Tổng quan nghiên cứu

Di sản âm nhạc dân tộc đóng vai trò then chốt trong việc bồi đắp căn cước văn hóa cho thế hệ trẻ, đặc biệt trong bối cảnh các dòng nhạc hiện đại đang chiếm lĩnh thị hiếu học đường. Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị Hát Then – một loại hình diễn xướng dân gian độc đáo của đồng bào Tày, Nùng – thông qua không gian giáo dục ngoại khóa tại Trường Trung học cơ sở Đồng Đăng, huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

Khảo sát tại địa bàn nghiên cứu trong năm học 2017 - 2018 ghi nhận toàn trường có 21 lớp với tổng số 635 học sinh, trong đó con em đồng bào Tày và Nùng chiếm tới 410 học sinh, tương đương hơn 60% quy mô người học. Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên gồm 51 người, với 43 giáo viên trực tiếp giảng dạy đạt tỷ lệ chuẩn hóa 100%, trong đó trình độ trên chuẩn chiếm 75%. Nhà trường sở hữu đội ngũ 3 giáo viên âm nhạc có trình độ Đại học Sư phạm, tạo nền tảng chuyên môn vững chắc. Tuy nhiên, việc thực hành Hát Then tại trường chủ yếu mang tính thời điểm, chỉ xuất hiện rải rác trong một vài tiết mục văn nghệ phong trào mà chưa hình thành quy trình sư phạm đồng bộ. Tần suất hoạt động ngoại khóa âm nhạc chỉ duy trì ở mức 1 lần mỗi tuần với thời lượng 60 phút vào cuối buổi chiều, dẫn đến tỷ lệ học sinh tham gia thực tế chỉ đạt khoảng 60%.

Mục tiêu trọng tâm của luận văn là thiết lập hệ thống biện pháp sư phạm khả thi nhằm đưa Hát Then vào hoạt động ngoại khóa một cách có hệ thống, nâng cao tỷ lệ tham gia của học sinh lên trên 85%, đồng thời phát triển năng lực cảm thụ âm nhạc cổ truyền và gìn giữ bản sắc văn hóa xứ Lạng cho học sinh trung học cơ sở vùng biên giới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết giáo dục âm nhạc truyền thống, lý thuyết phát triển tâm sinh lý lứa tuổi học sinh trung học cơ sở và lý luận tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/04/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Hệ thống khái niệm nòng cốt trong công trình bao gồm bốn nội hàm căn bản:

  • Dân ca: Di sản âm nhạc dân gian do nhân dân sáng tạo, mang tính truyền khẩu, có nhiều dị bản và phản ánh sâu sắc đời sống tâm linh, lao động sản xuất bản địa.
  • Giáo dục âm nhạc: Quá trình tác động có mục đích và hệ thống nhằm hình thành kiến thức, kỹ năng cảm thụ âm thanh và thẩm mỹ nghệ thuật cho người học thông qua hai kênh cơ bản là thính giác và thị giác.
  • Dạy học Hát Then: Hoạt động truyền thụ có định hướng giúp học sinh nắm vững nguồn gốc lịch sử, đặc trưng thi ca, cấu trúc giai điệu và thành thạo kỹ năng diễn xướng thực hành làn điệu Then kết hợp nhạc cụ Tính Tẩu và chùm Xóc nhạc.
  • Hoạt động ngoại khóa âm nhạc: Hình thức tổ chức giáo dục ngoài giờ chính khóa do nhà trường quản lý, tạo môi trường trải nghiệm thực tiễn nhằm củng cố và nâng cao 28 bài học hát trong chương trình chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng quy trình tiếp cận đa chiều, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận âm nhạc dân gian và khảo sát thực nghiệm sư phạm trong mốc thời gian năm học 2017 - 2018:

  • Nguồn dữ liệu và địa bàn khảo sát: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua phương pháp quan sát sư phạm, dự giờ trực tiếp các tiết học hát lớp 8A1 và 9A2, cùng hệ thống phiếu điều tra thị hiếu âm nhạc tại Trường Trung học cơ sở Đồng Đăng. Bên cạnh đó, nghiên cứu tiến hành khảo sát đối chiếu với mô hình ngoại khóa của Trường Trung học cơ sở Vĩnh Trại (thành phố Lạng Sơn) – đơn vị đạt chuẩn Quốc gia năm 2008 và nhận Huân chương Lao động hạng Ba năm 2009.
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích, tập trung toàn diện vào học sinh khối lớp 9 với quy mô gần 160 học sinh. Lý do lựa chọn đối tượng này xuất phát từ đặc điểm giọng hát thời kỳ quá độ sang tuổi thanh niên đã dần ổn định, sở hữu âm vực an toàn từ nốt la quãng tám nhỏ đến nốt rê quãng tám 2 (ký hiệu âm nhạc quốc tế: a - d2), có năng lực tiếp thu cấu trúc nhịp phách phức tạp và đủ khả năng kết hợp song song giữa hát và bấm ngón đàn Tính.
  • Phương pháp phân tích: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích hình thái âm nhạc để mổ xẻ cấu trúc thơ ca 5 chữ, 7 chữ, đối chiếu hệ thống thang 5 âm thuần nhất không bán âm (như điệu Mi Vũ trong bài Hít bjoóc, điệu Đô Cung trong bài Tàng bốc) và thang 5 âm đan xen thang 4 âm (như bài Then Cáo lão, Khảm hải). Kết quả được tổng hợp, so sánh định lượng nhằm bảo đảm độ tin cậy khoa học cao nhất.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực trạng và phân tích âm nhạc học đã mang lại những phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, nền tảng văn hóa bản địa của học sinh rất tiềm năng nhưng chưa được kích hoạt. Tỷ lệ học sinh là con em dân tộc Tày và Nùng chiếm tới 64,5% (410 trên tổng số 635 em). Phần lớn học sinh đã tiếp xúc với làn điệu Then từ độ tuổi mầm non thông qua gia đình và lễ hội cộng đồng, hình thành ký ức âm nhạc sâu sắc. Tuy nhiên, sự hiểu biết này hoàn toàn mang tính tự phát và thụ cảm thụ động.

Thứ hai, phương thức tổ chức ngoại khóa hiện hành bộc lộ nhiều hạn chế về mặt sư phạm. Khảo sát các buổi sinh hoạt ngoài giờ chỉ kéo dài 60 phút mỗi tuần với tỷ lệ chuyên cần đạt khoảng 60%. Khoảng 40% học sinh vắng mặt do lịch học 2 buổi trong ngày gây mệt mỏi về thể chất, kết hợp với phương pháp dạy hát đơn điệu truyền khẩu một chiều, thiếu hoạt động múa phụ họa và thiếu hẳn sự hỗ trợ của công nghệ số.

Thứ ba, sự thiếu hụt trang thiết bị nhạc cụ truyền thống làm gián đoạn hứng thú học tập. Việc dạy đàn Tính Tẩu chỉ duy trì được vài buổi đầu rồi phải dừng lại do 100% học sinh không có đàn riêng tại nhà và nhà trường chưa trang bị đủ đàn tập thể, khiến các buổi biểu diễn chỉ dùng đàn phím điện tử đệm thay thế, làm mất đi âm sắc mộc mạc đặc trưng của nghệ thuật Then.

Thứ tư, bài học đối chiếu từ mô hình Câu lạc bộ Âm nhạc Trường Trung học cơ sở Vĩnh Trại cho thấy việc duy trì câu lạc bộ bị gián đoạn sau khoảng 2 đến 3 tháng. Nguyên nhân chính là do nội dung thiếu phân tầng chuyên biệt, trùng lặp với các lớp năng khiếu tại Cung Thiếu nhi thành phố và xếp lịch sinh hoạt vào cuối buổi chiều gây áp lực tâm lý cho người học.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh rõ khoảng cách giữa nhu cầu thụ hưởng văn hóa truyền thống của học sinh và phương thức tổ chức giáo dục âm nhạc trong nhà trường hiện nay. Dữ liệu khảo sát có thể được tổng hợp trực quan thông qua bảng đối chiếu thực trạng giữa hai điểm trường:

Tiêu chí khảo sát Trường THCS Đồng Đăng Trường THCS Vĩnh Trại
Tỷ lệ học sinh dân tộc Tày, Nùng Hơn 60% (410/635 học sinh) Khoảng 15% - 20%
Tần suất ngoại khóa âm nhạc 1 lần/tuần (60 phút/buổi) Không duy trì đều đặn
Tỷ lệ học sinh tham gia Khoảng 60% tổng số học sinh Suy giảm mạnh sau 2 - 3 tháng
Thực trạng dạy nhạc cụ đàn Tính Tạm ngừng do thiếu nhạc cụ Chuyển dịch ra Cung Thiếu nhi

