CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ HƯỚNG TIẾP CẬN LÝ THUYẾT 1. Cách tiếp cận và lý thuyết ứng dụng 1. Thuyết nhu cầu của Maslow Maslow đã xây dựng học thuyết nhu cầu vào những năm 50 của thế kỷ XX. Lý thuyết nhu cầu của Maslow giải thích những nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần.
Lý thuyết của ông giúp cho ta về hiểu thêm những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện một hệ thống thứ bậc các nhu cầu. Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người, căn cứ theo tính đòi hỏi của nó và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để quy về 5 loại sắp xếp thành thang bậc về nhu cầu của con người từ thấp đến cao. Từ nhu cầu sinh lý, vật chất đến nhu cầu an sinh; nhu cầu được thừa nhận, yêu thương; nhu cầu tự trọng, được tôn trọng và cuối cùng là nhu cầu phát triển. Nếu một trong những nhu cầu cấp thấp không được đáp ứng thì sự phát triển sẽ có sự lệch lạc.
Đặc điểm của các bậc nhu cầu như sau: Nhu cầu sinh lý, vật chất: Đây là nhu cầu cơ bản nhất trong hệ thống các thứ bậc nhu cầu, nó liên quan trực tiếp đến sự sinh tồn của mỗi con người. Nhu cầu này bao gồm nhu cầu ăn, mặc, ở, đi lại,…Những nhu cầu này đối với mỗi người đếu không thể thiếu. Đối với các trẻ bị thiểu năng trí tuệ thì càng không thể thiếu vì cơ 19 bản trẻ đã không thể tự chăm sóc bản thân, các trẻ phải phụ thuộc rất nhiều vào gia đình, các trung tâm. Nhu cầu an sinh, an toàn: Nhu cầu này đảm bảo cho con người có một môi trường không nguy hiểm, có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh ở trẻ.
Các mặt an toàn bao gồm: an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn tâm lý, an toàn ở và đi lại, an toàn sức khỏe,… Nhu cầu này nếu không được đảm bảo thì con người sẽ không thể thực hiện các nhu cầu khác. Hơn hết, các trẻ bị thiểu năng trí tuệ thì càng cần phải đáp ứng nhu cầu này vì các trẻ không thể tự bảo vệ bản thân. Nhu cầu được thừa nhận, yêu thương: Ở mức nhu cầu này hoạt động giao tiếp được coi trọng. Sự tổn thương về mặt tâm lý trong môi trường gia đình, nhà trường và xã hội sẽ làm cho trẻ không thể phát triển lên bậc cao hơn.
Nhu cầu này rất phong phú và phức tạp bao gồm: sự yêu thương, gần gũi, thân cận, khích lệ,… Nhu cầu được tôn trọng và tự trọng: Nhu cầu này bao gồm lòng tự trọng và được ngừi khác tôn trọng. Cá nhân cảm nhận, tự đánh giá về bản thân thông qua những trải nghiệm và thành quả cá nhân. Những hoạt động ngoại khóa sẽ giúp trẻ cảm nhận được thành quả của bản thân và hỗ trợ nhiều về mặt tâm lý cho trẻ. Nhu cầu phát triển: Đây là nhu cầu cao nhất của một con người.
Nhu cầu này có thể được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục, vui chơi, trải nghiệm, đào tạo kĩ năng,…Thông qua nhu cầu này mỗi người có thể phát huy điểm mạnh của bản thân. Ở trẻ thiểu năng trí tuệ cũng vậy, nó rất cần thiết trong việc hồi phục và tăng cường khả năng hòa nhập. Việc vận dụng thuyết nhu cầu của Maslow trong nghiên cứu là việc rất cần thiết và phù hợp đối với nhu cầu của trẻ thiểu năng trí tuệ. TKT nói chung và trẻ thiểu năng trí tuệ nói riêng là những đối tượng cần được đáp ứng những nhu cầu này nhất để các trẻ có thể phát triển tốt hơn và dễ dàng hòa nhập với xã hội hơn với đầy đủ các cơ hội.
