CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG NGOÀI CÔNG LẬP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ngoài nước Giáo dục ngoài công lập ở một số nước trên thế giới đã phát triển từ rất sớm, kèm theo đó đã có nhiều công trình nghiên cứu về loại hình trường này của nhiều tác giả.
Trong đó có thể điểm qua một số công trình của các tác giả sau: Tác giả Richard Aldrich (Anh) trong công trình nghiên cứu "Giáo dục công hay Giáo dục tư - Bài học từ lịch sử" [85] giáo dục NCL ở nước Anh từ đó đưa ra nhận xét: Trường tư, có thể có những chức năng khác nhau trong xã hội khác nhau và ở các giai đoạn khác nhau. Ở một vài nước, trường tư là dành cho các mục đích về tín ngưỡng và văn hóa. Ở Anh, trong suốt 130 năm, trường tư nhằm mục tiêu củng cố địa vị xã hội cho những trẻ em ở tầng lớp thượng lưu và trung lưu. Những số liệu thống kê đã chứng minh sự thành công của các em học sinh ở những trường này trong các kỳ thi chung cũng như việc được tuyển chọn vào các trường đại học có danh tiếng.
Công trình nghiên cứu cũng đưa ra nhận định rằng: GD đã, và sẽ tiếp tục có hai hình thức: GD tư và GD công. Việc nghiên cứu về lịch sử mối quan hệ giữa GD tư và GD công cho thấy mối quan hệ của hai hình thức GD này tại các thời điểm khác nhau trong lịch sử. Vấn đề giữa GD công và GD tư không chỉ ở khía cạnh quản lý, cung cấp vốn cho hệ thống nói chung mà còn liên quan đến những vấn đề như vị trí của GD, loại hình, hình thức sở hữu và cách học… Tác giả Hary, Anthony Patrinos và Schohana Sosale trong cuốn sách "Huy động bộ phận tư nhân cho Giáo dục công lập" [87] đã bàn về vai trò của hình thức bán công trong GD. Hình thức GD bán công ra đời với mục [Type text] Page 24 [Type the document title] đích nâng cao chất lượng của các trường công.
Trường công ở hầu hết các nước bị hạn chế về nguồn lực để duy trì cơ sở hạ tầng và cung cấp tiện nghi cho một môi trường hoc có chất lượng. Bán công được hiểu là bộ phận tư nhân rót vốn vào trường công để trở thành đồng sở hữu trường này. Trong các chính sách về GD, hình thức bán công đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho xã hội. GD bán công khác GD công và GD tư về hình thức cũng như cấu trúc, tuỳ thuộc vào quy mô cũng như mức độ tham gia của 2 cấu thành: GD tư và GD công.
Cuốn sách đã cung cấp những cái nhìn sâu sắc, có giá trị về mục đích, xu hướng và ảnh hưởng của GD bán công trên một số nơi khác nhau của thế giới, cũng như tìm hiểu về những khó khăn, rào cản mà họ phải đối mặt. Các tác giả Laurence Wolff, Juan Carlos Navarro, Pablo Gonzálaz trong công trình nghiên cứu "Các chính sách về giáo dục tư và công ở các nước Mỹ La tinh" [91] đã xem xét mối quan hệ của GD công và GD tư ở Mỹ La tinh bằng cách kết hợp phân tích khái niệm với các nghiên cứu thực nghiệm cho các trường hợp ở argentina, Chile, Colombia, Guatemala, Peru và Venezuela. Tác giả Geoffrey Walford (Anh) trong tài liệu "Giới thiệu về trường tư ở Anh" đã phân tích thực trạng trường tư ở nước Anh và đưa ra một số kết luận: Từ lâu trường tư ở Anh đã được coi là trung tâm của sự gia tăng bất bình đẳng trong xã hội, trong khi chúng chỉ chiếm khoảng 7% tổng số trường học, có khoảng hơn một nửa các sinh viên ở các Đại học (ĐH) nổi tiếng như Oxfford và Cambrigde là đến từ các trường trung học tư và các trường này từ lâu đã có những đặc quyền ưu đãi. Năm 2003, có khoảng 2160 trường tư được đăng ký ở Anh, đã đào tạo ra gần 583.000 học sinh, chiếm khoảng 6,79% trẻ em độ tuổi đi học.
Khoảng một nửa số trẻ em trong các trường ở Anh là ở 9 vùng lãnh thổ địa lý. Ở Scotlen có khoảng 3% trẻ em theo học tại trường tư, trong khi xứ Wale và bắc Alen, con số này còn ít hơn, vì có sự khác biệt đáng [Type text] Page 25 [Type the document title] kể trong bốn hệ thống hợp pháp của vương quốc Anh. Tài liệu tập trung nghiên cứu trường tư ở lục địa Anh. Những trường tư nổi tiếng ở Anh, là trường rất lâu đời, thành lập với mục đích phục vụ những người có đặc quyền về kinh tế và chính trị.
