CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA VIỆC PHÁT TRIEN NGON NGỮ CHO TRE ĐIẾC 1. Hệ thống các khái niệm cơ bản và khái niệm cốt lõi của đề tài 1. Khai niệm cơ bản - Tật Điếc: Sự tiếp nhận âm thanh của bộ máy thính giác có thể không đầy đủ và trung thực, thậm chí bị mắt. Hiện tượng này có thê xây ra ngay từ tai ngoài.
Trong ống tai có nhiều ráy tai, làm cản trở sóng âm vào màng hoặc màng nhĩ quá dày kém rung động làm ảnh hưởng đến âm thanh nghe được. Đặc biệt ở tai giữa rất hay bị viêm nhiễm (chảy mủ tai) làm cho âm thanh không thé truyền vào tai trong làm chúng ta không nghe được hoặc nghe rất ít. Đặc biệt tai trong là bộ phận rất nhạy cảm với một sỐ độc tố làm suy giảm khả năng nghe va khả năng hiểu gây ra mat thính lực nặng. - Trường chuyên biệt (Specail school): là loại hình trường học được thiết lập dành riêng cho những trẻ em không học trường bình thường.
- Khuyết tật thính giác (Hearing impairment): vào những năm 70 và những năm 80, các nhà chuyên môn thường dùng thuật ngữ “khiếm thính”. Vào những năm 90, những người Điếc tự bác bỏ thuật ngữ “khiếm thính” và họ thích dùng thuật ngữ “Điếc” hơn. Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ dùng từ “Điếc”. Vì vốn di hai từ “Điếc” và “khiếm thính” là hai khái niệm khác nhau.
Hai khái niệm chỉ sự mất hoặc giảm sút thính lực ở những mức độ khác nhau từ nhẹ tới nặng. Khái niệm cốt loi - Trẻ Điếc (Deaf children): là những trẻ mắt hẳn sức nghe (hoàn toàn không có khả năng nghe) dẫn đến khó khăn trong giao tiếp và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của trẻ. - Phát triển ngôn ngữ giao tiếp (Develop communication language): là vốn từ vựng và cấu trúc ngôn ngữ phục vụ trong cuộc sống hàng ngày, là phương tiện dé phát biéu cảm xúc và nhu cầu của bản thân. Một số đặc điểm cơ bản của tật Điếc 1.1: Biểu hiện Trẻ Điếc là trẻ có sự suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau, dẫn đến sự khó khăn trong tri giác âm thanh, trong đó có âm thanh ngôn ngữ, làm hạn chế khả năng giao tiếp bằng lời và ảnh hưởng đến quá trình nhận thức của người.
Hay đơn giản hơn, khi một đứa trẻ không thể nghe được âm thanh như những đứa người cùng tudi, chúng ta nói rằng, trẻ bị Điếc. Trẻ Điếc chỉ gặp khó khăn với việc nghe, ngoài ra người không bị một khuyết tật nào khác về tâm thần. Hay nói một cách khác, ở trẻ Điếc sự phát triển của các cơ quan ở hệ thần kinh, hệ hô hấp, hệ vận động.đều phát triển bình thường, trừ cơ quan thính giác. Nếu một đứa trẻ được phát hiện bị Điếc sau ba tuôi, thì sự phát triển sau này bị ảnh hưởng rất nghiêm trọng.
Bởi vì, với một người bình thường, ngay từ khi mới chào đời, hoạt động giao tiếp đã bắt đầu. Mặt khác, đây cũng là giai đoạn có ý nghĩa quyết định của quá trình thụ đắc ngôn ngữ. Do vậy, những người phát hiện Diéc sau ba tuôi đều có rất ít cơ hội nhận kích thích lời nói. Cha mẹ và những người xung quanh thì vẫn nói chuyện với trẻ, nhưng nó không nghe thấy.
Đứa trẻ đó đã bị bỏ lỡ mất cơ hội được can thiệp, bị chậm mắt cơ hội phát triển về ngôn ngữ, giao tiếp và nhận thức. Ngôn ngữ lời nói là điểm yếu ở trẻ Điếc. Trẻ Điếc không nghe dẫn đến không thé nói, không thé hiểu ngôn ngữ lời nói. Tuy nhiên, bù lại, trẻ Điếc biết sử dụng cử chỉ để giao tiếp.