Đồng thời thuyết còn giúp ta đánh giá được mức độ cần thiết của các loại nhu cầu để ta có thể đáp ứng nhu cầu cần thiết nhất cho đối tượng. Lý thuyết hành vi và phân tích hành vi ứng dụng Lý thuyết hành vi được Ivan Petrovich Pavlov-Nga-khởi xướng và các lý luận của ông đã làm tiền đề cho các công trình nghiên cứu về hành vi sau này. Tiếp nối Pavlov là các nhà nghiên cứu về tâm lý và hành vi như: J. Skinner, 20 Bandura,… đã phát triển và đưa ra nhiều phương pháp ứng dụng trong trị liệu hành vi.
Các nhà nghiên cứu theo chủ nghĩa hành vi tin tưởng rằng: Nhận thức và hành vi của con người sẽ thay đổi theo điều kiện môi trường và bị ảnh hưởng của các cá thể khác trong môi trường sống. Trong khi trị liệu hành vi, cần phải nhìn nhận và chấp nhận rằng con người đôi khi có những hành vi gây khó chịu cho người khác. Hành vi mong muốn có thể mất đi do bị tác động quá nhiều. Trong nhiều trường hợp hành vi con người có thể thay đổi theo kiểu phản xạ có điều kiện.
Từ những nhận định trên cho thấy hành vi của các trẻ thiểu năng trí tuệ cũng có thể thay đổi được qua các kiểu phản xa, qua các hoạt động ngoại khóa hằng ngày. Dựa vào các nhận định đó người chăm sóc cho các trẻ có thể thay đổi, tổ chức các hoạt động ngoại khóa hằng ngày cho trẻ để trẻ có thể tăng cường các hoạt động cơ bản cho bản thân, dễ dàng hòa nhập với xã hội. Lấy nền tảng từ lý thuyết hành vi của Pavlov, Skinner đã cho ra công trình nghiên cứu về điều kiện hóa có tác động. Hành vi mang tính tự phát nhưng có được qua học tập, qua trải nghiệm và làm nhiều lần để thõa mãn nhu cầu của bản thân được Skinner gọi là điều kiện hoá có tác động.
Sự duy trì hay chấm dứt hành vi của một người phụ thuộc vào kết quả cuẩ hành vi đó mang tính tích cực hay tiêu cực. Tính tích cực có tác dụng làm tăng và phát sinh thêm hành vi mới và ngược lại. Điều này cần được các giáo viên hay các bậc cha mẹ chú ý đến để cải thiện hành vi cho trẻ. Thông qua các hoạt động vui chơi cùng với những lời khen có thể giúp trẻ tăng cường các hành vi mà người giáo dục hướng tới.
Trên thực tế, để có được các hành vi mong muốn ngay lập tức là rất khó và các hành vi có được thông qua việc cưỡng ép sẽ không mang lại hiệu quả lâu dài, và việc từ bỏ hành vi là điều dễ dàng hơn. Vì vậy, để có thể giúp trẻ có thể có được hành vi mong muốn thì cần phải thông qua các hoạt động vui chơi để cho trẻ có thể vừa học vừa chơi. Từ đó, trẻ có thể dễ dàng tiếp thu hơn và thực hiện nó một cách tự nhiên. Và cũng vì hành vi của trẻ các hoạt động vui chơi trong giáo dục là điều rất cần thiết.
