xã hội. Vì vậy, xóa đói giảm nghèo đã trở thành chủ đề quan tâm của toàn nhân loại và là mục tiêu, là nhiệm vụ nặng nề của nhiều tổ chức 2 quốc tế. Tất cả đã và đang áp dụng các biện pháp xoay chuyển, kiểm soát và đi đến xóa bỏ đói nghèo trên hành tinh chúng ta.
Trong tình hình phát triển chung của cả nước, xã Cây Thị là một xã khó khăn của huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên. Trong những năm qua cũng có những bước ngoặt đáng kể trong công tác xóa đói giảm nghèo. Song những tồn tại như cơ sở hạ tầng yếu kém, trình độ dân trí chưa cao và đặc biệt là tỉ lệ hộ nghèo còn lớn, năm 2013 là 359/902 hộ (chiếm 39,8%). Do đó xóa đói giảm nghèo là một vấn đề lớn mà các cấp lãnh đạo, nhân dân địa phương cùng phải đồng thuận giải quyết.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế và sự quan tâm của riêng cá nhân, tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp giảm nghèo tại xã Cây Thị - Đồng Hỷ - Thái Nguyên” để nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu Đánh giá thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và những yếu tố chính ảnh hưởng đến vấn đề nghèo đói của các hộ nông dân và đưa ra những giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống cho người dân trên địa bàn nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu - Phân tích được thực trạng đói nghèo trên địa bàn xã Cây Thị. - Phân tích được những nguyên nhân và các yếu tố ảnh hưởng tới vấn đề nghèo đói tại địa bàn nghiên cứu.
- Tìm hiểu được một số chương trình giảm nghèo đã và đang triển khai tại địa phương. - Đề xuất được một số giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo bền vững cho các hộ dân trên địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3 Nghiên cứu đề tài đòi hỏi sinh viên phải vận dụng nhiều kiến thức đã học để đưa vào thực tế, các thủ thuật về xác suất thống kê, kỹ năng đặt câu hỏi khai thác thông tin, các phương pháp PRA, khả năng phân tích xử lý số liệu, khả năng nhận định theo các nguyên lý phát triển nông thôn, sự tổng hợp và đưa ra lý luận từ những vấn đề thực tiễn.
Nghiên cứu đề tài được xem như bài học thực tế đầu tiên giúp cho sinh viên làm quen khi bắt tay vào thực tế, nó là cơ hội nhưng cũng đầy thách thức mà sinh viên phải đối mặt và trải qua trước khi ra trường và bắt tay vào công việc, nghề nghiệp của mình sau này. Đây là đề tài nghiên cứu có tính chất cấp thiết và quan trọng hàng đầu trong các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của thế giới cũng như Việt Nam. Bởi trong các vấn đề của xã hội thì nghèo đói được xem là gốc rễ dẫn tới nhiều những vấn đề khác của cuộc sống. Nó là một mắt xích trong vòng luẩn quẩn của các vấn đề xã hội.
Ý nghĩa thực tiễn Đề tài sẽ góp phần vào việc đánh giá thực trạng đói nghèo tại địa phương, những nguyên nhân nghèo đói, hiệu quả của các chính sách, chương trình triển khai tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của bà con địa phương. Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là cơ sở giúp chính quyền và ban ngành đoàn thể trong xã đưa ra được những biện pháp giảm nghèo có hiệu quả hơn. 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Một số quan niệm về nghèo Nghèo diễn tả sự thiếu cơ hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định. Thước đo các tiêu chuẩn này và các nguyên nhân dẫn đến nghèo nàn thay đổi tùy theo địa phương và theo thời gian. Tổ chức y tế thế giới định nghĩa nghèo theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Incomme, PCI) của quốc gia.[14] Theo quan điểm nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì nghèo là không có thức ăn bổ dưỡng, phải tiết kiệm tiền cho bữa ăn hôm sau, chẳng có phương tiện đi lại, cuộc sống không ổn định, buôn bán nhỏ lẻ, trẻ con chỉ đi học khi nào có tiền, chẳng có ai giúp đỡ, không được chơi tennis, chẳng có gì giải trí ngoài đánh bạc và mua vé số.[5] *) Nghèo tuyệt đối Để có một cái nhìn tổng quan về các vấn đề của các nước đang phát triển, Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối.
Ông định nghĩa khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: “Nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng của giới trí thức chúng ta’’. Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với (đô la thế giới) để thỏa mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Trong những bước sau đó các trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được 5 xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp.[14] *) Nghèo tương đối Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân.
Nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó. Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn.
Việc nghèo đi về văn hóa - xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng. Hộ nghèo và phương pháp xác định chuẩn nghèo của Chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia *) Hộ nghèo Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 – 2015. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011 - 2015 như sau: Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.000 đồng/người/năm) trở xuống. Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000 đồng/người/năm) trở xuống.
6 Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/người/tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/người/tháng.[7] Chuẩn mực xác định nghèo ở Việt Nam qua các giai đoạn như sau: Bảng 2.1: Chuẩn nghèo đói được xác định qua các thời kỳ từ năm 1993 đến 2011 Hộ đói Hộ nghèo Giai đoạn Đơn vị tính (Dưới (Dưới mức) mức) 1. Giai đoạn 1993 – 1994 Gạo Khu vực nông thôn Kg/người/tháng 8 15 Khu vực thành thị Kg/người/tháng 13 20 2. Giai đoạn 1995 – 1997 Gạo Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Kg/người/tháng 13 15 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Kg/người/tháng 13 20 Vùng thành thị Kg/người/tháng 13 25 3.
Giai đoạn 1997 – 2000 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Nghìn đồng/người/tháng 45 55 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Nghìn đồng/người/tháng 45 70 Vùng thành thị Nghìn đồng/người/tháng 45 90 4. Giai đoạn 2001 – 2005 Vùng nông thôn miền núi, hải đảo Nghìn đồng/người/tháng - 80 Vùng nông thôn đồng bằng, trung du Nghìn đồng/người/tháng - 10 Vùng thành thị Nghìn đồng/người/tháng - 150 5. Giai đoạn 2006 – 2010 Khu vực nông thôn Nghìn đồng/người/tháng - 200 Khu vực thành thị Nghìn đồng/người/tháng - 260 6. Giai đoạn 2010-2015 Khu vực nông thôn Nghìn đồng/người/tháng 400 Khu vực thành thị Nghìn đồng/người/tháng 500 (Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) 7 2.
Cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay Đầu năm 2011 Chương trình Phát triển LHQ (UNDP) ước tính, trên thế giới có khoảng một tỷ người lâm vào tình trạng thiếu lương thực.