Những trẻ Điếc nhẹ và Điếc trung bình, có sự trợ giúp của máy trợ thính sẽ nghe và nói tốt hơn. Việc hình thành kĩ năng giao tiếp vì vậy cũng thuận lợi hơn. Với những trẻ Điếc nặng, máy trợ thính không giúp trẻ nghe và nói được. Việc hình thành kĩ năng giao tiếp và tạo điều kiện dé trẻ Điếc học tập văn hóa sẽ gặp rất nhiều khó khăn.
Vậy có cách nào để xác định sớm và chính xác mức độ Điếc dé có thé giúp đỡ nhiều hơn khi trẻ Điếc còn nhỏ? Muốn vậy, chúng ta phải nắm được cấu trúc của tai, các bệnh ở tai gây nên tật điếc ở người, xác định mức độ Điếc, từ đó mới đề ra được kế hoạch và mục tiêu can thiệp, giúp đỡ trẻ Điếc hình thành kĩ năng giao tiếp.2: Nguyên nhân Ở người, tai là cơ quan thính giác, vì vậy tật Điếc là do những khuyết tật ở tai gây nên. Tuy nhiên, không giống với những tật khác, rất ít trẻ Điếc được phát hiện kip thời. Thường, chúng ta không thê “thấy” Điếc, một trẻ Điếc trông hoàn toàn giống một người bình thường, bởi vì tai và cơ chế hoạt động của nó rất phức tạp. Dưới đây, chúng tôi chỉ nêu một cách khái quát cấu tao và cơ chế hoạt động của tai.
Nó gồm một vai bộ phan ở ngoài và một vài bộ phận ở trong đầu chúng ta. Bộ phận của tai mà chúng ta nhìn thấy rõ nhất là tai ngoài. Tai ngoài chỉ gồm vành tai và một phần của ống tai. Tai ngoài có nhiệm vụ thu nhận sóng âm thanh và chuyển nó vảo tai giữa.
Tại đây, ráy tai hoặc hạt gì đó có thể mắc kẹt, nhưng nó không làm cho người không nghe được. Tai giữa là một khoang trống được lấp day không khí và có ba xương con. Sóng âm thanh từ tai ngoài đi vào làm cho các xương con này chuyển động. Nếu tai giữa bị viêm, sẽ làm ảnh hưởng đến sự hoạt động của ba xương con, gây khó khăn cho âm thanh được chuyền vào tai trong.
Tuy nhiên, những bệnh ở tai ngoài và tai giữa có thé được điều trị, nêu chúng được phát hiện kip thời. Khi tai giữa bình thường, sóng âm thanh được chuyên vào tai trong. Tai trong là một ống cuộn trông giống hình con ốc nên được gọi là ốc tai. Tai của chúng ta sẽ nghe được các âm thanh bằng một cơ chế hết sức phức tạp và tinh vi.
Trong ống cuộn của ốc tai có rất nhiều nang lông. Sóng âm thanh từ tai giữa chuyên vào làm cho các nang lông chuyển động. Sự chuyển động này, gửi một tín hiệu âm thanh đến dây thần kinh thính giác. Dây thần kinh thính giác sẽ chuyển tín hiệu sóng âm đó đến não.
Trong não, tín hiệu đó sẽ được mã hóa và như vậy, tai của chúng ta đã nghe được một cái gì đó. Đấy là những bước rất cơ bản trong hoạt động nghe của tai. Nếu tất cả những nang lông trong ốc tai đều ổn thì hoạt động nghe sẽ diễn ra bình thường. Ngược lại, vì một lí do nào đó những sợi nang lông này hoạt động kém hoặc không hoạt động, tai của chúng ta sẽ nghe rất kém hoặc không nghe thấy.
Đó là tình trạng của những trẻ bị Điếc nặng. Ngoài ra Điếc nặng còn là hậu quả của sự tốn thương dây thần kinh thính giác. Những tốn thương ở tai trong có thé do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân trước khi sinh có thể do đi truyền, nhiễm độc bào thai, mẹ bị sốt rubela trong giai đoạn đầu thai kì, hoặc bất đồng nhóm máu mẹ con (nhóm Rh).