Những cái tên như Eton, Winchester, Westimnsster và Cheltenham Ladies được coi là những trường hàng đầu trên thế giới, học sinh những trường này được tuyển chọn gắt gao về năng lực học tập cũng như năng lực tài chính, học phí hàng năm của các trường này lên đến 17000 bảng (chưa kể các khoản phụ thu khác). Học sinh của các trường này thường ra trường với bảng điểm A và hầu hết được nhận vào các trường ĐH có danh tiếng, tuy nhiên các trường nổi tiếng này chỉ chiếm một số nhỏ trong hệ thống các trường tư ở Anh. Tác giả William, K Cumming và Phillip G. Altbach (Hoa Kỳ) trong cuốn sách "Những thách thức của nền GD Đông Á" [107], chương 8: GD tư của các nước Đông Á, sau khi phân tích sự hình thành, phương pháp quản lý và vai trò của trường tư ở một số nước: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Philippins, Malaysia, Thái Lan và Trung Quốc.
Tác giả đã kết luận: ở mỗi nơi trên thế giới, GD tư lại tồn tại ở các dạng khác nhau. Một số nước, là các trường học có chất lượng đặc biệt cao, trong khi ở những nước khác lại là những trường học có chất lượng và học phí thấp, chỉ dành cho những học sinh không có đủ điều kiện học trường công. Vai trò của nhà nước trong bộ phận GD tư cũng khác nhau: từ hoàn toàn không có vai trò gì, hỗ trợ một phần đến kiểm soát tuyệt đối. Trường hợp các nước Châu Á, đặc biệt là các nước Đông Á có một số đặc điểm riêng: Ở một số nước, "tự chủ" (privateness) của các trường tư là khá rõ ràng.
Ban quản trị được chỉ định của các trường này là người chịu trách nhiệm cho các hoạt động, doanh thu chủ yếu là từ học phí và các khoản phí khác. Trong một số trường hợp, lợi nhuận của trường học được chia một phần cho những người nắm quyền sở hữu, trong một số trường hợp khác, lợi nhuận này lại được những người nắm [Type text] Page 26 [Type the document title] quyền sở hữu trả lại cho trường để sử dụng trong tương lai. Phổ biến hơn là các trường học tư phi lợi nhuận, họ phải tuân theo quy định của chính phủ để được miễn thuế. Nhóm các trường tư có tính tự chủ cao có điểm chung là họ không được hưởng các trợ cấp trực tiếp từ chính phủ.
Trong một số trường hợp "trợ cấp" là cho các mục đích cụ thể như trợ cấp cho bữa ăn, phòng thí nghiệm… Một số trường hợp khác, trợ cấp là để bù đắp một phần hoặc tất cả các khoản chi cho lương giáo viên, thậm chí là bù đắp một phần lớn các chi phí hoạt động chung. Đặc biệt có một công trình nghiên cứu của hai tác giả nước ngoài nghiên cứu về GD NCL ở Hà Nội đó là tác giả Paul Glewwe và Harry Anthony Patrinos trong công trình nghiên cứu "Vai trò của bộ phận tư nhân trong nền Giáo dục Việt Nam" [103]. Công trình nghiên cứu đã phân tích thực trạng giáo dục NCL ở Việt Nam, có phân tích tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội và địa lý. Trên cơ sở đó các tác giả đưa ra một số nhận xét: Một lượng khá lớn các học sinh nhập học ở các trường tư thuộc cấp THPT.
Những học sinh này không vượt qua được kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 các trường THPT công lập. Điều này cho thấy vai trò của GD tư ở Hà Nội là tạo thêm cơ hội GD cho các trẻ em không thể học do số lượng tuyển sinh có hạn của các trường công. Ở thành thị nhiều học sinh học tại trường NCL hơn là học sinh ở nông thôn nhưng sự chênh lệch giữa xu hướng học tại các trường tư ở nông thôn và thành thị là không nhiều. Mặc dù các trường công, về cơ bản không được thu thêm các khoản phí khác ngoài học phí nhưng chi tiêu cho GD ở Hà Nội tăng theo các cấp học, điều đó cho thấy không chỉ có học phí mà phụ huynh còn phải trả các chi phí khác như quỹ Ban đại diện cha mẹ học sinh, quỹ khuyến học… Nhìn chung, các gia đình sẽ phải chi nhiều hơn khi cho con học tại các trường bán công hay tư thục nhưng sự chênh lệch so với việc học ở trường công là không nhiều.
Nếu chất lượng của các trường tư thục và bán công là tốt [Type text] Page 27 [Type the document title] hơn trường công, nhiều bậc phụ huynh sẽ cho con em họ học tại trường này. Thực tế, các bậc phụ huynh chưa thật hiểu rõ về chất lượng GD tại các trường bán công hay tư thục bởi vì đây là loại hình trường mới nên họ còn do dự chưa cho con em mình học tại trường này. Những nghiên cứu trong nước Việt Nam, cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý hệ thống các trường NCL, nhất là các trường THPT-NCL là vấn đề đã được quan tâm ở trong nước, các kết quả nghiên cứu đã được trình bày qua một số bài viết, một số hội thảo và một số công trình nghiên cứu như: Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước do Văn phòng Hội đồng quốc gia GD chủ trì năm 2005 "Cơ sở lý luận, thực tiễn và các giải pháp xã hội hoá sự nghiệp Giáo dục giai đoạn 2011-2010" [70] đã phân tích thực trạng công tác xã hội hoá GD, từ đó đưa ra một số định hướng và giải pháp phát triển xã hội hoá GD trong đó có giải pháp phát triển hệ thống trường NCL: - Phân định rõ các loại hình trường, trên cơ sở vốn đầu tư, sở hữu và phân chia lợi nhuận, không duy trì loại hình bán công.