Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH CHO GIÁO VIÊN THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 Ở CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ VÀ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Ở các nước trên thế giới Các tác giả Hannele Niemi và Ritva Jakku-Sihvonen đã mô tả chi tiết và có những phân tích thuyết phục về những thay đổi quan trọng trong cấu trúc, nội dung chương trình BDGV để nâng cao chất lượng giáo dục ở Phần Lan. Một số tác giả khác như: A.Mertler, Marzano lại đi sâu nghiên cứu và đã đề xuất các biện pháp hình thành NLDH cho GV.
Tác giả Marzano đã đưa ra một số định hướng như trong tiết học, GV phải biết sơ đồ hóa kiến thức, khắc sâu những kiến thức trọng tâm; thúc đẩy sự hợp tác của HS. Chương trình Nâng cao chất lượng đào tạo huấn luyện viên (trainers) và GV của mạng lưới Chính sách Đào tạo GV châu Âu (ENTEP) đã nhận định người GV cần được trang bị những NL mới. Đó là khả năng sử dụng IT có hiệu quả; tăng cường chuyên môn hóa và trách nhiệm cá nhân đối với phát triển chuyên môn [22]. Báo cáo của ENTEP trong hội thảo tổ chức tại Brussels vào tháng 6/2005 đã thông qua bản đề cương Những nguyên tắc chung về trình độ và năng lực GV ở Châu Âu, tập trung vào các nguyên tắc: GV phải được trang bị nền tảng nghề nghiệp tốt; GV là nghề nghiệp mang tính cơ động và phải được BD để tiếp tục phát triển chuyên môn [22].
Cùng với quan điểm này, ở bang Quebec (Canada), các nhà nghiên cứu đã trình bày bộ tiêu chuẩn NL GV; đặt ra vấn đề đổi mới quan niệm về đào tạo, BDGV; đề xuất thiết kế các chương trình BDGV [22]. Ở Anh, Hoa Kỳ và Thái Lan CNN GV là cơ sở định hướng cho quá trình phát triển nghề nghiệp liên tục cho GV, được thể hiện rõ nhất trong thực tiễn [7]. Có thể thấy, các công trình nghiên cứu ở nước ngoài đã đề cập nhiều đến nội dung BD với những yêu cầu cụ thể. Mục đích của các công trình đó là nhằm mục tiêu BD kiến 7 thức chuyên môn, kiến thức khoa học, kĩ năng dạy học… để phát triển các NLDH cần thiết cho GV.
Theo Hannele Niemi và Ritva JakkuSihvonen [23], lí do cơ bản dẫn đến thành công của hệ thống GD Phần Lan (có thành tích cao nhất trong nhiều kỳ thi PISA) là do Phần Lan đã quyết định nâng chuẩn trình độ GV phổ thông lên trình độ thạc sĩ và mọi GV có nghĩa vụ và quyền hạn phải không ngừng học tập, phát triển chuyên môn. Công trình nghiên cứu về đào tạo GV tiểu học và trung học ở 6 quốc gia Đông Âu của y ban Văn hóa và Giáo dục thuộc Liên minh châu Âu cũng xác định trong công cuộc đổi mới GD, việc BDGV cần phải được chú trọng, phải có kế hoạch lâu dài cho công tác BDGV ở giai đoạn tiếp nối [24]. Luật nhà trường của bang Brandenburg, Cộng hoà Liên bang Đức [7] quy định rõ GV phải có nghĩa vụ tham gia BD, thường xuyên cập nhật kiến thức và đưa vào những biện pháp đào tạo nâng cao NL chuyên môn. Chương trình BDGV có ở ba cấp quản lý: Cấp nhà nước, cấp địa phương và chương trình BD tại các nhà trường.
Cuốn sách của trung tâm Nghiên cứu và Đổi mới giáo dục, OECD, 1998 [26] đã rút ra kết luận “Các chính sách đổi mới GD sẽ không đem lại hiệu quả nếu bản thân người giáo viên không thay đổi”. Cuốn sách cũng nêu những kinh nghiệm thực tiễn điển h nh của 8 quốc gia trong BDGV, ví dụ như: phát triển những ý tưởng BD hoàn toàn mới của Đức; coi BDGV là nhiệm vụ ưu tiên của Ireland; khắc phục những rào cản do quan niệm lỗi thời, cứng nhắc trong BDGV ở Luc-xăm-bua; BDGV hướng tới sự chuẩn mực, xuất sắc và có kiểm định ở Hoa Kỳ… Tóm lại, đã có một số chính sách và công trình nghiên cứu về công tác QL BD đội ngũ GV ở tầm vĩ mô đề cập tới những vấn đề quan trọng như: quy định cụ thể việc BD là nghĩa vụ của người GV, GV phải có nhiệm vụ BD kiến thức, NL suốt đời; cần nâng chuẩn trình độ GV phổ thông. Đó là những tiếp cận đúng và đang được các nhà nghiên cứu tiếp tục kế thừa và triển khai.việc điều hành công tác BD đội ngũ GV cần chú ý đầu tiên đến việc lập kế hoạch BD.Xukhomlinski [20], để tổ chức hoạt động dạy và học nói chung và BDGV trong trường trung học nói riêng một cách hiệu quả, ngay trước khi bước 8 vào năm học nhà trường phải lập kế hoạch hết sức cụ thể và chi tiết: Phân công trách nhiệm cụ thể của Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng; Xác định những công việc cụ thể của mỗi thành viên trong Ban giám hiệu; Xác định thời lượng thực hiện mỗi công việc đã được đề ra. Theo Denise Beutel và Rebecca Spooner-Lane, (Úc) [26], hiệu trưởng, các phó hiệu trưởng, trưởng bộ môn, GV có kinh nghiệm trong trường trung học sẽ là lực lượng nòng cốt tham gia vào quá trình kèm cặp, giúp đỡ những đồng nghiệp [26].