Những nguyên nhân gây Điếc nặng trong khi sinh, thường xảy ra ở những trường hợp đẻ thiếu ôxy hoặc bi chan thương. Những trẻ sau khi sinh mới bị Điếc nặng, thường là bị nhiễm trùng do vi rút hoặc vi khuẩn như viêm màng não. Còn những tốn thương ở dây thần kinh giác quan thường có nguyên nhân là u thần kinh. Đôi khi, Điếc nặng không xác định được nguyên nhân.
Khác với các bệnh ở tai ngoài và tai giữa, bệnh ở tai trong không thể chữa khỏi một cách đơn giản và có thể bị Điếc vĩnh viễn. Vì vậy khác với những dạng tật khác, việc xác định chính xác mức độ Điếc, thời điểm bị Điếc có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giáo dục, phát triển ngôn ngữ cho trẻ Điếc. Nếu trẻ Điếc được phát hiện sớm và trị liệu, phát triển ngôn ngữ kịp thời trong khoảng 10 thời gian được coi là giai đoạn vàng trong sự phát triển ngôn ngữ là từ 0 đến 3 tuổi, thì tiến trình phát triển ngôn ngữ của trẻ Diéc sẽ có kết quả gan giống với trẻ bình thường. Lat cắt dọc của tai Am thanh từ ngoài, đập vào màng nhĩ, qua tai giữa vào ôc tai Hình 1.
Sự kết nỗi những sợi nang lông trong ốc tai và dây than kinh thính giác 11 Hình 1. Than kinh thính giác chuyển tín hiệu âm thanh lên não 1. Phân loại Có nhiều cách phân loại Điếc, nhưng cách phân loại dựa trên tiéu chi thính lực của người là phố biến hơn cả. Mức độ Khả năng nghe im Nghe được những âm thanh có âm lượng lớn hơn Diéc nhẹ (20 — 40dB) bình thie ình thường.
Điếc trung bình (40 - 70dB) |Chỉ nghe được nhờ máy trợ thính Điệc nặng, Điệc sâu (70 — Chỉ nghe được rất ít, dù có đeo máy trợ thính. Bảng phân loại mức độ Diéc Những trẻ Điếc nặng, Điếc sâu, Điếc bam sinh là những người Điếc cam. Tức là những người đó mat sức nghe đến mức mat luôn cả khả năng cảm nhận ngôn ngữ tự nhiên. Với những người đó, ngôn ngữ kí hiệu được coi như ngôn ngữ mẹ đẻ.
Ở những nhóm người khác, có thể mức độ cảm nhận ngôn ngữ tự nhiên tốt hơn ở những trẻ bị Điếc câm. Tuy nhiên tại các trường học, 12 trung tâm giáo dục trẻ Điếc, ngôn ngữ kí hiệu vẫn được sử dụng như một phương tiện chính dé giao tiếp và học tập văn hóa. Một số đặc điểm của trẻ Điếc đầu cấp tiểu học 1. Đặc điểm tâm sinh lý và các giác quan ở trẻ Điếc giai đoạn dau cấp Tiểu học 1.1: Đặc điểm về cảm giác, tri giác Trong việc tiếp nhận ngôn ngữ, cảm giác, tri giác thì thính giác có vai trò quan trọng đặc biệt.
Trên cơ sở này diễn ra sự phát triển các hình thái chủ động và bị động của lời nói. Nghe được tiếng nói của người xung quanh, đứa trẻ bắt chước và bập bẹ được những từ đầu tiên. Nhờ lời nói, đứa trẻ nhận được những thông tin cơ bản, lĩnh hội những kiến thức và kinh nghiệm mà người lớn truyền cho. Sự phá hủy tri giác về tiếng nói của những người xung quanh tự nhiên sẽ kéo theo sự phá hủy quá trình hình thành ngôn ngữ tích cực.
Trẻ Điếc không thể tự mình lĩnh hội được những ngôn ngữ một cách tự nhiên. Sự thực là, trẻ Điếc sẽ bị câm nếu trẻ không được phát hiện sớm.