Đối với trẻ thiểu năng trí tuệ càng cần thiết hơn vì nhận thức của trẻ rất kém, một việc cần phải được thực hiện nhiều lần trẻ mới có thể ghi nhớ được. 21 Lý thuyết hành vi và phương pháp phân tích hành vi ứng dụng có hiệu quả rất cao trong việc giải quyết các vấn đề cho TKT nói chung và trẻ thiểu năng trí tuệ nói riêng. Nó chỉ ra được hành vi của con người có thể phát triển và thay đổi từ đâu và cũng như vai trò của các hoạt động vui chơi, thái độ của người giáo dục như thế nào để đối tượng đạt được những hành vi tích cực. Áp dụng lý thuyết này ta có thể hiểu hơn về vai trò cũng như tác động của các hoạt động vui chơi đối với việc hình thành các hành động, hành vi cho trẻ thiểu năng trí tuệ.
Thuyết hệ thống Thuyết hệ thống được phát triển vào những năm 30 và 40 của thế kỷ XX do nhà sinh học Ludvig Von Bertalanffy khởi xướng. Thuyết hệ thống bao quát mọi lĩnh vực (tin học, sinh học, kinh tế học, xã hội học). Một hệ thống được định nghĩa là tổng thể phức hợp gồm nhiều yếu tố liên quan với nhau và mỗi biến động trong một yếu tố nào đó điều tác động lên các yếu tố khác và cũng tác động lên toàn bộ hệ thống. Một hệ thống có thể gồm nhiều tiểu hệ thống, đồng thời là bộ phận của một đại hệ thống.
Mỗi cá nhân được coi là một hệ thống vi mô. Hệ thống vi mô có ba tiểu hệ thống: hệ thống tâm lý, hệ thống sinh học và hệ thống hành vi. Các tiểu hệ thống của con người chịu sự tác động của cả hệ thống gia đình, hệ thống xã hội. Đối với các trẻ thiểu năng trí tuệ thì cả ba tiểu hệ thống trong hệ thống vi mô đều không hoàn chỉnh vì không hệ thống nào không bị tổn thương.
Vì vậy mà chức năng của các tiểu hệ thống đều bị hạn chế. Hệ thống bao gồm hệ thống vi mô, trung mô và vĩ mô. Mỗi hệ thống đều có vai trò riêng và tác động qua lại lẫn nhau. Xoay quanh trẻ thiểu năng trí tuệ cũng có các hệ thống khác ngoài hệ thống vi mô như: gia đình, bạn bè, các tổ chức, trường học, bệnh viện, các hoạt động vui chơi, giải trí,… Chúng ta có thể dựa vào mức độ ảnh hưởng mà tác động lên đối tượng nhằm thay đổi và cải thiện những yếu tố xung quanh đối tượng một cách phù hợp và hiệu quả.
Áp dụng thuyết hệ thống này trong quá trình nghiên cứu có thể giúp cho người nghiên cứu có được cái nhìn tổng quát hơn qua sơ đồ hệ thống. Từ đó nhận diện rõ vấn đề và có tác động thích hợp lên các hệ thống để tạo ra thay đổi tích cực. Các khái niệm liên quan 1. Hoạt động ngoại khóa Khái niệm Hoạt động ngoại khóa là các hoạt động nằm ngoài chương trình học chính khóa.
Hoạt động ngoại khóa liên quan đến tất cả các hoạt động văn hóa - thể thao - giải trí - xã hội ngoài giờ học. Thông qua các hoạt động ngoại khoá, trẻ được rèn luyện và trau dồi các kỹ năng, giúp trẻ hình thành và phát triển tư duy,trí tuệ, giao tiếp xã hội và rèn luyện thể chất, thông qua các động ngoại khoá trẻ vừa chơi vừa học từ thế giới xung quanh mà không phải chỉ thu nạp kiến thức từ trường lớp. Hoạt động ngoại khóa có thể được tổ chức dưới nhiều dạng: dạng tập thể, dạng nhóm năng khiếu, dạng thường kì hay đột xuất trong những dịp kỉ niêm hay lễ hội. Hoạt động ngoại khóa có thể được tổ chức theo những hình thức: Câu lạc bộ môn học, đội nhóm, diễn đàn, trò chơi, hội thi.