CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm sáng tạo, đặc điểm của sáng tạo Theo từ điển Tiếng Việt, sáng tạo là “Tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có” [19]. Từ điển Triết học định nghĩa sáng tạo “Là hoạt động của con người, tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần mới về chất’’[19]. Sigmund Freud, trong Phân tâm học cho rằng sáng tạo “cũng giống như giấc mơ hiện hình, là sự tiếp tục và sự thay thế trò chơi trẻ con cũ” [15; 54].
Theo Carl Roger “Người có tính linh hoạt, có khả năng chuyển đổi nhanh chóng các loại tư duy khác nhau tùy thuộc yêu cầu của tình huống là người sáng tạo”[19] Về vấn đề khái niệm sáng tạo, tác giả Nguyễn Huy Tú bình luận:“ Sáng tạo là một thuộc tính tâm lý đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề. Theo Đức Uy : “Người sáng tạo là người có tính mạo hiểm, như một đặc tính, phẩm chất hay nét tính cách mà ở người bình thường không hoặc ít khi biểu hiện”.[19] Tóm lại, bản chất của sáng tạo chính là tạo ra cái mới với những mức độ khác nhau, để phục vụ cho lợi ích cuộc sống và có sự tham gia của các quá trình tâm lý cá nhân. Đặc điểm của sáng tạo bao gồm: Dưới những luận điểm quen thuộc, dựa trên sự nhạy cảm của vấn đề, sáng tạo chính là quá trình nhận ra vấn đề mới. Với một đối tượng gần gũi và quen thuộc, sáng tạo nhận ra chức năng mới.
Sáng tạo là tìm ra quy luật ẩn chứa, nhận ra cấu trúc đối tượng. Một hay nhiều đối tượng được xem xét trên các góc độ, sáng tạo nhận ra các hướng giải quyết khác nhau và lựa chọn các giải pháp. Sáng tạo kết hợp các giải pháp cũ và các giải pháp mới. 8 Kiên định một mục đích để đạt được một kết quả dự kiến cũng là đặc điểm của sáng tạo.
Từ những phân tích về bản chất và đặc điểm tâm lý của sáng tạo, có thể thấy các thành phần cấu trúc của sáng tạo là: tính linh hoạt, mềm dẻo, độc đáo, cấu trúc, nhạy cảm và tính mở rộng áp dụng. Sáng tạo có nhiều cấp độ khác nhau, được phân loại dựa trên những tiêu chí khác nhau. Ví dụ, dựa trên giá trị của sản phẩm, sáng tạo ra các sản phẩm có giá trị khách quan (ý tưởng mới, những sáng kiến, phát minh, …) và những sản phẩm có giá trị chủ quan (có ý nghĩa đối với cá nhân tạo ra nó, như sự phát triển trí tuệ). Hoặc tiêu chí dựa trên tính chất của sản phẩm sáng tạo: sáng tạo biểu hiện, sáng tạo chế tạo, sáng tạo phát kiến, sáng tạo cải biến, sáng tạo trí tuệ đặc biệt.
Nguyễn Huy Tú cho rằng việc phân biệt các mức độ sáng tạo có ý nghĩa rất quan trọng trọng việc giáo dục và đào tạo con người. Ông đã phân chia sáng tạo thành năm mức độ sau: 1. “Sáng tạo biểu hiện: là mức sáng tạo cơ bản nhất không đòi hỏi kĩ năng quan trọng nào. Sáng tạo chế tạo: là mức sáng tạo cao hơn sáng tạo biểu hiện.
Nó đòi hỏi những kĩ năng nhất định (kĩ năng xử lý thông tin hoặc kĩ năng kĩ thuật). Sáng tạo phát kiến: Đó chính là sự đề xuất sáng kiến hay phát kiến. Nó có đặc trưng là sự phát hiện hoặc tìm ra các quan hệ mới dựa vào cách sắp xếp các thông tin trước đây. Sáng tạo cải biến: Đây là mức sáng tạo cao.