Nguyên nhân căn bản khiến việc dạy Hát Then chưa hiệu quả nằm ở việc áp dụng cứng nhắc phương pháp dạy học phân môn Học hát chính khóa (vốn gồm 28 bài theo khung chương trình chuẩn) sang không gian ngoại khóa. Khi giáo viên chỉ đóng vai trò truyền dạy giai điệu mà không phân tích bối cảnh huyền tích Lẩu Then, không giải mã hệ thống thang âm điệu thức độc đáo, học sinh sẽ nhanh chóng rơi vào trạng thái thụ động. Việc chuyển đổi mô hình sang hình thức Câu lạc bộ Hát Then chuyên sâu kết hợp thực hành đàn Tính và múa Then là bước đi tất yếu nhằm đưa di sản sống động trở lại trong đời sống học đường.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa việc đưa Hát Then vào trường học:

  • Thành lập và vận hành Câu lạc bộ Hát Then học đường: Ban Giám hiệu cùng tổ Nghệ thuật triển khai thành lập Câu lạc bộ Hát Then với quy mô ban đầu từ 30 đến 45 thành viên nòng cốt thuộc khối lớp 9. Lịch sinh hoạt được điều chỉnh sang sáng thứ Bảy hoặc các buổi chiều trống lịch học văn hóa, duy trì tần suất 2 buổi mỗi tuần (thời lượng 90 phút mỗi buổi) nhằm nâng tỷ lệ tham gia thường xuyên đạt trên 85% trong giai đoạn 2018 - 2020.
  • Trang bị cơ sở vật chất và hệ thống nhạc cụ đàn Tính Tẩu: Hội đồng trường phối hợp cùng Ban đại diện cha mẹ học sinh đầu tư kinh phí mua sắm tối thiểu 15 đến 20 cây đàn Tính Tẩu đạt chuẩn âm vang và 30 chùm Xóc nhạc phục vụ luyện tập tại chỗ trong năm học 2018 - 2019, chấm dứt tình trạng học chay không có nhạc cụ.
  • Đổi mới phương pháp giảng dạy tích hợp đa phương tiện và phân nhóm: Đội ngũ 3 giáo viên âm nhạc chuyên trách thực hiện số hóa bài giảng, ứng dụng phần mềm âm nhạc mô phỏng thang 5 âm thuần nhất và thang âm đan xen, kết hợp phương pháp dạy hát móc xích từng câu với động tác múa Then truyền thống. Giáo viên phân chia lớp thành các nhóm 4 đến 6 học sinh để tự luyện tập và phản biện, hoàn thiện quy trình giảng dạy mới trong vòng 6 tháng.
  • Tổ chức định kỳ hội diễn sân khấu hóa và giao lưu nghệ nhân: Nhà trường phối hợp cùng Đoàn Thanh niên và Đội Thiếu niên Tiền phong tổ chức định kỳ 1 hội thi Hát Then cấp trường mỗi học kỳ; mời các nghệ nhân Then dân gian tại địa phương đến giao lưu, truyền dạy kỹ thuật rung ngón đàn Tính, nâng tỷ trọng tiết mục dân ca trong các chương trình đại hội văn nghệ trường từ mức 10% lên tối thiểu 40%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường trung học cơ sở vùng miền núi: Cung cấp khung tài liệu tham khảo chuẩn mực để xây dựng kế hoạch giáo dục địa phương, thiết kế mô hình câu lạc bộ ngoại khóa và phân bổ nguồn lực trang thiết bị âm nhạc hợp lý tại 100% trường học vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Âm nhạc bậc trung học cơ sở: Cung cấp hệ thống giáo án mẫu, phương pháp phân tích thang âm điệu thức Then Tày - Nùng và kỹ thuật sư phạm hướng dẫn học sinh hòa tấu đàn Tính Tẩu kết hợp múa phụ họa trong tiết dạy thực hành.
  • Học viên cao học và sinh viên ngành Sư phạm Âm nhạc, Lý luận dạy học: Đóng vai trò là nguồn tài liệu học thuật chuyên sâu về phương pháp luận nghiên cứu âm nhạc dân gian ứng dụng, kỹ thuật chọn mẫu lứa tuổi và phương pháp khảo sát thực chứng trong môi trường sư phạm nghệ thuật.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian và cơ quan quản lý di sản: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực tế về hiện trạng tiếp biến văn hóa và thực hành diễn xướng Then trong thế hệ trẻ tại khu vực biên giới huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao luận văn lại lựa chọn đối tượng thực nghiệm chính là học sinh khối lớp 9? Lứa tuổi học sinh lớp 9 (khoảng 14 đến 15 tuổi) có cơ quan phát âm bước vào giai đoạn ổn định sau thời kỳ vỡ giọng, sở hữu âm vực chuẩn đẹp từ nốt la quãng tám nhỏ đến nốt rê quãng tám 2 (a - d2). Đồng thời, các em có tư duy thẩm mỹ phát triển, đủ khả năng tiếp thu các kỹ thuật ngón bấm đàn Tính phức tạp và cảm nhận được chiều sâu văn hóa trong các bài Then cổ.