Các nước Anh, Hoa Kỳ, Thái Lan cũng rất quan tâm đến sử dụng các GV có kinh nghiệm, có trình độ nghề nghiệp cao để hướng dẫn, tư vấn cho các GV mới [7]. Ở Việt Nam Trong suốt các giai đoạn phát triển kinh tế xã hội ở nước ta, vấn đề BD cán bộ luôn luôn được chú trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”. Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Người đã quan tâm xây dựng một nền giáo dục toàn dân, chú trọng xây dựng đội ngũ giáo viên, từng bước đủ về số lượng và đảm bảo chất lượng để phục vụ sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp cách mạng của Đảng.
Các Nghị quyết Đại hội Đảng IV, V, đặc biệt là đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã tạo đà cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có giáo dục. Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về các lĩnh vực văn hóa - giáo dục, BDGV. Các tạp chí, tập san, chuyên san, báo Giáo dục thời đại xuất hiện ngày càng nhiều và càng phong phú về nội dung vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tuy vậy, những vấn đề lý luận về BDGV vẫn chưa được thể hiện rõ nét, ít có các công trình nghiên cứu, đây là một vấn đề cần phải được làm sáng tỏ hơn về lý luận và thực tiễn.
Các văn bản của Chính Phủ đã ban hành như: Chỉ thị số 18/2001/CT-TTg [16], Quyết định số 09/2005/QĐ-TTg [17] đều nhấn mạnh vào định hướng cho việc xây dựng đội ngũ giáo viên THPT theo phương châm đào tạo kết hợp với sử dụng; BDGV trên cơ sở đề cao việc tự BD và tự học của giáo viên, nâng cao chất lượng 9 ĐNNG và cán bộ quản lý giáo dục được ban hành đã định hướng và tạo hành lang pháp lý cho việc xây dựng, BDGV trong đó có giáo viên dạy tiếng Anh ở các trường THCS theo hướng chuẩn hóa, đồng bộ và từng bước hiện đại hóa đặt ra những yêu cầu mới vừa cấp bách, vừa lâu dài. Các văn bản do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành như: văn bản số 2653/ BGDĐT-GDTrH [4]; Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT [2]; Thông tư số 17/2019/TT-BGDĐT [3] đã nhấn mạnh năng lực ngoại ngữ mà giáo viên phải đạt; chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông với các mục tiêu cụ thể về bồi dưỡng năng lực cho giáo viên nói chung và giáo viên THCS, THPT nói riêng. Các biện pháp bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng năng lực dạy học môn tiếng Anh ở các trường THCS, THPT có thể kể đến: - Tác giả Vũ Văn Hoa (2010), Luận văn “Biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Anh ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu đã đưa ra thực trạng định hướng chỉ đạo công tác bồi dưỡng GV dạy tiếng Anh ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh; nhận thức về ý nghĩa và sự cần thiết của công tác bồi dưỡng giáo viên dạy tiếng Anh; thực hiện chương trình, sách giáo khoa; hình thức bồi dưỡng; phương pháp kiểm tra, đánh giá; đưa ra thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh và điểm yếu; từ đó đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV tiếng anh ở trường THPT tỉnh Quảng Ninh.
[9] - Tác giả Nguyễn Ngọc Vĩnh (2016), Luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng anh cấp THCS ở huyện Đoan Hùng - tỉnh Phú Thọ theo đề án dạy và học ngoại ngữ 2020”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học sư phạm Thái Nguyên. Kết quả nghiên cứu đã phân tích thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên tiếng anh cấp THCS như phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên tiếng anh cấp THCS; nhận thức; phương pháp;… Công tác quản lý gồm hoạt động như định hướng chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng GV tiếng Anh các trường THCS; thực trạng bồi dưỡng GV tiếng Anh cấp THCS ở huyện Đoan Hùng theo đề án dạy và học ngoại ngữ 2020; đánh giá thuận lợi, khó khăn, điểm mạnh và điểm yếu; 10 từ đó đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng GV tiếng anh cấp THCS huyện Đoan Hùng theo đề án dạy và học ngoại ngữ 2020. [21] - Tác giả Nguyễn Ngọc Sơn (2017) với đề tài luận văn “Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THPT môn tiếng anh đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ trên địa bàn tỉnh Điện Biên”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng bồi dưỡng giáo viên THPT môn tiếng anh đạt chuẩn năng lực ngoại ngữ qua yêu cầu, nội dung, năng lực giáo viên.
Đồng thời nêu được mô hình CIPO trong quản lý hoạt động bồi dưỡng GV môn tiếng anh, đề xuất 5 biện pháp phù hợp với địa bàn.