phần Mở đầu, Kết luận và Phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Bối cảnh và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu 5 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐÊ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm của đề tài 1. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL) Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đƣợc hiểu nhƣ sau: Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002) “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học của các môn học ở trên lớp. Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là sự tiếp nối hoạt động dạy – học trên lớp, là con đường gắn lí thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động của HS”; Theo Đặng Vũ Hoạt (1998) “Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học-kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hóa văn nghệ, thẩm mĩ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí,.
để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách (đạo đức, năng lực, sở trường…); Nhƣ vậy, HĐGDNGLL là hoạt động do nhà trƣờng tổ chức và quản lí với sự tham gia của các lực lƣợng xã hội. Nó đƣợc tiến hành tiếp nối hoặc xen kẽ hoạt động dạy – học trong nhà trƣờng hoặc trong phạm vi cộng đồng. Hoạt động này diễn ra trong suốt năm học và cả thời gian nghỉ hè để khép kín quá trình giáo dục, làm cho quá trình này đƣợc thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc. Hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐNGLL) Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu nhƣ Valentine, Cooper và DuBois (2010) thì HĐNGLL đƣợc hiểu theo nghĩa rộng hơn, gồm tất cả các hoạt động mà học sinh tham gia ngoài giờ học ở nhà trƣờng.
Các tác giả phân thành 6 nhóm hoạt động: (i) Làm bài tập về nhà; (ii) Làm việc có thu nhập; (iii) Tham gia các hoạt động ngoại khóa; (iv) Các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp có cấu trúc; (v) Các hoạt động phi cấu trúc với gia đình, bạn bè, ngƣời yêu; (vi) thời gian ngủ. 6 z Theo cách phân loại này, các nghiên cứu đi trƣớc đã chứng minh đƣợc sự tƣơng quan của từng yếu tố đối với thành tích học tập. Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm HĐNGLL với nội hàm bao gồm cả các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (hoạt động ngoài giờ học ở trƣờng có sự quản lý, tổ chức của nhà trƣờng, xã hội) và các hoạt động khác của HS ngoài trƣờng học. Tuy nhiên, do sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu thứ cấp nên tác giả không thể triển khai hết tất cả các khía cạnh của HDGDNGLL và HĐNGLL nhƣ theo phân loại trên.
Chúng tôi chỉ sử dụng các nhóm biến số có sẵn trong bộ dữ liệu PISA 2012 sẽ đƣợc trình bày trong chƣơng 2. Các khái niệm liện quan đến đề tài 1. Kết quả học tập Kết quả học tập của HS thƣờng dùng các từ tiếng Anh nhƣ “Achievement; Result; Learning Outcome”. Trong đó, “Achievement” có nghĩa là kết quả, thành tựu; sự đạt đƣợc, sự hoàn thành; “Result” có nghĩa là kết quả; “Learning Outcome” là KQHT.
Các từ này thƣờng đƣợc dùng thay khi nói về KQHT là “Learning Outcome”. Theo tác giả Nguyễn Lan Phƣơng (2011), để hiểu đúng khái niệm kết quả học tập trƣớc hết cần phân biệt mục đích giáo dục và mục tiêu giáo dục. Mục đích giáo dục là “cái đích tổng thể, cuối cùng và là ý định của nhà giáo dục”, tức là trả lời câu hỏi “để làm gì”. Ví dụ, giáo dục Việt Nam là nhằm “đào tạo con ngƣời phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tƣởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dƣỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Luật Giáo dục, 2005).
Còn mục tiêu giáo dục là “cái đích ở các giai đoạn riêng biệt mà ngƣời học phải đạt đƣợc trên con ngƣời tiếp cận dần đến cái đích tổng thể”, tức là trả lời cho câu hỏi “làm gì”. Kết quả học tập đƣợc coi nhƣ là thành công của ngƣời học thể hiện cụ thể ở những điều học sinh biết và làm đƣợc so với mục tiêu học tập. Kêt quả học tâp, mục đích, mục tiêu học tập có các đặc điểm tƣơng đồng. Tuy nhiên, kết quả học tập liên quan tới thành tích ngƣời học (biết những gì, hiểu nhƣ thế nào và làm đƣợc, vận dụng đến đâu).