  • Thang âm trong các bài Hát Then tại Lạng Sơn có những đặc trưng kỹ thuật gì nổi bật? Giai điệu Hát Then Lạng Sơn được cấu thành từ hai hệ thống điệu thức chính: hệ thống thang 5 âm không bán âm thuần nhất (tương ứng với các điệu Đô Cung trong bài Tàng bốc hoặc Mi Vũ trong bài Hít bjoóc) và hệ thống thang 5 âm đan xen thang 4 âm (như cấu trúc giai điệu trong bài Then Cáo lão từ nhịp 15 đến nhịp 24).

  • Đâu là nguyên nhân cốt lõi khiến hoạt động ngoại khóa âm nhạc tại THCS Đồng Đăng đạt hiệu quả chưa cao? Thực trạng thời lượng quá ngắn với 60 phút mỗi tuần vào cuối buổi chiều khiến học sinh mệt mỏi, kết hợp với việc thiếu hụt nhạc cụ đàn Tính Tẩu thực hành và giáo viên chủ yếu dùng phương pháp truyền khẩu một chiều, chưa ứng dụng công nghệ thông tin và thảo luận nhóm.

  • Nhà trường cần chuẩn bị số lượng trang thiết bị tối thiểu nào để vận hành Câu lạc bộ Hát Then? Cơ sở vật chất tối thiểu cần có gồm 1 phòng tập đa năng thoáng mát, 1 hệ thống máy chiếu hoặc màn hình tivi có kết nối máy tính, 1 bộ tăng âm loa đài, từ 15 đến 20 cây đàn Tính Tẩu chuẩn âm và khoảng 30 chùm Xóc nhạc truyền thống.

  • Giải pháp nào giúp khắc phục tình trạng học sinh giảm sút nhiệt tình tham gia câu lạc bộ sau vài tháng? Cần chuyển đổi lịch sinh hoạt sang ngày nghỉ cuối tuần với thời lượng 90 phút mỗi buổi, đa dạng hóa hình thức học tập thông qua trò chơi âm nhạc, lồng ghép động tác múa diễn xướng và tổ chức các sân chơi biểu diễn giao lưu thường xuyên với nghệ nhân Then dân gian.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về thể loại Hát Then, làm rõ nguồn gốc lịch sử, không gian diễn xướng và cấu trúc âm nhạc thang 5 âm đặc trưng của đồng bào Tày, Nùng xứ Lạng.
  • Công trình phản ánh chính xác thực trạng dạy học âm nhạc tại Trường Trung học cơ sở Đồng Đăng với quy mô 635 học sinh, chỉ ra các điểm nghẽn về thời lượng 60 phút mỗi tuần và tỷ lệ tham gia ngoại khóa chỉ đạt khoảng 60%.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp sư phạm mang tính đột phá, trọng tâm là mô hình Câu lạc bộ Hát Then kết hợp thực hành đàn Tính Tẩu và ứng dụng bài giảng số hóa.
  • Kế hoạch hành động trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung hoàn thiện bộ tài liệu giảng dạy Hát Then địa phương và trang bị đủ 20 cây đàn Tính cho phòng thực hành âm nhạc trước thềm năm học mới.
  • Việc đưa Hát Then vào học đường là giải pháp cấp thiết nhằm bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của dân tộc, các cơ sở giáo dục vùng cao cần nhanh chóng triển khai áp dụng mô hình để bồi đắp tình yêu quê hương cho thế hệ trẻ.