Nó thể hiện sự hiểu biết sâu sắc các kiến thức khoa học hoặc các kiến thức chuyên môn. Sáng tạo phát minh: là mức độ sáng tạo cao nhất, có đặc trưng là tạo ra những sản phẩm vật chất hay tinh thần hoàn toàn mới, những cách thức hành động chưa từng có trong kinh nghiệm”. [19, tr16] 9 Theo nhận định của tác giả, sáng tạo của học sinh tiểu học chủ yếu ở cấp độ đầu tiên: sáng tạo biểu hiện. Đồng thời cũng có những biểu hiện của sáng tạo chế tạo và sáng tạo sáng kiến, ý tưởng, phát minh (mức độ 2 và 3).
Trong tâm lý học, điều kiện để bồi dưỡng và phát triển sáng tạo “được quan tâm như những điều kiện ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển tâm lý - nhân cách”[15. Quan niệm về viết sáng tạo Dựa vào khái niệm sáng tạo, viết sáng tạo là viết ra những điều mới mẻ, và tạo ra sản phẩm riêng biệt, không giống các sản phẩm đã được tạo ra bởi người khác trước đó, cả trên phương diện hình thức và nội dung. Về mặt hình thức, viết sáng tạo thể hiện qua cách sử dụng ngôn từ, sử dụng ý, đặt câu và dấu câu. Về mặt nội dung, tùy vào từng kiểu bài, loại văn bản để xác định mức độ sáng tạo của người viết và biểu hiện qua những yếu tố nào.
Nói cách khác, viết sáng tạo là diễn tả suy nghĩ ,cảm xúc, ý tưởng, trí tưởng tượng của người viết một cách có ý thức, được thúc đẩy bởi nhu cầu “thể hiện”. Theo Idress Pate, việc viết bằng sự sáng tạo của trí tuệ, trên bất kỳ dạng viết nào (tiểu thuyết, thơ, truyện, văn học hư cấu…) để thể hiện cảm nhận, suy nghĩ, cảm xúc là viết sáng tạo. Theo tác giả Trần Thị Hiền Lương, “viết sáng tạo khuyến khích người học và giúp họ phát triển kĩ năng sáng tác, khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo…những kiểu viết sáng tạo phổ biến trong nhà trường bao gồm kể chuyện, miêu tả và viết tranh luận” [6; tr. Theo quan điểm của tác giả Chu Thị Hà Thanh “yêu cầu viết sáng tạo là một khâu quan trọng trong các yếu tố của quá trình đổi mới môn Tiếng Việt theo hướng phát triển năng lực và nó được biểu hiện tập trung ở phân môn tập làm văn.” [3; tr497] Viết sáng tạo trong môn Tiếng Việt là một trong những xu hướng hiện đại, giúp hình thành cho học sinh năng lực sáng tạo, đây là năng lực quan trọng khi đối diện với thách thức và sự thay đổi của cuộc sống hiện đại.
Thay 10 vì viết rập khuôn, máy móc, theo “văn mẫu”, học sinh đòi hỏi cần có ý tưởng và biết cách đưa ý tưởng vào bài viết. Đồng thời giúp học sinh có ý thức về sự suy nghĩ, kết hợp với kiến thức để đưa ra các sản phẩm tinh tế. Viết sáng tạo không chỉ đem đến những trải nghiệm sâu sắc trong thế giới của sáng tạo, mà còn khơi dậy hứng thú và đam mê. Đặc điểm tâm lí, tư duy của học sinh tiểu học Độ tuổi học sinh tiểu học từ 7-10 tuổi, bước ngoặt quan trọng trong đời sống của độ tuổi này là việc đến trường, thực hiện hoạt động học tập.
Đây được xem là nhiệm vụ quan trọng nhất để tích lũy kiến thức. Tại đây, các mối quan hệ xã hội của trẻ được mở rộng, không chỉ là mối quan hệ trong gia đình nữa mà thêm quan hệ với thầy cô giáo và bạn bè [17; tr. Theo quan điểm của Tâm lý học, thời điểm đi học là bước ngoặt quan trọng với trẻ, trong việc phát triển và hoàn thiện các cấu trúc tâm lý con người, tuy hoạt động chính là vui chơi và thực hiện nghĩa vụ xã hội mới là hoạt động học tập nghiêm túc. Về mặt tư duy, trẻ phát triển từ những biểu tượng về sự vật sang những khái niệm khoa học về sự vật.