Theo Thông tƣ quy định về Đánh giá định kỳ quốc gia KQHT của HS trong các cơ sở giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành đã đƣa ra quan 7 z niệm về KQHT nhƣ sau: "Kết quả học tập" là mức độ đạt đƣợc của HS về kiến thức, kỹ năng, năng lực so với mục tiêu đƣợc quy định trong chƣơng trình giáo dục phổ thông". Đánh giá Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Nhƣ Ý, đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị. Theo Từ điển Cambridge, Đánh giá là phân xử hoặc quyết định về khối lƣợng giá trị hoặc sự quan trọng của cái gì đó cụ thể hoặc sự phán quyết, hay quyết định về việc gì đó đã đƣợc thực hiện; hoặc Đánh giá là một ý kiến hay phán xét về ai đó/ cái gì đó sau khi đã đƣợc suy xét cẩn thận. Theo tác giả Trần Bá Hoành, Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả của công viêc, sự vào sự phân tích những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lƣợng, hiệu quả công việc.
Tổng hợp các nội hàm chính từ những định nghĩa trên thì đánh giá là “Quá trình thu thập thông tin, phân tích, xử lý thông tin để tìm ra các chỉ số về lƣợng, giá trị hoặc sự quan trọng của nó trong sự so sánh với các mục đích, mục tiêu đã đặt ra từ trƣớc, từ đó đƣa ra các ý kiến, phán xét, khuyến nghị nhằm giúp cải thiện, nâng cao chất lƣợng công việc”. Đánh giá kết quả học tập Theo Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc (1996), "Đánh giá KQHT là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng thực hiện mục tiêu học tập của HS, về tác động và nguyên nhân của tình hình đó nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sƣ phạm của giáo viên và nhà trƣờng, cho bản thân HS để họ học tập ngày một tiến bộ hơn". Theo đó, có thể thấy, đánh giá KQHT gồm 3 giai đoạn chính: (i) Thu thập thông tin phải thực hiện một cách có hệ thống, đúng phƣơng pháp; (ii) Thông tin cần đƣợc xử lý và phân tích đúng phƣơng pháp, kỹ thuật để giải thích hợp lý, khoa học hiện trạng, khả năng hay nguyên nhân của chất lƣợng giáo dục; 8 z (iii) Các ý kiến nhận xét, đánh giá phải gắn chặt với mục tiêu giáo dục, đƣa ra các hiện trạng, nâng cao chất lƣợng giáo dục 1. Năng lực Có nhiều khái niệm khác nhau về năng lực: Theo quan niệm trong chƣơng trình giáo dục phổ thông của Quebec - Canada, “năng lực là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định”.
Theo John Erpenbeck (1998) trong Nguyễn Công Khanh (2014) năng lực đƣợc xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc nhƣ là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí. Theo Weinert (2001) trong Nguyễn Công Khanh (2014), năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học đƣợc… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi. Theo Nguyễn Công Khanh (2014), “Năng lực của HS là một cấu trúc động (trừu tƣợng), có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội.
thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trƣờng học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội”. Đánh giá năng lực Theo Leen pil (2011) trong Nguyễn Công Khanh (2014) quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá KQHT không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá KQHT theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Đánh giá KQHT đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện KQHTcủa HS.
Hay nói cách khác, đánh giá năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa. 9 z Vậy, đánh giá năng lực là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra… nhƣng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kỹ năng, thái độ mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt hiệu quả. Đánh giá trên lớp học và đánh giá trên diện rộng Theo tác giả Nguyễn Lan Phƣơng (2011) nếu căn cứ vào phạm vi đối tƣợng đánh giá, có thể chia hệ thống đánh giá trong giáo dục phổ thông thành hai loại: đánh giá trên lớp học và đánh giá trên diện rộng. Đánh giá trên lớp học: Đánh giá trên lớp học là quá trình giáo viên thu thập thông tin trong từng bài học, hàng ngày, hàng tháng… phân tích và phản hổi thƣờng xuyên kết quả thu đƣợc để tìm hiểu xem HS đã học nhƣ thế nào, học đƣợc bao nhiêu, và có phản ứng nhƣ thế nào với cách giảng dạy của giáo viên.
Từ đó giáo viên điều chính hoạt động giảng dạy theo hƣớng nâng cao KQHT cho mỗi HS.