Từ đây trẻ sẽ có những trải nghiệm mới lạ, chưa từng có trong 6 năm đầu đời. Giai đoạn này, não bộ của trẻ đạt khoảng 90% so với trọng lượng não của người lớn, thùy trán phát triển mạnh, não bộ đang tiếp tục hoàn thiện về mặt cấu trúc và chức năng các tế bào não phát triển về cấu tạo, kích thước và phân hóa chức năng. Hệ thống liên hệ thần kinh phức tạp đã hình thành nhưng chưa vững chắc, vỏ não chưa điều khiển được hoàn toàn phần dưới vỏ. Vì vậy, trẻ thường dễ nhớ, nhanh quên và khó kiểm soát cảm xúc, hiếu động, ức chế phát triển gần như cân bằng với hưng phấn.
Ngôn ngữ của trẻ đã phát triển cả về số lượng và chất lượng, ngôn ngữ vượt ra khỏi phạm vi những từ sinh hoạt, cụ thể bước đầu tiến đến những khái niệm khoa học, trừu tượng. Việc diễn đạt ý nghĩ của mình được phát triển nhờ việc học viết đúng chính tả, đúng ngữ pháp. 11 Đặc điểm tri giác giai đoạn này của trẻ mang tính trực quan và cảm xúc. Việc hướng dẫn trẻ kỹ năng nhìn cần kết hợp với xem xét sự vật, phát hiện những thuộc tính bản chất của sự vật hiện tượng.
Tri giác, thái độ của học sinh tiểu học còn mang tính trực quan và mang tính cảm xúc nhiều. Vì vậy trong quá trình dạy học giáo viên không chỉ dạy trẻ kỹ năng nhận biết mà còn phải biết xem xét tìm hiểu sự vật, phát hiện ra những tính chất của sự vật hiện tượng. Chú ý có chủ định chưa cân bằng với chú ý không chủ định, mục tiêu thu hút sự chú ý của trẻ là những kích thích có cường độ mạnh. Tất nhiên, chú ý có chủ định đang trên đà phát triển bởi sự tác động của ngôn ngữ, tri thức và tư duy.
Nhưng sự di chuyển chú ý nhanh vì quá trình hưng phấn và ức chế linh hoạt và nhạy cảm. Khả năng chú ý, tính bền vững của sự tập trung chú ý phụ thuộc vào nhịp độ học tập. Trí nhớ hình tượng phát triển hơn trí nhớ từ ngữ và logic. Ví dụ, trẻ nhớ sự vật hiện tượng cụ thể chính xác hơn, nhanh hơn so với những khái niệm hay giải thích.
Tuổi từ 7-9 thường có xu hướng ghi nhớ bằng cách lặp đi lặp lại mà chưa thực sự hiểu được những mối liên hệ và ý nghĩa của sự việc. Điều đó thể hiện trong việc trẻ học thuộc tài liệu máy móc mà chưa thể diễn đạt theo lời lẽ của mình. Piage :“ Trẻ trong độ tuổi từ 7-10 tư duy còn ở giai đoạn những thao tác cụ thể. Tư duy của trẻ vẫn còn mang tính trực quan cụ thể, chưa nhận thức được ý nghĩa của giả thiết “nếu’’.
Cụ thể, trẻ chưa có khả năng suy luận từ giả định để rút ra kết luận. Quá trình học tập giúp trẻ chuyển từ nhận thức các bề ngoài của sự vật, hiện tượng đến nhận thức thuộc tính và bản chất của sự vật, hiện tượng. Đó là tiền đề của so sánh, khái quát, suy luận cơ bản. Ở độ tuổi học sinh tiểu học, năng lực trừu tượng hóa và khái quát hóa đang dần phát triển, nhưng chưa đầy đủ.